In bài viết

Quy chế làm việc của Chính phủ

(Chinhphu.vn) - Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã ký Nghị định 191/2026/NĐ-CР ngày 29/5/2026 ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ.

31/05/2026 13:27
Quy chế làm việc của Chính phủ- Ảnh 1.

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng chủ trì phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 4/2026 - phiên họp Chính phủ thường kỳ đầu tiên của Chính phủ khóa XVI

Quy chế này quy định nguyên tắc làm việc; chế độ trách nhiệm; quan hệ công tác; trình tự, thủ tục giải quyết công việc; chương trình công tác; chế độ thông tin, báo cáo và các nội dung liên quan đến hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và thành viên Chính phủ.

Quy chế này áp dụng đối với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, thành viên Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (sau đây gọi là các bộ, cơ quan, địa phương) và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có quan hệ công tác với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Nguyên tắc làm việc của Chính phủ

1. Mọi hoạt động của Chính phủ phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Chính phủ làm việc theo chế độ kết hợp giữa trách nhiệm của tập thể Chính phủ với trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ và từng thành viên Chính phủ. Chính phủ quyết định theo nguyên tắc đa số đối với các vấn đề thuộc thẩm quyền.

2. Đề cao trách nhiệm cá nhân, nêu gương của thành viên Chính phủ, người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ. Mỗi nhiệm vụ chỉ giao cho một cơ quan chủ trì, chịu trách nhiệm chính, cơ quan có liên quan phối hợp thực hiện.

3. Bảo đảm giải quyết công việc đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật và Quy chế này; tăng cường phối hợp công tác, trao đổi thông tin, bảo đảm thống nhất trong xử lý công việc.

4. Thực hiện phân công, phân cấp, ủy quyền theo quy định pháp luật gắn với cá thể hóa trách nhiệm, tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực; bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, quản lý thống nhất của Chính phủ.

5. Thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương hành chính; thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, bảo đảm cấp dưới phục tùng, chấp hành sự lãnh đạo, chỉ đạo, phân công của cấp trên.

6. Bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong tổ chức và hoạt động của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương theo quy định pháp luật; tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội tham gia, giám sát, đóng góp trong xây dựng, thực hiện chính sách, pháp luật.

7. Khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám tham mưu, dám chịu trách nhiệm, đề xuất những vấn đề mới có tính chất phức tạp, vì lợi ích chung.

8. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị dựa trên dữ liệu, dữ liệu thời gian thực trong chỉ đạo, điều hành; xây dựng nền hành chính thống nhất, thông suốt, liên tục, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phục vụ Nhân dân.

Trách nhiệm, phạm vi, cách thức giải quyết công việc của Chính phủ

Chính phủ thống nhất quản lý nền hành chính quốc gia; thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định pháp luật.

Chính phủ quyết nghị các nội dung thuộc thẩm quyền theo một hoặc cả hai hình thức sau đây: a) Thảo luận và quyết nghị tại phiên họp Chính phủ; b) Quyết nghị bằng phiếu lấy ý kiến thành viên Chính phủ hoặc hình thức văn bản khác.

Quyết định của Chính phủ phải được quá nửa tổng số thành viên Chính phủ biểu quyết tán thành. Trường hợp số phiếu biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo ý kiến mà Thủ tướng Chính phủ đã biểu quyết.

Chính phủ phân công Thủ tướng Chính phủ hoặc Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách lĩnh vực thay mặt Chính phủ xem xét, quyết định những vấn đề cấp bách cần phải xử lý gấp thuộc thẩm quyền của Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ hoặc Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được giao nhiệm vụ báo cáo tại phiên họp Chính phủ gần nhất về những vấn đề đã quyết định.

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thực hiện phân cấp, ủy quyền theo quy định pháp luật, bảo đảm phù hợp với nguyên tắc phân định thẩm quyền gắn với điều kiện bảo đảm thực hiện, trách nhiệm giải trình và kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực theo quy định pháp luật.

Thành viên Chính phủ có trách nhiệm thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật; chủ động, tích cực tham gia giải quyết công việc chung của Chính phủ; thảo luận, biểu quyết và chịu trách nhiệm về các quyết định của Chính phủ; chịu trách nhiệm toàn diện, mọi mặt trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và pháp luật đối với các nội dung được phân cấp, ủy quyền.

Những vấn đề Chính phủ thảo luận và quyết nghị

1. Các đề xuất, dự án, dự thảo văn bản trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo quy định pháp luật, bao gồm: định hướng lập pháp nhiệm kỳ, chương trình lập pháp hằng năm và việc điều chỉnh chương trình lập pháp; đề xuất chính sách; dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết và các văn bản khác theo quy định pháp luật.

2. Chính sách và văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Chính phủ.

3. Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, trung hạn và hằng năm; kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm; kế hoạch vay, trả nợ công 5 năm; kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia; dự toán ngân sách nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương hằng năm; quyết toán ngân sách nhà nước và các nội dung khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ hoặc trình cấp có thẩm quyền theo quy định pháp luật.

4. Đề án về cơ cấu tổ chức của Chính phủ; việc thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ; việc thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính theo quy định pháp luật để trình cấp có thẩm quyền quyết định.

5. Tình hình kinh tế - xã hội định kỳ hằng tháng, hằng quý, 06 tháng, cả năm hoặc những vấn đề quan trọng, đột xuất và những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

6. Chính sách phát triển ngành, lĩnh vực, vùng, địa phương thuộc thẩm quyền của Chính phủ theo quy định pháp luật.

7. Việc tạm ngưng hiệu lực, đình chỉ, bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Chính phủ theo quy định pháp luật.

8. Kiểm điểm công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và việc thực hiện Quy chế làm việc của Chính phủ.

9. Những vấn đề khác mà pháp luật quy định Chính phủ phải thảo luận và quyết nghị hoặc do Thủ tướng Chính phủ quyết định đưa ra thảo luận.

Quan hệ công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, cơ quan, địa phương tổ chức triển khai thực hiện các nghị quyết, quyết định, kết luận, quy định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Đảng uỷ Chính phủ theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước.

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các thành viên Chính phủ tham mưu cho Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ của Chính phủ, thể chế hoá, cụ thể hoá, tổ chức thực hiện kịp thời các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng và thực hiện chế độ báo cáo theo chức năng, nhiệm vụ và Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ. Định kỳ hằng tháng, quý hoặc khi cần thiết, Chính phủ, Thường trực Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ họp với Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, tập thể Thường trực Đảng ủy Chính phủ để thống nhất về các chủ trương, định hướng lớn, các đề án, nội dung quan trọng theo Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ.

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ phối hợp chặt chẽ với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội; thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo, giải trình, trả lời chất vấn theo quy định pháp luật; chủ động nghiên cứu, giải quyết và trả lời kiến nghị của đại biểu Quốc hội, cử tri theo thẩm quyền.

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn; tạo điều kiện để các tổ chức này tham gia xây dựng chính sách, pháp luật, giám sát và phản biện xã hội theo quy định pháp luật; có trách nhiệm nghiên cứu, giải quyết và trả lời các kiến nghị của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.

Chính phủ lãnh đạo công tác của Ủy ban nhân dân các cấp; hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân các cấp trong việc thực hiện Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp của các nghị quyết của Hội đồng nhân dân; tạo điều kiện để Hội đồng nhân dân thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật; xem xét, giải quyết kịp thời các kiến nghị của chính quyền địa phương và cử tri.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ phân cấp cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền ở địa phương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp với khả năng và điều kiện thực tiễn của địa phương. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ sau khi nhận được nội dung đề xuất của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền ở địa phương có trách nhiệm xem xét, giải quyết; trường hợp không đồng ý thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Quan hệ công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ thiết lập và duy trì mối quan hệ công tác với các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp theo quy định pháp luật; tạo điều kiện để các tổ chức này tham gia tham vấn, góp ý, phản biện xã hội đối với chủ trương, chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; kịp thời tiếp nhận, nghiên cứu, giải trình, tiếp thu các ý kiến, kiến nghị xác đáng.

Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong tuyên truyền, vận động, hỗ trợ thực thi chính sách, pháp luật; tham gia giám sát, phản hồi việc thực hiện; tăng cường trao đổi thông tin, đối thoại để nắm bắt kịp thời ý kiến xã hội, góp phần nâng cao chất lượng xây dựng và hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật.

Công khai, minh bạch, cung cấp thông tin và trách nhiệm giải trình

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ, các thành viên Chính phủ thực hiện công khai, minh bạch trong hoạt động; có trách nhiệm cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời về chủ trương, chính sách, quyết định và kết quả chỉ đạo, điều hành theo quy định pháp luật.

Việc công khai, cung cấp thông tin được thực hiện chủ yếu thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, cổng thông tin điện tử, nền tảng số và các hệ thống thông tin được kết nối, liên thông, bảo đảm thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận, khai thác và sử dụng thông tin.

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ, các thành viên Chính phủ chủ động tiếp nhận, xử lý, phản hồi ý kiến, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp và xã hội theo quy định của pháp luật; kịp thời nhận diện vấn đề, có phản ứng chính sách nhanh nhạy, phù hợp với diễn biến thực tiễn.

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ là người phát ngôn của Chính phủ; chủ trì cung cấp thông tin về hoạt động của Chính phủ, tổ chức họp báo và thực hiện các hình thức công bố thông tin theo quy định. Các bộ, cơ quan, địa phương có trách nhiệm phối hợp, cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, cử lãnh đạo bộ, cơ quan tham dự họp báo, trực tiếp trả lời và chịu trách nhiệm cung cấp thông tin kịp thời về các nội dung thuộc phạm vi chuyên ngành của mình.

Xử lý các trường hợp không thực hiện đúng Quy chế

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, kịp thời các quy định tại Quy chế này, kỷ luật, kỷ cương hành chính, các quyết nghị, quyết định, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ và không được phát ngôn, làm trái các quyết nghị, quyết định, chỉ đạo này; trường hợp có ý kiến khác thì vẫn phải chấp hành nhưng được trình bày với cấp quyết nghị, quyết định, chỉ đạo và được bảo lưu ý kiến. Tùy theo tính chất, mức độ, hậu quả của việc không thực hiện đúng các quy định trên, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm tự kiểm điểm, phê bình và có báo cáo giải trình gửi Thủ tướng Chính phủ; việc công khai kết quả thực hiện theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo kiểm điểm, xử lý các trường hợp không thực hiện đúng quy định tại Quy chế này của các đơn vị, cá nhân liên quan, công khai kết quả xử lý trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ và Cổng thông tin điện tử của các bộ, cơ quan, địa phương liên quan.

Văn phòng Chính phủ tổng hợp, báo cáo và đề xuất kiến nghị xử lý các trường hợp không thực hiện đúng quy định tại Quy chế này, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định và công khai trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, Cổng thông tin điện tử của các bộ, cơ quan, địa phương liên quan.