In bài viết

Quy định về cấp Giấy chứng nhận đất giao trái thẩm quyền

(Chinhphu.vn) - Mẹ của ông Nguyễn Văn Hậu (Bắc Ninh) mua đất của thôn năm 1993, đã xây nhà cấp 4 năm 1994.

19/06/2026 07:01

Năm 2002, thanh tra tỉnh ra quyết định trong đó có nội dung đề nghị UBND tỉnh thu hồi lô đất thôn và xã cấp cho nhà ông Hậu để trả lại hành lang điện.

Năm 2004, phường đến làm việc với mẹ ông Hậu, yêu cầu tự nguyện tháo dỡ ngôi nhà theo quyết định trên nhưng mẹ ông không đồng ý. Đến nay gia đình ông vẫn sử dụng ngôi nhà ổn định, không tranh chấp với ai và không có quyết định thu hồi nào của tỉnh.

Nay mẹ ông Hậu muốn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì hồ sơ bị trả lại với lý do, nhà ông vi phạm pháp luật đất đai theo Điều 139 Luật Đất đai.

Ông Hậu hỏi, nhà ông có vi phạm pháp luật đất đai không, vì nhà ông không lấn chiếm mà là mua của thôn, xã có phiếu thu đóng tiền đầy đủ?

Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời vấn đề này như sau:

Do nội dung phản ánh của ông không rõ, không có hồ sơ đầy đủ nên Bộ Nông nghiệp và Môi trường xin trả lời về nguyên tắc như sau:

Luật Đất đai năm 1993 và 2013 quy định cấp xã không có thẩm quyền giao đất và bán đất để sử dụng vào mục đích xây dựng nhà ở.

Trường hợp ông phản ánh có thể thuộc trường hợp giao đất trái thẩm quyền.

Trường hợp giao đất trái thẩm quyền thì việc cấp Giấy chứng nhận được thực hiện theo quy định tại Điều 140 Luật Đất đai năm 2024:

"Điều 140. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được giao không đúng thẩm quyền

Đất được giao không đúng thẩm quyền cho hộ gia đình, cá nhân theo quy định của pháp luật về đất đai tại thời điểm được giao hoặc sử dụng đất do mua, nhận thanh lý, hóa giá, phân phối nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất không đúng quy định của pháp luật thì việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được thực hiện như sau:

1. Trường hợp đất đã được sử dụng ổn định trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp thì người đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với diện tích đất đã được giao theo quy định tại khoản 2 và khoản 6 Điều 138 của Luật này;

2. Trường hợp đất đã được sử dụng ổn định từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện hoặc quy hoạch chung hoặc quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch xây dựng hoặc quy hoạch nông thôn thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định tại khoản 3 và khoản 6 Điều 138 của Luật này;

3. Trường hợp đất đã được sử dụng ổn định từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện hoặc quy hoạch chung hoặc quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch xây dựng hoặc quy hoạch nông thôn thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất như sau:

a) Đối với thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống nếu diện tích thửa đất bằng hoặc lớn hơn hạn mức giao đất ở quy định tại khoản 2 Điều 195 và khoản 2 Điều 196 của Luật này thì diện tích đất ở được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất bằng hạn mức giao đất ở;

b) Đối với thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống nếu diện tích thửa đất nhỏ hơn hạn mức giao đất ở quy định tại khoản 2 Điều 195 và khoản 2 Điều 196 của Luật này thì diện tích đất ở được xác định là toàn bộ diện tích thửa đất đó;

c) Phần diện tích còn lại (nếu có) sau khi đã xác định diện tích đất ở theo quy định tại điểm a khoản này thì được công nhận theo hiện trạng sử dụng đất;

4. Trường hợp đất được giao từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất và người sử dụng đất có giấy tờ chứng minh đã nộp tiền để được sử dụng đất thì hạn mức đất cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được xác định theo quy định tại khoản 3 Điều 138 của Luật này;

5. Nhà nước không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với đất đã giao, cho thuê không đúng thẩm quyền từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 trở về sau, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này;

6. Người sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật;

7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này".

Chinhphu.vn