Có cả những ca sĩ chuyên nghiệp đương tuổi 20 cũng đã 2 lần ra giao lưu với lính đảo xa. Và còn gì ấm áp hơn khi 21 đại biểu nữ dân tộc trên khắp mọi miền Tổ quốc cũng có riêng những bài hát “tủ” về quê hương mình để đến với Trường Sa.
Đằng đẵng suốt những ngày lênh đênh trên biển, đảo nổi hay đảo chìm… đến đâu văn công nhà ta cũng hát ca, giao lưu, phục vụ chiến sĩ và người dân trên đảo. Đương tuổi đôi mươi đầy trẻ trung lại được trời phú giọng ca oanh vàng, Bích Mận là một trong những “sơn ca cưng” của cả đoàn. Hát khắp các bản làng Tây Nguyên, nhiều lần tham gia Hội diễn, Hội thi chuyên nghiệp hẳn hoi, “nhiệm vụ” của Mận là lên giàn DK1 hát vẻn vẹn một bài đơn ca. Sóng đánh lắc lư, thuyền phao chao đảo Mận không quản ngại lên giàn. Giữa trùng khơi, gặp nhau chưa tay bắt mặt mừng, mắt đã ngấn lệ. Vừa cất được đôi lời hát, giọng Mận bỗng nấc nghẹn ngào. Chiến sĩ nhà giàn dường đã quen cảnh “vui sao nước mắt lại trào” chẳng ai bảo ai cùng cất tiếng hát. Bài đơn ca của Mận thành bài đồng ca.
Phó Chủ tịch UBTƯ MTTQVN Lê Bá Trình cũng ngẫu hứng ôm đàn nhập cuộc. Mặc những dòng mặn chát cứ chảy dài trên má, thiên di nghệ sĩ của Mận trỗi dậy, hát mãnh liệt hơn bao giờ hết. Là một trong hai văn công may mắn được lên nhà giàn, vừa trở lại boong tàu Mận bộc bạch: “Lên, xuống giàn bằng ròng rọc kéo như được “đóng phim” hành động mà đi trên dây kéo lại không cần đóng thế”.
Tour diễn nơi biển đảo Trường Sa không có chỗ cho kịch bản định sẵn. Văn công ra đảo, “bài tủ” rồi bài mới hát, thậm chí cả những ca khúc chưa bao giờ diễn trước công chúng… cứ mặc nhiên trưng diện thật dung dị trong những buổi diễn - hát theo yêu cầu. Bên lan can đảo Đá Nam, nghe giới thiệu anh Vũ Xuân Trường – Chính trị viên của đảo quê ở Nam Định, ca sĩ rẻo cao Tây Nguyên Ánh Vi hát tặng luôn bài Qua bến Đò Quan đậm đặc chất chèo Bắc.
Vào đảo Đá Nam, rủ rỉ tâm tình biết quê biết quán, ca sĩ không chuyên Mã Thị Hà – Ủy viên UBTƯ MTTQVN tặng luôn bài Hà Tây quê lụa cho thiếu úy Lê Xuân Thắng. Bản sắc văn hóa vùng miền vì thế không chỉ là sắc mầu của tấm áo, chiếc khăn mà còn đậm tình quân dân với những bài hát “tỉnh ca”, dân ca các vùng miền…
Chuyện ngẫu hứng hát ca, giao lưu đậm tình quân dân, nghệ sĩ Linh Nga Niê Kdăm chẳng lạ gì sau nửa thế kỷ “hành nghề” biểu diễn, sáng tác, nghiên cứu âm nhạc…
Chắc mẩm Trường Sa là sân khấu cuộc đời đầy linh thiêng, người nghệ sĩ từng tốt nghiệp đại học hai chuyên ngành âm nhạc ở Nhạc viện HN suốt nhiều ngày trời trăn trở sáng tác bài Hoàng hôn Trường Sa. Thu âm, làm bản demo hẳn hoi, đến đảo nào chị cũng gửi gắm đứa con tinh thần cho các chiến sĩ.
Dưới cột mốc chủ quyền trên đảo Trường Sa Lớn, chúng tôi đã lặng người khi nghe nghệ sĩ người Êđê nay đã sang tuổi “tri thiên mệnh” thả hồn mình vào trong bài hát Hoàng hôn Trường Sa. Còn gì da diết với lời ca điệu nhạc của ca khúc này hơn chính “mẹ đẻ” thể hiện. Một lần hát không nhạc đệm giữa trùng khơi như thế, trung sĩ Bùi Thanh Điền (1989) quê ở Đồng Nai đã ôm chầm mẹ Linh Nga Niê Kdăm đầy xúc động và cả hai cùng nhòa trong nước mắt.
Cũng lại là những chuyện chỉ ở Trường Sa mới có, là sự góp mặt của các đại biểu là dân tộc ít người, trong nhóm các tộc rất ít người lại làm cho tất cả mọi người cảm động và khâm phục.
Bài dân ca của dân tộc Cống Khao, được chị Lý Thị Gióng (dân tộc Cống-Lai Châu)trình bày nguyên bản cổ đã để lại ấn tượng sâu đậm ngay tại đêm diễn chính trên sân khấu cột mốc chủ quyền Trường Sa. Theo yêu cầu của các chiến sĩ trên đảo, ngay lập tức bài hát này đã được các chuyên gia nghiên cứu về dân tộc và tôn giáo của UBTƯ MTTQ Việt Nam dịch sang tiếng phổ thông và xem như bài hát chính trên đảo (bài Nhớ ơn bộ đội-dân ca Cống ).
Có lẽ, cả hơn trăm đại biểu trong đoàn công tác cũng như toàn bộ chiến sĩ, sĩ quan và nhân dân trên đảo Sơn Ca không bao giờ quên được buổi giao lưu, mà nói đúng hơn là cuộc “sát hạch” về cái tình, cái khiếu âm nhạc chảy trong huyết quản mỗi người dù là ca sĩ chuyên nghiệp hay nghiệp dư.
Bởi lẽ, đảo Sơn Ca vốn nổi tiếng là có các chiến sĩ có truyền thống và năng khiếu âm nhạc nhất quần đảo. Ngay cái tên đảo Sơn Ca thôi cũng đã quá nhiều ấn tượng với Việt Nam và các tổ chức nghiên cứu các loài chim trên thế giới rồi. Sử sách Việt Nam từ nhiều đời nay ghi lại: “…
Trên đảo luôn nhiều cây cối xanh tốt, nhiều cây sống lâu năm cành lá xum xuê, rợp bóng mát rất thích nghi với điều kiện sinh sống của loài chim sơn ca. Do nhu cầu bản năng, chim sơn ca thường về đây làm tổ, nuôi con và sinh sống nên ngư dân Việt Nam vùng Khánh Hòa, Quảng Nam , Vũng Tàu đi biển quen gọi tên đảo là đảo Sơn Ca”.
“Chim sơn ca tuy nhỏ nhưng hót rất hay và giọng cao vang vọng cả một vùng biển, nên như thành một thói quen, các chiến sĩ về với đảo bao giờ cũng chịu khó luyện giọng và rất ham mê ca hát và xem như đây là “truyền thống” của sơn ca vậy.
Đảo trưởng Lê Đình Hải cho biết như vậy. Và quả đúng y vậy khi đoàn chúng tôi cập đảo: cả sân trung tâm trên đảo đã trở thành một sân khấu lớn, ở đó cả chục chiếc micro liên tục truyền tay giữa lính đảo, các ca sĩ và cả nhân dân trên đảo.
Cuộc so tài văn nghệ ở Sơn Ca cứ thế diễn ra hơn 3 giờ mà không phân “thắng bại”. Người được nhất là các chiến sĩ, ai cũng được đính những đóa “Pơlăng” hồng trên má. Họ nhảy hết cỡ, hát hết cỡ và những dây hoa muống biển được tết vội vàng, những chùm bàng vuông cũng lần lượt được khoác lên những vị khách và các ca sĩ. Những vòng tay ấm áp, những lời hẹn trở lại hòa lẫn trong dàn đồng ca của đàn chim sơn ca cũng đang ríu ran tự bao giờ.
Lê Ngọc Năm (Báo Văn hóa)