In bài viết

Sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường: minh bạch thủ tục hành chính, chú trọng ‘chủ động phòng ngừa’

(Chinhphu.vn) – Một trong những điểm nhấn của Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) là chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”. Điểm thay đổi này mang tính căn bản, là bước đi quan trọng để chuyển từ mô hình quản lý “kiểm soát” sang mô hình “kiến tạo và giám sát”. Điều này vừa giảm áp lực cho cơ quan quản lý, vừa tạo dư địa cho doanh nghiệp chủ động bảo vệ môi trường.

17/04/2026 19:07
Sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường: minh bạch thủ tục hành chính, chú trọng ‘chủ động phòng ngừa’- Ảnh 1.

Hệ thống quản lý môi trường quốc gia sẽ tích hợp dữ liệu quan trắc, kiểm kê phát thải... tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý môi trường

Chiều 17/4, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với các đơn vị tổ chức Hội thảo Lấy ý kiến góp ý Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường.

5 định hướng lớn của Dự thảo Luật

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành, Dự thảo Luật lần này được xây dựng trên một tư duy lập pháp mới: Luật chỉ quy định khung và nguyên tắc để bảo đảm tính linh hoạt, các vấn đề kỹ thuật sẽ giao cho Chính phủ và các cấp có thẩm quyền quy định. Dự thảo Luật tập trung vào 5 định hướng lớn:

Thứ nhất là cải cách thực chất thủ tục hành chính và đẩy mạnh phân cấp, đơn giản hóa, minh bạch hóa các thủ tục như đánh giá tác động môi trường và giấy phép môi trường để giảm thiểu chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc nới lỏng thủ tục sẽ đi kèm với cơ chế hậu kiểm, giám sát chặt chẽ hơn và phân định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, bao gồm 3 yếu tố cốt lõi là công cụ, lực lượng và quy trình giám sát.

Thứ hai là đổi mới tư duy về chất thải: Chuyển từ việc "xử lý chất thải" sang coi chất thải là "tài nguyên". "Chúng ta sẽ tạo hành lang pháp lý để phát triển mạnh mẽ ngành công nghiệp môi trường và thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn", Thứ trưởng Lê Công Thành khẳng định.

Thứ ba là tiên phong chuyển đổi số: Xây dựng hệ sinh thái dữ liệu môi trường đồng bộ, công khai, minh bạch; phục vụ đắc lực cho cả cơ quan quản lý, người dân và cộng đồng doanh nghiệp.

Thứ tư là chuyển từ "bị động khắc phục" sang "chủ động phòng ngừa": Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm; kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải ngay từ gốc trong bối cảnh tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa đang diễn ra rất nhanh.

Thứ năm là vận hành hiệu quả các công cụ kinh tế: Hoàn thiện cơ chế thị trường, đặc biệt là thị trường tín chỉ carbon, biến bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu thành động lực kinh tế để doanh nghiệp chủ động đổi mới công nghệ và nâng cao sức cạnh tranh.

Kiểm soát thực chất, hiệu quả các dự án có nguy cơ cao tác động xấu đến môi trường

Tại Hội thảo, các chuyên gia nhận định: việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 là cần thiết nhằm tiếp tục cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, đặc biệt là các thủ tục về đánh giá tác động môi trường (ĐTM), giấy phép môi trường (GPMT), bảo đảm kiểm soát thực chất, hiệu quả các dự án, cơ sở có nguy cơ cao tác động xấu đến môi trường, đơn giản hóa thủ tục, thúc đẩy các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội.

Việc sửa đổi, bổ sung cũng tạo nền tảng pháp lý đủ mạnh, hiệu quả để chuyển đổi số trong quản lý môi trường, tạo động lực thúc đẩy mạnh mẽ phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam.

Đồng thời, hoàn thiện các chế định về quản lý chất lượng môi trường để phòng ngừa từ sớm, từ xa các nguồn gây ô nhiễm, ảnh hưởng tới chất lượng môi trường, đi đôi với tăng cường các biện pháp dự báo, cảnh báo, công khai thông tin về chất lượng môi trường, đặc biệt là chất lượng môi trường nước, môi trường không khí. Đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ trong công tác kiểm soát ô nhiễm, dự báo, cảnh báo, công khai thông tin về chất lượng môi trường.

Chú trọng chuyển đổi số, tạo nền tảng quản lý lâu dài

Tại dự thảo Luật, Bộ Nông Nghiệp và Môi trường đề xuất đơn giản hóa các quy định về tiêu chí môi trường trong phân loại dự án để tạo thuận lợi cho nhà đầu tư trong việc xác định trách nhiệm phải thực hiện các thủ tục hành chính gồm thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), thẩm định cấp giấy phép môi trường (GPMT).

Đồng thời, tiếp tục rà soát để cắt giảm đối tượng phải thực hiện thủ tục hành chính để đáp ứng với năng lực giải quyết tại các địa phương. Khi đó, việc phân loại dự án đầu tư được thực hiện theo 3 nhóm, tương ứng với các thủ tục hành chính về môi trường cần phải thực hiện gồm nhóm I (phải ĐTM chi tiết), nhóm II (thực hiện ĐTM đơn giản) và nhóm III (chỉ thực hiện đăng ký môi trường hoặc cấp GPMT trước khi triển khai).

Bên cạnh cải cách thủ tục, chuyển đổi số và đổi mới công cụ quản lý được xác định là nền tảng dài hạn của dự thảo luật.

Lần đầu tiên, quản lý môi trường dựa trên dữ liệu thời gian thực được đưa vào một cách rõ nét. Hệ thống quản lý môi trường quốc gia sẽ tích hợp dữ liệu quan trắc, kiểm kê phát thải và thông tin chất thải từ Trung ương đến địa phương. Điều này cho phép cơ quan quản lý chuyển từ "phản ứng" sang "dự báo" ô nhiễm.

Theo TS. Hoàng Dương Tùng, Chủ tịch Mạng lưới Không khí sạch Việt Nam, đây là bước tiến rất quan trọng. "Muốn kiểm soát ô nhiễm hiệu quả, đặc biệt là ô nhiễm không khí, thì dữ liệu phải liên tục, minh bạch và có khả năng dự báo. Không thể quản lý bằng các báo cáo chậm hàng tháng như trước", ông Tùng nhấn mạnh.

Quản lý chất thải cũng được định hình lại theo hướng coi chất thải là tài nguyên. Dự thảo luật bổ sung các cơ chế thúc đẩy tái chế, tái sử dụng và sử dụng chất thải làm đầu vào cho sản xuất. Đây là nền tảng cốt lõi để phát triển kinh tế tuần hoàn.

Đáng chú ý, toàn bộ hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải sẽ phải cập nhật dữ liệu điện tử. Việc số hóa này không chỉ tăng tính minh bạch mà còn giúp kiểm soát dòng chất thải hiệu quả hơn, hạn chế tình trạng xử lý trái phép.

Trong lĩnh vực biến đổi khí hậu, dự thảo luật có những bước tiến mang tính chiến lược khi hoàn thiện cơ chế kiểm kê khí nhà kính hàng năm và thúc đẩy vận hành thị trường carbon.

Việc quy định rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương trong quản lý chất lượng môi trường, đặc biệt là không khí và nước cũng là bước đi cần thiết. Cùng với đó, cơ chế công khai thông tin môi trường và ứng dụng công nghệ số sẽ giúp người dân tham gia giám sát hiệu quả hơn.

Thu Cúc