Theo PGS.TS Lê Xuân Cảnh, Viện trưởng Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật: Tại Việt Nam, diện tích rừng tự nhiên có tính đa dạng sinh học cao đang ngày càng giảm mạnh với 2/3 diện tích rừng là rừng nghèo, rừng trồng hoặc rừng đang phục hồi. Sự suy thoái này thể hiện rõ nhất qua sự suy giảm nhanh chóng về diện tích và chất lượng tại các khu rừng ngập mặn. Tổng diện tích rừng ngập mặn của cả nước chỉ còn khoảng trên 155.000 ha, giảm 100.000 ha so với trước năm 1990 và đang tiếp tục giảm nhanh. Việc mất rừng ngập mặn gây ra tổn thất nghiêm trọng về đa dạng sinh học, đặc biệt là mất bãi đẻ của các loài thủy sản, mất nơi cư trú và làm tổ của chim, làm mất chức năng chống phèn, khả năng hạn chế ô nhiễm và tác hại của gió bão...
Theo Sách đỏ Việt Nam, hiện số loài động, thực vật hoang dã trong thiên nhiên đang bị đe dọa là 882 loài, trong đó có 418 loài động vật vfa 464 loài thực vật, tăng 161 loài so với năm 1992. Năm 1992, các loài động vật bị đe dọa chỉ ở mức nguy cấp thì đến thời điểm này đã có 9 loài động vật được xem đã tuyệt chủng ngoài tự nhiên của Việt Nam như tê giác 2 sừng, heo vòi, bò xám, cầy rái cá, hươu sao, cá sấu hoa cà... Trong hệ thống thực vật, loài lan hài Việt Nam đã tuyệt chủng ngoài thiên nhiên.
Ngoài ra, sự biến đổi khí hậu toàn cầu cũng tác động mạnh mẽ tới đa dạng sinh học tại Việt Nam. Sự tăng, giảm nhiệt độ bất thường trong 1 số ngày sẽ tác động tới cả hệ sinh thái tự nhiên cũng như trong nông nghiệp như thời gian sinh trưởng, lịch mùa vụ, gia tăng dịch hại và hoạt động của vi sinh vật. Mực nước biển dang lên sẽ tác động tới nghề nuôi hải sản, các đầm nuôi phải di chuyển địa điểm, diện tích rừng ngập mặn suy giảm, làm mất nơi cư trú của nhiều loài thủy sản ven bờ.
Do đó, để thực hiện tốt các mục tiêu Quốc gia về bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học trong hệ thống rừng đặc dụng cần xây dựng chương trình nghiên cứu, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học mang tính liên ngành của Quốc gia, thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu; Tăng cường nghiên cứu, áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong quản lý các dạng tài nguyên và bảo tồn đa dạng sinh học; Xây dựng chương trình quan trắc đa dạng sinh học, thực hiện điều tra cơ bản tài nguyên đa dạng sinh học trên phạm vi toàn quốc trong các khu rừng đặc dụng; cải thiện việc lồng ghép các nội dung bảo tồn đa dạng sinh học trong các chương trình, kế hoạch, dự án của Nhà nước, của các Bộ, ngành và từng địa phương.
Nhằm phát triển bền vững hệ thống các khu rừng đặc dụng của Việt Nam, cần ưu tiên đánh giá và phát triển cơ hội cho cộng đồng được hưởng lợi từ việc cung cấp các dịch vụ sinh thái tại các khu rừng đặc dụng, bảo vệ rừng đầu nguồn; nâng cao nhận thức của cộng đồng, cải thiện đời sống và xây dựng khung pháp lý, cơ chế khả thi để cộng đồng địa phương được tham gia và được chia sẻ lợi ích trong công tác bảo vệ, bảo tồn và phát triển tài nguyên đa dạng sinh học, trước hết là tại các khu rừng đặc dụng; tăng cường quản lý nghiêm ngặt việc buôn bán trái phép động thực vật hoang dã một cách hữu hiệu; đa dạng hóa và quản lý hiệu quả việc cung cấp tài chính cho bảo tồn; tiếp tục duy trì và tranh thủ sự giúp đỡ của Quốc tế trong công cuộc bảo vệ thiên nhiên và đa dạng sinh học.
Lưu Thanh Tuấn