
Phiên họp lần thứ nhất năm 2026 của Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Tại Phiên họp lần thứ nhất năm 2026 của Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Bùi Thế Duy đã đề xuất nhiều giải pháp để nghiên cứu cơ bản thực sự trở thành bệ phóng cho công nghệ chiến lược quốc gia.
Theo PGS.TS Bùi Thế Duy, cuộc cách mạng toàn cầu hiện nay thì xoay quanh câu chuyện làm chủ các công nghệ chiến lược then chốt như là trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, hàng không vũ trụ, công nghệ sinh học và các công nghệ tiên phong như là lượng tử, nhiệt hạch. Việc làm chủ các công nghệ này thì không chỉ thúc đẩy kinh tế mà còn kiến tạo năng lực quốc gia.
PGS.TS Bùi Thế Duy nhấn mạnh, lịch sử phát triển của các cường quốc công nghệ như Hoa Kỳ, Nhật Bản hay gần đây là Trung Quốc, Hàn Quốc đều chỉ ra một điểm chung là không có một nền công nghệ tiên tiến nào được xây dựng trên một nền tảng khoa học cơ bản yếu kém.
Thực tiễn phát triển khoa học, công nghệ thế giới cho thấy: không có vật lý lượng tử thì không có ngành bán dẫn; không có sinh học phân tử thì không có công nghệ mRNA; không có toán học và tối ưu hóa thì không có trí tuệ nhân tạo hiện đại.
Đối với Việt Nam, bên cạnh việc nhập khẩu và chuyển giao công nghệ, việc đầu tư cho nghiên cứu cơ bản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm duy trì và nâng cao năng lực khoa học, công nghệ quốc gia. Nghiên cứu cơ bản cần được gắn kết chặt chẽ với đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo nền tảng cho những đột phá trong phát triển công nghệ lõi và công nghệ chiến lược.
Trong những năm qua, dưới sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, khoa học cơ bản của Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng ghi nhận. Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cùng các cơ sở nghiên cứu, đào tạo hàng đầu đã đóng góp hàng nghìn công bố quốc tế uy tín mỗi năm, góp phần nâng cao vị thế Việt Nam trên bản đồ khoa học thế giới, đặc biệt trong các lĩnh vực toán học, vật lý, khoa học và công nghệ sinh học.
Tuy nhiên, theo PGS.TS Bùi Thế Duy, nghiên cứu cơ bản vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn, hạn chế.
Trước hết, còn tồn tại sự đứt gãy giữa nghiên cứu, đào tạo và ứng dụng thực tiễn. Hoạt động nghiên cứu cơ bản chủ yếu vẫn theo cơ chế đề xuất từ dưới lên, chưa được định hướng mạnh mẽ bởi các bài toán chiến lược lớn hay nhu cầu sản phẩm công nghệ của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, dù đã có nhiều nhà khoa học có uy tín quốc tế, song Việt Nam vẫn chưa hình thành được các nhóm nghiên cứu, tổ chức nghiên cứu tầm cỡ khu vực và quốc tế.
Một vấn đề đáng chú ý khác là lực lượng nghiên cứu sinh – vốn được xem là lực lượng nghiên cứu nòng cốt theo thông lệ quốc tế, vẫn chủ yếu được coi như người học, chưa thực sự trở thành lực lượng nghiên cứu chuyên nghiệp với điều kiện làm việc và thu nhập phù hợp.
Ngoài ra, các cơ chế, chính sách nhằm tạo môi trường ổn định, lâu dài cho nghiên cứu cơ bản dù đã được luật hóa, nghị định hóa trong năm 2025 nhưng chưa được triển khai mạnh mẽ vào cuộc sống.
Để nghiên cứu cơ bản thực sự trở thành bệ phóng cho phát triển công nghệ chiến lược quốc gia, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã đề xuất một số nhóm giải pháp trọng tâm.
Thứ nhất, sớm triển khai các chính sách về cấp kinh phí nghiên cứu theo gói cho các giáo sư, nhóm nghiên cứu mạnh, cho tiến sĩ, cho sau tiến sĩ; cấp kinh phí cho các cụm đề tài nghiên cứu cơ bản đủ lớn, đủ dài như đã trong quy định trong Nghị định 265, Nghị định 267 của Chính phủ năm 2025; triển khai chính sách đồng cơ hữu để tận dụng tối đa nguồn nhân lực kết hợp giữa nghiên cứu và giảng dạy như đã quy định trong Luật Giáo dục đại học và Luật Khoa học công nghệ.
Thứ hai, sớm triển khai các đề án đầu tư phát triển các tổ chức nghiên cứu công lập, phát triển các phòng thí nghiệm công nghệ chiến lược mà Chính phủ đã phê duyệt trong các đề án vào năm 2025.
Thứ ba, đề nghị chuyển dịch cơ chế đánh giá hiệu quả của nghiên cứu cơ bản theo hướng đánh giá năng lực các nhóm nghiên cứu, đánh giá tác động lâu dài thay vì chỉ đếm các bài báo ISI (các công trình nghiên cứu khoa học uy tín, được công bố trên các tạp chí quốc tế chất lượng cao) như giai đoạn hiện nay.
Thứ tư, tổ chức xây dựng các định hướng nghiên cứu xuyên suốt từ nghiên cứu cơ bản đến nghiên cứu ứng dụng, đến phát triển công nghệ, đến phát triển sản phẩm dựa trên nhu cầu của thị trường, dựa trên đặt hàng của doanh nghiệp.
Thực tế hiện nay là nhiều doanh nghiệp trên thế giới đã bắt đầu triển khai hợp tác nghiên cứu từ nghiên cứu cơ bản chứ không chỉ từ giai đoạn phát triển công nghệ.
Thứ năm, hình thành thêm nhiều các tổ chức nghiên cứu liên kết quốc tế nhằm thu hút các nhà khoa học của thế giới về làm việc tại Việt Nam, tham gia đóng góp cho phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược của Việt Nam.
Thu Giang