In bài viết

Thêm góc nhìn khoa học về vấn đề bauxite Tây Nguyên (kỳ 2)

(Chinhphu.vn) – Công nghệ khai thác bauxite, sản xuất alumina hiện nay hoàn toàn đáp ứng các chỉ tiêu khắt khe về hiệu quả kinh tế, môi trường… Vấn đề còn lại là việc tuân thủ một cách một cách nghiêm ngặt các quy trình sản xuất cũng như áp dụng đồng bộ các giải pháp về bảo vệ môi trường. Chúng ta đã có chủ trương đúng, bây giờ chờ đợi cách làm hay.

22/05/2009 13:19

Toàn cảnh Dự án bauxit Nhân Cơ-Đắk Nông - Ảnh: Chinhphu.vn

Cổng TTĐT Chính phủ giới thiệu tiếp bài viết của PGS.TS Đỗ Cảnh Dương, Vụ Kinh tế ngành, Văn phòng Chính phủ đề cập đến góc độ công nghệ sản xuất alumina, điện phân nhôm, xử lý bùn đỏ

Vấn đề xử lý bùn đỏ không phức tạp, cần giám sát chặt chẽ quá trình thực hiện

Điều đáng vui mừng là các dự án quan trọng phát triển kinh tế xã hội của đất nước đã được dư luận xã hội và nhân dân quan tâm. Nhiều nhà khoa học, nhà hoạt động xã hội, văn hóa, lịch sử đã có nhiều ý kiến đóng góp tâm huyết cho các dự án khai thác bauxite, sản xuất alumina tại Tây Nguyên trong đó có cả những quan ngại liên quan đến các vấn đề về môi trường, công nghệ, tính bền vững về kinh tế-xã hội... Nhiều nhà khoa học, nhà quản trị trên thế giới cũng có quan điểm rằng: “Chỉ khi chúng ta hiểu rõ những tác động kinh tế xã hội và môi trường thì việc tiến hành phát triển công nghiệp nhôm mới đem lại hiệu quả cao”.

Dự án alumina Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đắk Nông) do doanh nghiệp Việt Nam (Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam-TKV) đầu tư 100% vốn, không phải dự án liên doanh với nước ngoài. Tổng thầu EPC (xây dựng, vận hành và chuyển giao hay còn gọi là chìa khóa trao tay) là Công ty Chalieco thuộc Tập đoàn Chalco (Trung Quốc), 1 trong 5 tập đoàn sản xuất nhôm lớn nhất thế giới. Chalieco cam kết chuyển giao công nghệ sản xuất alumina tiên tiến.

Vấn đề môi trường của các dự án alumina là bùn đỏ, nhưng chúng ta cần phải nhận thức rõ là bùn đỏ từ sản xuất bauxite nói chung không có chất gây độc hại cho môi trường, không có chất phóng xạ và không thuộc loại rác nguy hiểm.

Tuy nhiên phần dung dịch bùn đỏ vẫn còn lượng kiềm dư nhất định (PH>12,5), nếu không kiểm soát được thì lượng kiềm này sẽ thẩm thấu, gây tác hại đến môi trường nước và đất. Công nghệ chứa và cách ly bùn đỏ, được ứng dụng rộng rãi trên thế giới hiện nay bảo đảm, an toàn đối với môi trường. Theo tính toán cả 2 nhà máy Tân Rai và Nhân Cơ lượng bùn đỏ khô thải ra khoảng 1,2-1,3 triệu tấn, dung dịch bám theo được bơm  tuần hoàn về nhà máy (70%). Hiện nay trên thế giới đã nghiên cứu thành công sử dụng bùn đỏ làm phụ gia xi măng, gạch không nung… nhưng hiệu quả  kinh tế còn thấp, chủ yếu là lưu giữ ở các bãi chứa thải với các giải pháp đồng bộ như chống thấm hồ bùn đỏ, kiểm tra nguồn nước và tái tạo sinh thái hồ bùn đỏ.

Tập đoàn TKV cam kết và cần phải thực hiện nghiêm túc và đầy đủ các giải pháp nêu trên. Chính phủ giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các địa phương giám sát việc chặt chẽ việc thực hiện các giải pháp về môi trường đối với các dự án khai thác và chế biến bauxite.

Các vấn đề độ công nghệ sản xuất alumina, điện phân nhôm, cấp nước dự án …

Một vấn đề nữa liên quan đến môi trường là quá trình khai thác bauxite. Với đặc điểm phân bố thân quặng, bauxite Tây Nguyên có thể khai thác bằng phương pháp lộ thiên, cơ giới hóa toàn bộ các khâu trong quá trình khai thác, với công nghệ lựa chọn, khai trường được chia làm nhiều khu vực nhỏ (khoảng 10-20ha) khai thác hết khu vực này mới chuyển sang khu vực khác (kiểu “cuốn chiếu”). Như vậy khi khai thác ở khu vực tiếp theo thì sẽ triển khai đồng thời công tác hoàn thổ, phục hồi môi trường ở khu vực đã khai thác trước đó. Nói chung đất nâu đỏ, nâu vàng phát triển trên các đá bazan ở Tây Nguyên rất thích nghi đối với các loại cây công nghiệp: cà phê, cao su, chè... nhưng tại khu vực mà có phân bố quặng bauxite do tích lũy cao hơn về Fe và Al, hàm lượng mùn ít, tại đó các cây công nghiệp ít thích nghi, đi đôi với công tác hoàn thổ khi khai thác bauxite các nhà khoa học về địa chất, đất-thổ nhưỡng sẽ có những đóng góp tích cực, nghiên cứu cải tạo các thuộc tính đất của tại khu vực khai thác bauxite để trồng các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao.

Theo tính toán của TKV, nước cấp cho 2 dự án thử nghiệm là Tân Rai và Nhân Cơ sẽ sử dụng toàn bộ nước mặt, bằng giải pháp tôn cao các đập Nhân Cơ và Cầu Tư, nhu cầu cho nhà máy sản xuất alumina 600.000 tấn/năm và sử dụng khoảng 28 triệu m3/năm. TKV cần phải kiểm tra nguồn nước bổ cập, với đặc điểm ở Tây Nguyên lượng mưa rất ít về mùa khô, tính toán cân bằng nước và những tác động, ảnh hưởng đến hệ thống sông Đồng Nai. Thủ tướng Chính phủ đã giao cho các Bộ, ngành liên quan thẩm định và kiểm tra các vấn đề liên quan đến cấp nước cho dự án.

Công nghệ để sản xuất alumina của Tổ hợp bauxite-Nhôm Lâm Đồng là công nghệ Bayer ít phức tạp nhưng có hiệu quả. Hiện nay trên thế giới công nghệ này vẫn là công nghệ chính để sản xuất alumina. Dự báo trong tương lai khoảng 90% alumina trên thế giới vẫn được sản xuất bằng công nghệ này. Tùy theo thành phần của khoáng vật bauxite mà công nghệ Bayer chia làm 2 giải pháp khác nhau: công nghệ Bayer châu Mỹ được áp dụng cho bauxite có khoáng vật chủ yếu là gipxit (Công nghệ này được triển khai ở Tây Úc, Brazil, Guinea, Trung Quốc... và cho các nhà máy ở Tây Nguyên), công nghệ Bayer châu Âu được áp dụng cho bauxite ở dạng bơmit và diaspor.

Trên cơ sở mẫu công nghệ lấy từ mỏ bauxite Tân Rai, được nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu alumina Pháp-Gardan cho thấy với phương pháp Bayer hòa tách ở nhiệt độ 105 độ C, áp suất khí quyển, nồng độ kiềm 210g/lNa2O, thời gian hòa tách 2 giờ 30 phút, hiệu suất hòa tách alumina toàn bộ đạt xấp xỉ 88%, hiệu suất thu hồi alumina trên toàn bộ dây chuyền đạt khoảng 84%.

Tháng 3/2007, trong Báo cáo điều chỉnh thiết kế cơ sở nhà máy alumina 600.000 tấn/năm của dự án Tổ hợp bauxite-Nhôm Lâm Đồng, công nghệ được điều chỉnh thay thế cho phương pháp hòa tách ở nhiệt độ 105 độ C. Cơ sở để lựa chọn công nghệ này dựa trên kết quả nghiên cứu công nghệ hòa tách mẫu đại diện lấy từ mỏ Tân Rai- Lâm Đồng bằng phương pháp Bayer hòa tách ở nhiệt độ 145 độ C-áp suất 5 atm, nồng độ kiềm 170g/l Na2O, thời gian hòa tách 45 phút cho hiệu suất hòa tách đạt 89-90%, hiệu suất thu hồi alumina trên toàn bộ là 83,61% do viện nghiên cứu luyện kim Côn Minh thuộc Tập đoàn luyện kim Vân Nam, Trung Quốc thực hiện.

Tập đoàn TKV cam kết và cần phải giám sát việc chuyển giao công nghệ đúng như hồ sơ mời thầu, đảm bảo công nghệ tiến tiến. Về vấn đề công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ cho rằng việc lựa chọn công nghệ là hợp lý. Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì giám sát đánh giá kết quả của việc chuyển giao công nghệ, lựa chọn công nghệ tiến tiến thân thiện với môi trường làm cơ sở và tiền đề cho phát triển ngành công nghiệp nhôm Việt Nam.

Nhu cầu tiêu hao điện cho sản xuất alumina không lớn, bình quân 200-256kWh/tấn, cho nhà máy sản lượng 600.000 tấn alumina/năm ở Tây Nguyên cần khoảng 150 triệu KWh/năm (tương đương nhà máy điện công xuất 30MW) dự kiến đầu tư các nhà máy nhiệt điện tự dùng với quy mô công suất như trên, chỉ sử dụng nguồn điện lưới cho thi công và dự phòng khi sản xuất.

Sản xuất nhôm kim loại chỉ có phương pháp công nghệ độc nhất là điện phân alumina trong dung dịch criolit nóng chảy (phương pháp Hall-Heroult). Ngành công nghiệp sản xuất nhôm kim loại đòi hỏi tiêu hao năng lượng lớn (chi phí điện năng cho điện phân 1 tấn nhôm 13.000-14.000 kWh/tấn và suất đầu tư rất cao (khoảng 4.500-5.500 USD/tấn), do vậy chỉ có một số nước có khả năng xây dựng tổ hợp đồng bộ từ khai thác bauxite-sản xuất alumina-điện phân nhôm kim loại có công suất lớn, còn lại phát triển theo các lợi thế riêng: các nước có các mỏ bauxite lớn thì tập trung sản xuất alumina (Australia khai thác bauxite và sản xuất alumina lớn nhất thế giới, khoảng 85% alumina dùng để xuất khẩu), các nước có nguồn năng lượng dồi dào, thủy điện lớn, giá điện rẻ, đầu tư thấp thì tập trung điện phân như các nước Bắc Mỹ, Trung Quốc, Nga... Trong bối cảnh thiếu điện trầm trọng như hiện nay, cũng như nguồn tài chính có hạn thì việc xây dựng nhà máy điện phân nhôm ở Việt Nam giai đoạn 2007-2015 là chưa phù hợp.

Một số nhận xét khái quát

Việt Nam có trữ lượng tài nguyên bauxite rất lớn, nếu khai thác và chế biến hợp lý, có quy hoạch và kế hoạch sẽ đáp ứng nhu cầu sử dụng trong nước và xuất khẩu trong thời gian dài. Việc triển khai các dự án thăm dò, khai thác bauxite và chế biến alumina tại Tây Nguyên là cần thiết, có ý nghĩa quan trọng, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội ở vùng Tây Nguyên trước mắt và lâu dài, là chủ trương nhất quán của Đảng từ Đại hội IX đến nay. Việc phát triển các dự án khoáng sản phải theo hướng phát triển bền vững, giữ vững văn hóa bản địa, đời sống nhân dân phải được nâng cao hơn, người dân phải được hòa nhập với sự phát triển.

Tuy nhiên hoạt động khai thác và chế biến bauxite tại Tây Nguyên có nguy cơ tiềm ẩn về môi trường. Thực tế các vấn đề về ô nhiễm có thể kiểm soát và khắc phục tốt nếu tuân thủ một cách một cách nghiêm ngặt các quy trình trong quá trình sản xuất, cũng như áp dụng đồng bộ các giải pháp bảo vệ môi trường.

Đối với Tập đoàn TKV thực hiện triển khai theo kế hoạch các dự án khai thác và chế biến quặng bauxite đã được Thủ tướng chấp thuận chủ trương (Tân Rai, Nhân Cơ), ưu tiên áp dụng công nghệ khai thác, chế biến và xử lý môi trường tiên tiến để rút kinh nghiệm, tổng kết cho các dự án tiếp theo. Đặc biệt, nghiêm túc thực hiện các quy định của pháp luật về khoáng sản, bảo vệ môi trường và pháp luật khác có liên quan trong quá trình triển khai dự án.

Đối với 2 dự án Tân Rai, Nhân Cơ, cần thực hiện nghiêm túc các ý kiến kết luận của Bộ Chính trị, ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, phải đảm bảo tiến độ, chất lượng, quản lý và giám sát chặt chẽ việc chuyển giao công nghệ tiến tiến, đảm bảo hiệu quả kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường, an ninh và quốc phòng khu vực, để các dự án phát triển công nghiệp nhôm thực sự trở thành động lực quan trọng phát triển kinh tế xã hội ở Tây Nguyên.

PGS.TS Đỗ Cảnh Dương

 Kỳ trước: Thêm góc nhìn khoa học về vấn đề bauxite Tây Nguyên

Tin, bài liên quan:

Quản lý chặt chẽ lao động và thực hiện tốt tái định cư tại các dự án bauxite

Khai thác bauxite: Động lực cho sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế Đắk Nông

Khai thác bauxite: Tạo nghề nghiệp ổn định cho người dân Tây Nguyên

Hạn chế tối đa ảnh hưởng của bùn đỏ và sử dụng tài nguyên nước tiết kiệm trong sản xuất alumina

Khai thác bauxite, 1 trong 4 nguồn lực tự nhiên để Đắk Nông phát triển

Khảo sát thực địa, môi trường dự án bauxite Nhân Cơ, Đắk Nông

Đảm bảo phương án môi trường tốt nhất cho dự án bauxite Tây Nguyên 

Kỳ 4: Khai thác tiềm năng bauxite Tây Nguyên: Bài học về chuẩn bị những dự án lớn

Kỳ 3: Khai thác tiềm năng bauxite Tây Nguyên: Áp dụng công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường

Triển khai thực hiện Kết luận của Bộ Chính trị về khai thác bauxite

Kỳ 2: Khai thác bauxite Tây Nguyên: Đảm bảo hài hòa hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường

Kỳ 1: Đánh thức tiềm năng bauxite để phục vụ phát triển kinh tế xã hội Tây Nguyên

Kết luận của Bộ Chính trị về Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bô-xít giai đoạn 2007 - 2015, có xét đến năm 2025

Chủ trương phát triển công nghiệp khai thác Bauxite Tây Nguyên là đúng đắn, cần có cơ chế giám sát chặt chẽ, đảm bảo môi trường