
Tiêu chuẩn, điều kiện và quy trình cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên.
Nghị định gồm 5 chương, 28 điều quy định chi tiết khoản 2 Điều 9 và Điều 21 của Luật Phục hồi, phá sản về tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề, việc cấp, thu hồi, cấp lại chứng chỉ hành nghề Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản; quản lý nhà nước đối với Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, hoạt động hành nghề quản lý, thanh lý tài sản; chi phí Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.
Quy định biện pháp thi hành Luật Phục hồi, phá sản về bồi dưỡng nghề Quản tài viên, bồi dưỡng nghiệp vụ Quản tài viên hằng năm.
Về tiêu chuẩn, điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên, Nghị định quy định như sau:
1. Người có đủ các tiêu chuẩn sau đây thì được xem xét cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên (*):
a) Luật sư hoặc kiểm toán viên là người Việt Nam; luật sư nước ngoài hoặc kiểm toán viên là người nước ngoài được phép hành nghề tại Việt Nam; người có trình độ cử nhân hoặc thạc sĩ hoặc tiến sĩ về một trong các chuyên ngành luật, kinh tế, kế toán, tài chính, ngân hàng và có thời gian công tác từ đủ 05 năm trở lên trong lĩnh vực được đào tạo;
b) Đã hoàn thành khóa bồi dưỡng nghề Quản tài viên.
2. Các trường hợp không được cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên gồm:
a) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; người đã bị kết án nhưng chưa được xóa án tích; người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, đặc khu, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
b) Người bị mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;
c) Người đang là cán bộ, công chức, viên chức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; đang là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng, hạ sĩ quan, binh sĩ trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; đang là sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;
d) Người thuộc một trong những trường hợp quy định tại điểm này mà chưa hết thời hạn 03 năm kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực thi hành: Cán bộ bị kỷ luật bằng hình thức bãi nhiệm; công chức, viên chức bị kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng, hạ sĩ quan, binh sĩ trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân bị kỷ luật bằng hình thức tước danh hiệu quân nhân hoặc buộc thôi việc; sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân bị kỷ luật bằng hình thức tước danh hiệu Công an nhân dân hoặc buộc thôi việc;
đ) Luật sư, kiểm toán viên bị thu hồi chứng chỉ hành nghề do vi phạm pháp luật mà chưa hết thời hạn 03 năm kể từ ngày quyết định thu hồi chứng chỉ hành nghề có hiệu lực thi hành;
e) Người bị cấm hành nghề luật sư, kiểm toán viên theo bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
1. Người đáp ứng đủ các tiêu chuẩn, điều kiện quy định tại (*) có quyền đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) nơi mình cư trú cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên.
2. Hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên bao gồm các giấy tờ sau đây:
a) Đơn đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên theo Mẫu TP-QTV01 (đối với người đề nghị là công dân Việt Nam) hoặc Mẫu TP-QTV-02 (đối với người đề nghị là luật sư nước ngoài, kiểm toán viên là người nước ngoài được phép hành nghề tại Việt Nam) kèm theo Nghị định này và 02 ảnh màu cỡ 3 cm x 4 cm được chụp không quá 06 tháng trước ngày nộp hồ sơ;
b) Thẻ luật sư đối với luật sư Việt Nam; Giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam đối với luật sư nước ngoài; Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề kiểm toán đối với kiểm toán viên Việt Nam hoặc kiểm toán viên là người nước ngoài; bằng cử nhân hoặc thạc sĩ hoặc tiến sĩ đối với người có trình độ cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ về một trong các chuyên ngành luật, kinh tế, kế toán, tài chính, ngân hàng kèm theo xác nhận của cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc về thời gian công tác liên tục hoặc cộng dồn từ đủ 05 năm trở lên trong lĩnh vực được đào tạo;
c) Giấy chứng nhận bồi dưỡng nghề Quản tài viên.
Giấy tờ quy định tại điểm b, c khoản này là bản sao kèm bản chính để đối chiếu hoặc bản sao có chứng thực hoặc bản chính điện tử hoặc bản sao điện tử từ sổ gốc hoặc bản sao điện tử có chứng thực từ bản chính.
3. Người đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên lập 01 bộ hồ sơ quy định tại khoản 2 nêu trên, nộp trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính đến Sở Tư pháp nơi người đó cư trú hoặc trực tuyến trên môi trường điện tử theo quy định tại Điều 4 của Nghị định này.
4. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp xem xét, có văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên; trường hợp từ chối đề nghị phải trả lời bằng văn bản có nêu rõ lý do.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được văn bản đề nghị của Sở Tư pháp kèm theo hồ sơ hợp lệ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên theo Mẫu TP-QTV-09 kèm theo Nghị định này; trường hợp từ chối cấp chứng chỉ phải trả lời bằng văn bản có nêu rõ lý do.
5. Trường hợp thông tin trong hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên chưa đầy đủ, chưa thống nhất hoặc cần xác minh, Sở Tư pháp hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh yêu cầu người đề nghị giải trình, bổ sung thông tin hoặc phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xác minh thông tin.
Thời hạn quy định tại khoản 4 nêu trên được tính từ ngày Sở Tư pháp hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nhận được kết quả bổ sung, làm rõ hoặc xác minh thông tin.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/3/2026; trừ điểm b khoản 1 Điều 5, điểm c khoản 2 Điều 7 của Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/3/2027; khoản 5 Điều 15 của Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2027.
Nghị định này thay thế Nghị định số 22/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phá sản về Quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 112/2025/NĐ-CP và Nghị định số 18/2026/NĐ-CP.
Đồng thời, bãi bỏ các quy định tại Điều 3 của Nghị định số 112/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực bổ trợ tư pháp; Điều 7 của Nghị định số 18/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nghị định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp./.