In bài viết

TỔNG THUẬT: Tọa đàm 'Phát triển "kinh tế bạc" từ góc nhìn an ninh phi truyền thống'

(Chinhphu.vn) - Sáng 26/3, tại Hà Nội, Viện An ninh phi truyền thống (Trường Quản trị Kinh doanh, ĐHQG Hà Nội) phối hợp cùng Cổng TTĐT Chính phủ tổ chức Tọa đàm “Phát triển kinh tế bạc từ góc nhìn an ninh phi truyền thống”.

26/03/2026 11:00

Đây là sự kiện trong chuỗi hoạt động nhằm cụ thể hóa định hướng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới được xác lập tại Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Tọa đàm nhằm làm rõ nội hàm, cấu trúc và xu thế phát triển "kinh tế bạc" trên thế giới và ở Việt Nam; xác định vị trí của "kinh tế bạc" trong mô hình tăng trưởng mới và chiến lược phát triển quốc gia; đánh giá thực trạng già hóa dân số và tiềm năng thị trường "kinh tế bạc" ở Việt Nam; đề xuất khung chính sách phát triển "kinh tế bạc", phát huy tiềm năng và nguồn lực "kinh tế bạc" giai đoạn 2026-2030 dưới góc nhìn an ninh phi truyền thống… 

Tham dự Tọa đàm có đại diện các ban, bộ, ngành liên quan; các chuyên gia kinh tế, dân số, KHCN, an sinh xã hội, GD&ĐT; đại diện một số tổ chức quốc tế (UNFPA, WHO Việt Nam…), đại diện một số doanh nghiệp lĩnh vực y tế, bảo hiểm, công nghệ; đại diện người cao tuổi là chuyên gia, nhà khoa học…

TỔNG THUẬT: Tọa đàm 'Phát triển

Trung tướng, GS.TS Nguyễn Xuân Yêm, Viện trưởng Viện An ninh phi truyền thống, phát biểu đề dẫn Tọa đàm - Ảnh: VGP

Phát biểu đề dẫn tại hội thảo, Trung tướng, GS.TS Nguyễn Xuân Yêm, Viện trưởng Viện An ninh phi truyền thống nhấn mạnh, người cao tuổi không chỉ là đối tượng cần được quan tâm mà còn giữ vai trò đặc biệt trong xã hội khi vừa là trung tâm, vừa là chủ thể, đồng thời là người thụ hưởng các chính sách phát triển. Đây là nguồn lực quốc gia quan trọng cần được nhìn nhận và khai thác hiệu quả trong bối cảnh hiện nay.

Từ thực tiễn đó, ông đặt ra ba vấn đề lớn cần được nghiên cứu và giải quyết. Trước hết là làm thế nào để phát huy hiệu quả nguồn lực người cao tuổi, trong khi Việt Nam hiện có khoảng 16,1 triệu người cao tuổi, nhiều người vẫn có khả năng và nhu cầu tiếp tục tham gia lao động, đóng góp cho xã hội.

Vấn đề thứ hai là xác định rõ người cao tuổi là trung tâm trong các chính sách an sinh, đặc biệt là chăm sóc sức khỏe, nhằm bảo đảm họ được sống khỏe mạnh, an toàn và có chất lượng cuộc sống tốt.

Thứ ba, cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách để người cao tuổi, với vai trò là người thụ hưởng, thực sự được hưởng lợi từ thành quả phát triển, cả về vật chất lẫn tinh thần, qua đó nâng cao vị thế và chất lượng cuộc sống của nhóm dân số này trong xã hội hiện đại.

TỔNG THUẬT: Tọa đàm 'Phát triển

TS. Trương Xuân Cừ, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam: Phát triển kinh tế bạc mang ý nghĩa chiến lược, góp phần chuyển từ tiếp cận thụ động sang chủ động, huy động nguồn lực xã hội, đa dạng hóa an sinh và thúc đẩy chuyển đổi số an toàn - Ảnh: VGP

TS. Trương Xuân Cừ, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam: Kinh tế bạc là tổng thể các hoạt động kinh tế gắn với nhu cầu tiêu dùng, chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi (NCT) trong bối cảnh già hóa dân số. Đây là một động lực tăng trưởng mới của Việt Nam, với ba trụ cột chính: nhu cầu tiêu dùng của khoảng 17 triệu NCT; nhu cầu chăm sóc về y tế, sức khỏe, tinh thần; và vai trò của NCT như một chủ thể tham gia phát triển kinh tế.

Việt Nam có truyền thống đề cao vai trò NCT, từ Hội nghị Diên Hồng đến Lời kêu gọi Phụ lão cứu quốc năm 1941 của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Qua 40 năm đổi mới, vai trò này ngày càng được khẳng định. Văn kiện Đại hội XIV xác định NCT là nguồn lực quan trọng, tham gia trên nhiều lĩnh vực như văn hóa, giáo dục, y tế và cộng đồng. Trong bối cảnh già hóa nhanh, Việt Nam cần thích ứng bằng việc xây dựng hệ thống an sinh xã hội bền vững, phát triển dịch vụ chăm sóc dài hạn, đồng thời hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển kinh tế bạc.

Hiện nay, kinh tế bạc tại Việt Nam đã hình thành với các hoạt động như chăm sóc y tế, phục hồi chức năng, dịch vụ dưỡng lão và ứng dụng công nghệ. Cả nước có khoảng 300 cơ sở chăm sóc NCT. NCT tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế với khoảng 9 triệu người còn lao động, 400.000 người là chủ doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh, cùng lực lượng trí thức cao tuổi đông đảo. Kinh tế bạc ước chiếm khoảng 10% GDP. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế như thiếu khung chính sách đồng bộ, hệ thống chăm sóc chưa đáp ứng nhu cầu, chất lượng mô hình chưa cao và chưa phát huy đầy đủ vai trò của NCT.

Trên thế giới, kinh tế bạc đang phát triển mạnh. Trung Quốc có hơn 310 triệu NCT, đóng góp khoảng 6% GDP và dự kiến đạt 10%. Nhật Bản coi đây là trụ cột kinh tế với khoảng 20% GDP. Singapore cũng già hóa nhanh, kinh tế bạc dự báo đạt giá trị lớn, tạo động lực đổi mới và cơ hội cho doanh nghiệp.

Dưới góc độ an ninh phi truyền thống, kinh tế bạc liên quan đến an ninh y tế, tài chính, xã hội và công nghệ. NCT đối mặt với nguy cơ bệnh tật, nghèo hóa và cô đơn, đòi hỏi phát triển hệ thống bảo hiểm, dịch vụ chăm sóc và cộng đồng thân thiện. Đồng thời, cần nâng cao kỹ năng số, bảo đảm an toàn công nghệ và phát triển môi trường sống thích ứng.

Phát triển kinh tế bạc mang ý nghĩa chiến lược, góp phần chuyển từ tiếp cận thụ động sang chủ động, huy động nguồn lực xã hội, đa dạng hóa an sinh và thúc đẩy chuyển đổi số an toàn. Đây không chỉ là cơ hội kinh tế mà còn là giải pháp quan trọng bảo đảm an sinh trong bối cảnh già hóa dân số.

TỔNG THUẬT: Tọa đàm 'Phát triển

GS.TS Vũ Văn Hiền, nguyên Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương: Người cao tuổi vẫn là nguồn lực quan trọng, có thể đóng góp trí tuệ, kinh nghiệm và giá trị tinh thần cho xã hội - Ảnh: VGP

GS.TS Vũ Văn Hiền, nguyên Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương: Vấn đề người cao tuổi không chỉ dừng lại ở kinh tế, mà còn liên quan chặt chẽ đến an ninh phi truyền thống, tác động đến đời sống xã hội và sự phát triển của đất nước.

Hiện nay, Việt Nam có hơn 17 triệu người cao tuổi, chiếm trên 13% dân số; dự báo đến năm 2036 sẽ vượt 20%. Điều này đưa nước ta vào nhóm quốc gia có tốc độ già hóa nhanh trên thế giới. Nếu chỉ coi người cao tuổi là đối tượng cần chăm sóc, bảo đảm an sinh thì là cách nhìn chưa đầy đủ. Cần nhìn nhận hai mặt: Một mặt, đây là trách nhiệm của toàn xã hội đối với những người đã cống hiến; mặt khác, người cao tuổi vẫn là nguồn lực quan trọng, có thể đóng góp trí tuệ, kinh nghiệm và giá trị tinh thần cho xã hội.

Do đó, bên cạnh "kinh tế bạc", chúng ta cũng cần quan tâm đến "xã hội bạc". Người cao tuổi không chỉ tạo ra giá trị vật chất mà còn góp phần nâng cao đời sống tinh thần, lan tỏa các giá trị tốt đẹp trong cộng đồng. Thực tế cho thấy, vai trò của người cao tuổi trong cộng đồng rất lớn, đặc biệt trong việc định hướng, dẫn dắt xã hội.

Từ góc độ an ninh phi truyền thống, có thể nhìn nhận một số vấn đề chính:

Thứ nhất, cần chuyển từ tư duy an sinh đơn thuần sang phát huy nguồn lực người cao tuổi. Nhóm tuổi 60–70 là giai đoạn chín muồi về chuyên môn, kinh nghiệm, có thể xem như "ngân hàng chuyên gia" quý giá. Cần có cơ chế phù hợp để tận dụng nguồn lực này, kể cả thông qua làm việc từ xa.

Thứ hai, người cao tuổi đóng vai trò quan trọng trong việc giữ gìn ổn định xã hội. Tiếng nói của họ có sức thuyết phục cao, có thể góp phần ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, phản bác thông tin sai lệch và củng cố niềm tin trong cộng đồng.

Thứ ba, họ là lực lượng nòng cốt trong bảo tồn văn hóa, đạo đức và truyền thống. Những kinh nghiệm sống, tri thức tích lũy của người cao tuổi là nền tảng quan trọng giúp xã hội phát triển bền vững và hạn chế rủi ro.

Thứ tư, cần đặc biệt quan tâm bảo vệ người cao tuổi trước các nguy cơ trong xã hội hiện đại. Đây là nhóm dễ bị tổn thương, nhất là trước các hình thức lừa đảo về tài chính, sức khỏe và tinh thần trong môi trường số.

Như vậy, người cao tuổi không chỉ là đối tượng cần được chăm sóc mà còn là một "nguồn vốn bạc" quý giá của quốc gia, bao gồm trí tuệ, văn hóa và kinh nghiệm. Nếu được nhìn nhận và khai thác đúng, đây sẽ là nguồn lực quan trọng góp phần bảo đảm an ninh phi truyền thống và phát triển bền vững đất nước.

TỔNG THUẬT: Tọa đàm 'Phát triển

Thầy thuốc nhân dân, GS.TS. Lê Ngọc Thành, Hiệu trưởng Trường Đại học Y Dược - Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) phát biểu tạo Tọa đàm - Ảnh: VGP

Thầy thuốc nhân dân, GS.TS. Lê Ngọc Thành, Hiệu trưởng Trường Đại học Y Dược - Đại học Quốc gia Hà Nội: Về phát triển nguồn nhân lực và đào tạo y khoa, Việt Nam cần thay đổi cách tiếp cận, không chỉ dừng ở chăm sóc người cao tuổi mà còn phải khai thác hiệu quả nguồn lực này. Thực tế ở nhiều quốc gia như Nhật Bản, lực lượng lao động lớn tuổi vẫn tham gia tích cực vào nhiều lĩnh vực, trong khi tại Việt Nam, việc tận dụng nguồn nhân lực có kinh nghiệm vẫn còn hạn chế.

Quá trình phát triển khối ngành sức khỏe vẫn đang trong giai đoạn hoàn thiện. Trường Đại học Y Dược - Đại học Quốc gia Hà Nội đã từng bước xây dựng các đơn vị đào tạo, trong đó có việc hình thành và phát triển một số khoa thành trường trực thuộc.

Trong quá trình này, vai trò của đội ngũ giảng viên, chuyên gia có kinh nghiệm được đánh giá là rất quan trọng. Nhiều giảng viên đầu ngành tham gia giảng dạy chủ yếu với tinh thần cống hiến, không đặt nặng lợi ích cá nhân. Đây được xem là nguồn lực quý, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và tạo dựng môi trường học thuật ổn định.

Việc tham gia quản lý và điều hành được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, với mục tiêu chính là xây dựng môi trường học thuật để đồng nghiệp có điều kiện cống hiến, đồng thời giúp sinh viên và gia đình yên tâm trong quá trình học tập. Việc bổ nhiệm, mời gọi nhân sự được thực hiện theo quy trình chặt chẽ, đảm bảo sự tín nhiệm của tập thể.

Cơ chế lựa chọn nhân sự cần dựa trên sự đồng thuận và tín nhiệm. Ví dụ, lãnh đạo nhà trường được bầu chọn thông qua hình thức bỏ phiếu kín với tỉ lệ đồng thuận cao. Cách làm này được cho là tạo sự đoàn kết và nâng cao hiệu quả quản trị trong cơ sở giáo dục đại học.

Về vấn đề thu hút nguồn lực chất lượng cao, việc mời gọi nhân sự không nên bị giới hạn bởi phạm vi, cần có cơ chế phù hợp để phát huy tối đa năng lực của đội ngũ trong nước.

Đối với đào tạo ngành y, một thực tế được chỉ ra là nhiều chuyên ngành như pháp y, tâm thần, hồi sức cấp cứu, lao và bệnh truyền nhiễm đang thiếu nhân lực. Nguyên nhân chủ yếu không phải do sinh viên không quan tâm, mà do điều kiện làm việc và thu nhập chưa tương xứng.

Theo chia sẻ, trong quá trình học, không ít sinh viên bày tỏ sự yêu thích đối với các chuyên ngành này. Tuy nhiên, khi cân nhắc về cơ hội nghề nghiệp và thu nhập sau tốt nghiệp, nhiều người chuyển hướng sang các lĩnh vực khác.

Cần có chính sách hỗ trợ cụ thể, đặc biệt là về tài chính. Ví dụ, có thể áp dụng cơ chế hỗ trợ tương tự một số ngành đặc thù, trong đó sinh viên được hưởng chế độ đãi ngộ ngay từ khi còn đi học. Khi ra trường, những người làm việc trong các lĩnh vực khó khăn, nguy hiểm cần được hưởng mức lương cao hơn để đảm bảo đời sống.

Ngoài ra, chính sách phân bổ và luân chuyển nhân lực giữa các địa phương cũng cần được điều chỉnh. Theo đó, cần có sự chênh lệch hợp lý về thu nhập giữa các khu vực, nhằm khuyến khích nhân lực làm việc tại những địa bàn khó khăn. Việc công khai thông tin về chế độ đãi ngộ ngay từ đầu sẽ giúp sinh viên có cơ sở lựa chọn ngành học phù hợp.

Việc xây dựng cơ chế minh bạch, rõ ràng sẽ tạo động lực cho người học, đồng thời góp phần giải quyết tình trạng thiếu hụt nhân lực trong các chuyên ngành thiết yếu.

Việt Nam hiện có nhiều nghiên cứu về chương trình đào tạo y khoa, tuy nhiên cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Việc tăng cường trao đổi giữa các cơ sở đào tạo được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế trong thời gian tới.

TỔNG THUẬT: Tọa đàm 'Phát triển

AHLĐ.GS.TS. Nguyễn Anh Trí, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách của Thủ tướng: Cần nhìn nhận "an ninh sức khỏe" của người cao tuổi như một vấn đề an ninh phi truyền thống - Ảnh: VGP

AHLĐ.GS.TS. Nguyễn Anh Trí, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách của Thủ tướng: Tôi muốn bắt đầu từ việc nhìn nhận thẳng thắn, đầy đủ về thế mạnh và hạn chế của người cao tuổi.

Về thế mạnh, có rất nhiều, nhưng cơ bản nhất vẫn là kinh nghiệm, tri thức và sự mẫu mực. Mẫu mực trong đời sống, trong lời ăn tiếng nói và trong cách ứng xử. Bên cạnh đó, có một điểm tuy mang tính gián tiếp nhưng rất đáng quý, đó là người cao tuổi luôn trân trọng quá khứ. Chính sự trân trọng ấy là nền tảng cho tình yêu quê hương, đất nước, là điều kiện để gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống như dân ca, phong tục, tập quán,… Nếu biết tận dụng những thế mạnh này, chúng ta hoàn toàn có thể phát triển hiệu quả "kinh tế bạc".

Tuy nhiên, đi cùng với thế mạnh, người cao tuổi cũng có những hạn chế. Hạn chế lớn nhất vẫn là sức khỏe. Sức khỏe yếu đi theo thời gian.

Chính từ việc nhìn nhận rõ thế mạnh và hạn chế đó, với tư cách là một bác sĩ, tôi muốn tập trung vào một khía cạnh quan trọng để phát triển kinh tế bạc, đó là sức khỏe.

Trước hết, cần nhìn nhận "an ninh sức khỏe" của người cao tuổi như một vấn đề an ninh phi truyền thống. Đây không phải là súng đạn hay những mối đe dọa hữu hình, mà là những nguy cơ âm thầm nhưng có tác động sâu rộng. Việc chăm sóc sức khỏe không thể chỉ dừng ở cách làm tự phát, mà cần được nâng lên thành một chiến lược, một chính sách bài bản.

Để đảm bảo an ninh sức khỏe cho người cao tuổi, theo tôi có hai khía cạnh quan trọng.

Thứ nhất là làm sao để người cao tuổi ít bệnh tật, duy trì được sức khỏe. Và xin nhấn mạnh, đó cũng chính là kinh tế. Không có giường nào đắt bằng giường bệnh. Khi người thân ốm đau, không chỉ chi phí tăng lên mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động, đến tâm lý và hiệu quả công việc của cả gia đình, thậm chí cả một cơ quan. Do đó, đầu tư cho phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe chủ động chính là đầu tư cho kinh tế.

Từ đó đặt ra yêu cầu phải triển khai hiệu quả các biện pháp như khám sức khỏe định kỳ, sàng lọc bệnh. Tôi rất mừng khi thấy những tiến bộ như việc ứng dụng chụp CT liều thấp, xét nghiệm GenXpert trong sàng lọc bệnh lao, một căn bệnh đang có xu hướng quay trở lại và đặc biệt nguy hiểm với người cao tuổi. Những việc làm như vậy nếu được triển khai tốt, bản thân nó đã tạo ra giá trị kinh tế.

Thứ hai là phát triển hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khỏe dành cho người cao tuổi. Đây vừa là nhu cầu thiết yếu, vừa là một lĩnh vực kinh tế tiềm năng. Các mô hình như nhà dưỡng lão, trung tâm chăm sóc ban ngày, hay các khu an dưỡng,… đều có thể phát triển mạnh.

Tôi từng có dịp nghiên cứu tại Nhật Bản và Hawaii, nơi các mô hình dưỡng lão được tổ chức rất hiệu quả. Người cao tuổi đến đó sinh sống dài hạn, kéo theo nhu cầu thăm nom của con cháu, qua đó thúc đẩy du lịch và dịch vụ. Việt Nam hoàn toàn có tiềm năng phát triển mô hình này. Nếu được đầu tư đúng hướng, đây sẽ là nguồn lợi rất lớn.

Ngoài ra, cũng cần nhìn nhận lại một số vấn đề như tuổi nghỉ hưu và tuổi nghỉ quản lý. Không nên đồng nhất hai khái niệm này. Có những người dù đã nghỉ hưu nhưng vẫn có năng lực quản lý rất tốt, thậm chí tạo ra giá trị kinh tế cao hơn trước. Do đó, cần có cách tiếp cận linh hoạt hơn.

Bên cạnh đó là các vấn đề về tuổi làm khoa học, tuổi giảng dạy cũng cần được xem xét một cách hợp lý hơn. 

TỔNG THUẬT: Tọa đàm 'Phát triển

GS.TS Bùi Thị An - Đại biểu Quốc hội khóa XIII, Viện trưởng Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển cộng đồng: Kinh tế bạc không còn là vấn đề riêng của người cao tuổi mà cần được nhìn nhận như một cấu phần quan trọng trong tổng thể nền kinh tế quốc gia - Ảnh: VGP

GS.TS Bùi Thị An - Đại biểu Quốc hội khóa XIII, Viện trưởng Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển cộng đồng:  Trong bối cảnh các động lực tăng trưởng truyền thống dần suy giảm, "kinh tế bạc" đang nổi lên như một hướng đi chiến lược, không chỉ mở ra cơ hội phát triển kinh tế mà còn góp phần giải quyết các thách thức an sinh xã hội tại Việt Nam.

Nhiều ý kiến đã nhấn mạnh tính cấp thiết của việc phát triển kinh tế bạc trong giai đoạn hiện nay. Theo đó, đây không còn là vấn đề riêng của người cao tuổi mà cần được nhìn nhận như một cấu phần quan trọng trong tổng thể nền kinh tế quốc gia.

Thực tế cho thấy, mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ của Việt Nam đang dần chạm tới giới hạn. Trong khi đó, quá trình già hóa dân số diễn ra nhanh chóng lại mở ra một "thị trường" và nguồn lực mới. Việc phát triển kinh tế bạc vì vậy được đánh giá là bước đi đúng hướng, phù hợp với xu thế toàn cầu.

Tuy nhiên, một trong những rào cản lớn hiện nay là nhận thức về kinh tế bạc còn chưa đầy đủ. Nhiều người vẫn hiểu khái niệm này theo nghĩa hẹp, chủ yếu gắn với chăm sóc sức khỏe, dịch vụ dưỡng lão. Trên thực tế, kinh tế bạc cần được tiếp cận toàn diện hơn, bao gồm cả việc phát huy vai trò của người cao tuổi như một chủ thể kinh tế, đặc biệt là nguồn lực trí tuệ chất lượng cao.

Trong bối cảnh tuổi nghỉ hưu đã được điều chỉnh tăng, nếu không có cơ chế phù hợp để sử dụng hiệu quả đội ngũ này, xã hội sẽ đối mặt với nguy cơ lãng phí một nguồn chất xám lớn. Do đó, cần có chính sách phân loại linh hoạt theo tính chất lao động, thay vì áp dụng đồng loạt, nhằm vừa bảo đảm an sinh, vừa tận dụng được kinh nghiệm và tri thức của lực lượng lao động cao tuổi.

Bên cạnh đó, kinh tế bạc tại Việt Nam hiện vẫn phát triển manh mún, thiếu sự liên kết và chưa hình thành được một hệ sinh thái đồng bộ. Những "điểm nghẽn" về thể chế, chính sách và cơ chế khuyến khích đang là rào cản lớn đối với quá trình phát triển lĩnh vực này.

Từ những thực tế nêu trên, tôi đề xuất một số kiến nghị cụ thể như sau:

Thứ nhất, cần có giải pháp tổng thể để nâng cao nhận thức của toàn xã hội về kinh tế bạc. Chúng ta phải coi kinh tế bạc là một ngành kinh tế chính thức và tiềm năng của Việt Nam. Thậm chí, trong quá trình hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Thủ đô (sửa đổi), cần đưa nội dung về phát triển kinh tế bạc thành một mục tiêu chiến lược.

Thứ hai, các cơ quan chức năng, đặc biệt là các chuyên gia pháp lý, cần thực hiện rà soát lại toàn bộ hệ thống pháp luật liên quan đến người cao tuổi. Những quy định nào không còn phù hợp hoặc đang cản trở xu thế phát triển kinh tế bạc cần phải được kiến nghị sửa đổi, bổ sung kịp thời.

Thứ ba, song song với việc gỡ khó về thể chế, cần xây dựng các cơ chế tài chính và cơ chế thu hút nhân tài là người cao tuổi, đặc biệt là đội ngũ trí thức, chuyên gia tiếp tục tham gia đóng góp.

TỔNG THUẬT: Tọa đàm 'Phát triển

Thượng tướng, GS.TS. Nguyễn Văn Thành, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an, Phó Chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận Trung ương, đề xuất 6 giải pháp để phát triển kinh tế bạc - Ảnh: VGP

Thượng tướng, GS.TS. Nguyễn Văn Thành, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an, Phó Chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận Trung ương: Hiện nay, thế giới đang đặc biệt quan tâm đến khái niệm "kinh tế bạc", nhiều quốc gia đưa ra các chính sách và cơ chế rõ ràng cho vấn đề này. Tuy nhiên, khi áp dụng tại Việt Nam, chúng ta cần hiểu nội hàm của nó một cách toàn diện: Đây không chỉ là câu chuyện về "kinh tế", mà còn bao trùm cả khái niệm "xã hội bạc" và "những công dân đầu bạc" (người cao tuổi).

Nhìn từ bài học của Nhật Bản – một quốc gia đang đối mặt với khủng hoảng suy giảm và già hóa dân số, Việt Nam cũng đang bước vào giai đoạn già hóa rất nhanh. Do đó, đầu tiên chúng ta cần có nhận thức đúng về kinh tế bạc, từ nhận thức đúng chúng ta sẽ có hành động đúng.

Bên cạnh đó, sự phát triển của kinh tế bạc luôn gắn liền với các thách thức về an ninh phi truyền thống, đặc biệt trong bối cảnh bùng nổ của công nghệ số, kinh tế ảo và trí tuệ nhân tạo.

Về thách thức: Đó là sự già hóa, thiếu hụt lực lượng lao động trẻ, nguy cơ bị tụt hậu, thậm chí trở thành nạn nhân của lừa đảo trên không gian mạng.

Về cơ hội: Người cao tuổi là một kho tàng trí tuệ và kinh nghiệm sống. Họ đã từng trải qua cả thành công lẫn thất bại, những bài học đó cần được đúc rút để đóng góp lại cho xã hội và định hướng cho thế hệ sau.

Về các định hướng chiến lược để phát triển kinh tế bạc: Để đảm bảo cho thế hệ "công dân bạc" một cuộc sống chủ động thích ứng và an toàn, cần tập trung vào các giải pháp trọng tâm sau:

Một là, thực hiện phân tích toàn diện: Cần đánh giá rõ điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của nền kinh tế bạc tại Việt Nam để có cơ sở hoạch định chính sách.

Hai là, hoàn thiện thể chế và hành lang pháp lý về kinh tế bạc.

Ba là, xây dựng tư duy và quy hoạch chiến lược: Chúng ta không thể phát triển kinh tế bạc một cách tự phát, cần có tầm nhìn chiến lược và quy hoạch rõ ràng cho các mốc thời gian 2030, 2045.

Bốn là, thiết lập Bộ chỉ số quản trị đặc thù: Quản trị kinh tế bạc cần có các bộ chỉ số đo lường mang đậm bản sắc Việt Nam.

Năm là, khuyến khích học tập suốt đời, người cao tuổi cần không ngừng tự học hỏi để thích nghi với môi trường số hóa.

Sáu là, chú trọng các mô hình thực tiễn: Triển khai linh hoạt các mô hình, đúc rút kinh nghiệm từ các bài học thành công và thất bại trên thế giới để áp dụng phù hợp với từng vùng miền (đồng bằng, miền núi, ven biển...) và bảo vệ người cao tuổi trong kỷ nguyên số.

TỔNG THUẬT: Tọa đàm 'Phát triển

GS.TS Hoàng Đình Phi, Hiệu trưởng Trường Quản trị và Kinh doanh, ĐHQG Hà Nội - Ảnh: VGP

GS.TS Hoàng Đình Phi, Hiệu trưởng Trường Quản trị và Kinh doanh, ĐHQG Hà Nội:  Trước hết, cần nhìn nhận rõ vai trò của hệ thống chính sách trong phát triển lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và kinh tế bạc. Theo đó, không chỉ dừng lại ở một nghị quyết chung, cần thiết phải xây dựng thêm các nghị quyết chi tiết, như Nghị quyết 72-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển y tế và các văn bản tiếp theo… nhằm cụ thể hóa nội hàm của Nghị quyết 72. Các nghị quyết này phải phân định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từ Trung ương đến địa phương, để tạo nền tảng cho việc triển khai hiệu quả.

Trong đó, Nghị quyết 72 cần làm rõ trách nhiệm của các bộ, ngành, đặc biệt là Bộ Y tế và Sở Y tế các địa phương, trong việc phát triển thị trường chăm sóc sức khỏe hiện đại cho người dân. Nội dung này không chỉ bao gồm dịch vụ y tế mà còn liên quan đến thị trường dược phẩm, trong đó cần chú trọng cả tân dược và Đông y, Đông dược. Thực tế cho thấy, trong nhiều năm qua, thị trường thuốc Đông dược, thuốc Nam của Việt Nam chưa được phát triển tương xứng, trong khi đây là lĩnh vực có tiềm năng lớn.

Việc phụ thuộc chủ yếu vào thuốc Tây và nguồn cung từ nước ngoài không chỉ làm tăng chi phí ngoại tệ mà còn ảnh hưởng đến tính tự chủ của nền y tế quốc gia. Đồng thời, điều này cũng khiến năng lực sản xuất trong nước suy giảm, đặc biệt là ngành y học cổ truyền. Trong khi đó, nhiều quốc gia như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản đã phát triển rất mạnh lĩnh vực này. Vì vậy, việc khôi phục và phát triển ngành công nghiệp y học cổ truyền Việt Nam cần được đặt ra như một nhiệm vụ quan trọng.

Một nội dung quan trọng khác là công tác truyền thông. Sau các hội thảo, tọa đàm, cần có kết luận chung, đồng thời làm rõ và lan tỏa các định hướng lớn đến toàn xã hội. Đặc biệt, cần nhấn mạnh vai trò của kinh tế bạc không chỉ đối với người cao tuổi mà còn liên quan đến phát triển kinh tế và an ninh quốc gia. Nếu được triển khai tốt, lĩnh vực này có thể tạo ra những thay đổi đáng kể đối với cấu trúc kinh tế - xã hội.

Về chính sách thu hút đầu tư, đặc biệt là khu vực tư nhân, hiện vẫn còn nhiều vướng mắc. Các mô hình dịch vụ chăm sóc người cao tuổi như dưỡng lão theo ngày, theo tuần hoặc theo tháng chưa được phát triển mạnh do thiếu cơ chế hỗ trợ rõ ràng về đất đai, thuế và thủ tục pháp lý. Chi phí đầu tư cho các cơ sở này rất lớn, trong khi chính sách ưu đãi chưa đủ để khuyến khích doanh nghiệp tham gia.

Thực tế cho thấy, ngay cả những người có thu nhập khá, bao gồm cả các chuyên gia, giáo sư sau khi nghỉ hưu, cũng khó có khả năng tiếp cận các dịch vụ dưỡng lão chất lượng cao. Điều này đặt ra câu hỏi về tính công bằng, khi những người đã đóng góp nhiều cho xã hội lại không có điều kiện đảm bảo cuộc sống khi về già. Đồng thời, điều này cũng có thể ảnh hưởng đến động lực cống hiến của thế hệ trẻ.

Về nguồn nhân lực, Việt Nam đã có nhiều nhóm ngành liên quan đến kinh tế bạc, bao gồm chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng, bất động sản dưỡng lão, tài chính, bảo hiểm, du lịch nghỉ dưỡng, công nghệ hỗ trợ… Tuy nhiên, việc thống kê, phân tích và khai thác dữ liệu về các ngành này chưa được thực hiện đầy đủ. Với sự hỗ trợ của công nghệ và dữ liệu, hoàn toàn có thể xác định quy mô, đóng góp của các lĩnh vực này trong nền kinh tế.

Từ đó, cần xây dựng chiến lược đào tạo nguồn nhân lực phù hợp, từ đội ngũ quản lý đến bác sĩ, điều dưỡng, nhân viên chăm sóc, cũng như các chuyên ngành liên quan đến y học cổ truyền. Đây là yếu tố quan trọng để phát triển bền vững kinh tế bạc trong tương lai.

Về giải pháp triển khai, cần chuyển từ trao đổi, thảo luận sang hành động cụ thể. Một trong những giải pháp là thiết lập các thỏa thuận hợp tác có tính pháp lý giữa các chủ thể liên quan. Trong đó, Hội Người cao tuổi Việt Nam được xác định là một chủ thể trung tâm, đóng vai trò kết nối, dẫn dắt và thúc đẩy sự tham gia của người cao tuổi.

Bên cạnh đó, các trường đại học, đặc biệt là các cơ sở đào tạo y dược và chăm sóc sức khỏe, cần chủ động phối hợp với Hội Người cao tuổi để xây dựng các chương trình hợp tác. Các bệnh viện, doanh nghiệp và tổ chức xã hội cũng cần tham gia vào mạng lưới này, tạo thành một hệ sinh thái phối hợp chặt chẽ.

Để triển khai hiệu quả, cần lựa chọn những mô hình thí điểm phù hợp, ưu tiên các đơn vị có điều kiện thuận lợi như doanh nghiệp xã hội hoặc các tổ chức không vì lợi nhuận. Mục tiêu trước mắt là xây dựng các mô hình cụ thể, có thể đo lường được bằng các chỉ số rõ ràng, thay vì chỉ dừng lại ở các ý tưởng chung chung.

Các mô hình này có thể bao gồm mô hình không vì lợi nhuận, mô hình hòa vốn và mô hình có lợi nhuận. Mỗi mô hình đều cần được đánh giá không chỉ về hiệu quả kinh tế mà còn về hiệu quả xã hội, như đóng góp vào an ninh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và ổn định xã hội.

Việc xây dựng các mô hình có số liệu cụ thể, có chỉ số đánh giá (KPI) rõ ràng là cơ sở quan trọng để báo cáo với Chính phủ và các cơ quan quản lý, từ đó làm căn cứ để hoàn thiện chính sách và nhân rộng trong thực tiễn.

TỔNG THUẬT: Tọa đàm 'Phát triển

Thiếu tướng, PGS.TS. Nguyễn Phong Hoà, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát, Bộ Công an - Ảnh: VGP

Thiếu tướng, PGS.TS. Nguyễn Phong Hoà, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát, Bộ Công an: Tôi đánh giá rất cao tầm quan trọng của các vấn đề đã nêu. Tuy nhiên, việc triển khai cần có lộ trình từng bước, kết hợp chặt chẽ giữa Hội Người cao tuổi Việt Nam, Bộ Y tế và các cơ quan hữu quan. 

Về khái niệm "kinh tế bạc": Chúng ta cần nhận diện đây là hệ thống các hoạt động kinh tế phục vụ người cao tuổi, bao gồm y tế, dịch vụ chăm sóc, tài chính và bảo hiểm. Nhật Bản là quốc gia đi đầu trong khái niệm này và đã được các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB) ghi nhận. "Kinh tế bạc" không chỉ bó hẹp trong đối tượng người cao tuổi mà là toàn bộ hệ sinh thái xung quanh họ, mang tính chất cộng đồng và xã hội sâu sắc.

Thứ hai, về nguồn lực trí thức cao tuổi, thực tế cho thấy, nhiều chuyên gia, nhà khoa học ở độ tuổi trên 60 mới là thời điểm đạt độ chín nhất về tri thức và kinh nghiệm. Vấn đề đặt ra là cơ chế sử dụng nguồn lực này như thế nào? Hiện nay, tại các bộ, ngành hoặc cơ sở đào tạo, đội ngũ giáo sư và cán bộ trẻ đã tương đối đông đảo, dẫn đến việc chưa tận dụng hết chất xám của các chuyên gia vừa nghỉ hưu vì lo ngại ảnh hưởng đến cơ hội việc làm của thế hệ trẻ. Đây là vấn đề cần được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan chức năng nghiên cứu, hóa giải.

Tôi xin trình bày ba nhóm kiến nghị chính:

Một là, gắn kết "kinh tế bạc" với "an ninh con người". An ninh con người bao hàm 7 nội hàm, trong đó an ninh kinh tế và an ninh sức khỏe là trọng tâm. Việc giải quyết tốt các vấn đề này chính là chìa khóa để ứng phó hiệu quả với các thách thức đối với an ninh phi truyền thống và bảo đảm an ninh quốc gia.

Hai là, về chính sách đối với đội ngũ trí thức trong lực lượng cựu Công an nhân dân. Hiện nay, Hội Cựu Công an nhân dân Việt Nam đặt mục tiêu huy động khoảng 70% đến 80% đội ngũ giáo sư, tiến sĩ và các nhà khoa học đã nghỉ hưu tham gia vào các hoạt động đóng góp cho ngành. Cần có chính sách, chế độ đãi ngộ phù hợp để khơi dậy và sử dụng hiệu quả "nguồn năng lượng bạc" này.

Ba là, xây dựng cơ chế thực hiện "kinh tế bạc" trong phạm vi tình đồng đội và tại các cơ sở hội. Cụ thể là các chính sách về chăm sóc sức khỏe, chế độ chữa bệnh và đặc biệt là xem xét lại các quy định về thuế đối với thu nhập từ hoạt động chuyên gia của người cao tuổi nhằm khuyến khích sự cống hiến. Chúng ta cần tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa cộng đồng xã hội, con người và lực lượng cựu Công an nhân dân theo định hướng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Các nội dung này đã được chúng tôi đưa vào dự thảo chương trình hành động để trình cấp có thẩm quyền xem xét.

TỔNG THUẬT: Tọa đàm 'Phát triển "kinh tế bạc" từ góc nhìn an ninh phi truyền thống'- Ảnh 10.

ThS. Lê Ngự Bình, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Tổ chức nhà nước và Lao động - Ảnh: VGP

ThS. Lê Ngự Bình, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Tổ chức nhà nước và Lao động: Già hóa dân số là vấn đề cần đặc biệt lưu tâm, đồng thời cũng mở ra cơ hội cho phát triển kinh tế bạc trong thời gian tới. Vì vậy, cần nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận từ các cấp, các ngành đến người dân. Việc triển khai các nghị quyết hiện nay vẫn còn hạn chế, đòi hỏi phải được quán triệt, hiểu đúng và thực hiện hiệu quả hơn.

Trong định hướng thời gian tới, cần thống nhất tư duy phát triển kinh tế bạc một cách đồng bộ, hài hòa giữa các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa; chuyển từ cách tiếp cận coi già hóa là gánh nặng sang tạo môi trường, cơ hội để phát triển; gắn với các chiến lược quốc gia về người cao tuổi và các chủ trương của Đảng, Nhà nước trong một tổng thể nhất quán.

Đồng thời, cần xác định già hóa dân số là một thị trường tiềm năng, từ đó đổi mới tư duy để phát triển hệ sinh thái chăm sóc sức khỏe và dịch vụ cho người cao tuổi với mô hình phù hợp. Hiện nay, các mô hình chăm sóc còn hạn chế về nguồn lực và khả năng đáp ứng, do đó cần khuyến khích khu vực tư nhân tham gia, đồng thời có cơ chế phù hợp để tháo gỡ khó khăn trong quá trình triển khai tại địa phương.

Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò của người cao tuổi trong xã hội; tập trung hoàn thiện thể chế, xây dựng chiến lược tổng thể để định hướng đầu tư và chuyển đổi phù hợp. Hạ tầng phục vụ kinh tế bạc cần được đầu tư đồng bộ, có trọng tâm, ưu tiên lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe, chăm sóc dài hạn và hệ thống y tế cơ sở, đồng thời xây dựng môi trường sống an toàn, thân thiện cho người cao tuổi.

Về nguồn lực, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, tạo môi trường và cơ chế, tập trung hỗ trợ nhóm yếu thế, đồng thời dẫn dắt trong các lĩnh vực thiết yếu. Cùng với đó, cần đẩy mạnh hợp tác công – tư và phát triển các công cụ tài chính như bảo hiểm xã hội đa tầng.

Ngoài ra, cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, xây dựng đội ngũ chuyên nghiệp trong chăm sóc và cung cấp dịch vụ cho người cao tuổi; đồng thời tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền nhằm tạo đồng thuận xã hội, giúp người cao tuổi hiểu rõ quyền lợi, trách nhiệm và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế bạc.

TỔNG THUẬT: Tọa đàm 'Phát triển "kinh tế bạc" từ góc nhìn an ninh phi truyền thống'- Ảnh 11.

Ông Đoàn Hữu Minh, Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc: Kinh tế bạc là cơ hội nếu được tiếp cận đúng hướng, góp phần duy trì tăng trưởng và đảm bảo an sinh xã hội trong bối cảnh dân số già hóa nhanh - Ảnh: VGP

Ông Đoàn Hữu Minh, Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc: Việt Nam đang đối mặt với thách thức lớn khi tốc độ già hóa dân số diễn ra nhanh. Dự báo đến năm 2034, Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn dân số già, trong khi mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao đặt ra vào năm 2045. Điều này đồng nghĩa với nguy cơ "già trước khi giàu", tạo áp lực lớn lên tăng trưởng kinh tế và hệ thống an sinh xã hội.

Để phát triển kinh tế bạc hiệu quả, kinh nghiệm quốc tế cho thấy cần dựa trên ba trụ cột của "già hóa tích cực": Kinh tế, sức khỏe và sự tham gia xã hội. Đồng thời, cần chuyển từ lợi thế dân số vàng sang mô hình trong đó người cao tuổi vẫn có thể tự chủ tài chính và tiếp tục đóng góp cho xã hội.

Thực trạng tại Việt Nam cho thấy nhiều thách thức: Thời gian lao động tạo thặng dư kinh tế còn hạn chế; người cao tuổi có nhiều năm sống trong tình trạng sức khỏe không tốt; tỉ lệ được hưởng lương hưu còn thấp, khiến phần lớn vẫn phụ thuộc vào gia đình. Điều này cho thấy hệ sinh thái kinh tế bạc chưa phát triển đầy đủ.

Trong thời gian tới, cần xây dựng một hệ sinh thái đồng bộ với sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp và chính người cao tuổi. Trọng tâm là thúc đẩy già hóa khỏe mạnh, mở rộng thị trường việc làm cho người cao tuổi, phát triển các ngành dịch vụ chuyên biệt như chăm sóc, y tế, du lịch nghỉ dưỡng, đồng thời hoàn thiện khung pháp lý, bao gồm cả việc công nhận các nghề liên quan đến chăm sóc người cao tuổi.

Kinh tế bạc không chỉ là thách thức mà còn là cơ hội nếu được tiếp cận đúng hướng, góp phần duy trì tăng trưởng và đảm bảo an sinh xã hội trong bối cảnh dân số già hóa nhanh.