
Trình tự, thủ tục áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong dẫn độ.
Dẫn độ là việc Việt Nam chuyển giao cho nước ngoài hoặc nước ngoài chuyển giao cho Việt Nam người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang có mặt trên lãnh thổ nước mình để nước tiếp nhận truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt đối với người đó.
Việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong dẫn độ được thực hiện khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
a) Tuân thủ nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi; phù hợp với Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
Trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước quốc tế về dẫn độ thì việc dẫn độ được thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế.
b) Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài có cam kết bằng văn bản về việc thực hiện yêu cầu của Việt Nam trong trường hợp tương tự. Trường hợp Việt Nam là nước yêu cầu dẫn độ, Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về dẫn độ có cam kết bằng văn bản về việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại;
c) Phù hợp với thực tiễn và nhu cầu hợp tác về dẫn độ giữa Việt Nam và nước ngoài.
Về áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong dẫn độ, Nghị định quy định Bộ Công an xem xét, quyết định chấp nhận áp dụng nguyên tắc này trong các trường hợp sau:
a) Bộ Công an đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong dẫn độ và cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài có văn bản chấp nhận;
b) Trước đó, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài chưa hợp tác dẫn độ nhưng cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài có văn bản cam kết áp dụng nguyên tắc có đi có lại.
Bộ Công an xem xét, quyết định từ chối áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong trường hợp Bộ Công an có đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong dẫn độ và cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đã có văn bản từ chối. Trong trường hợp này, Bộ Công an lấy ý kiến của Bộ Ngoại giao và các cơ quan có liên quan theo quy định tại khoản 3 Điều 6 của Nghị định này trước khi quyết định.
Việc cam kết áp dụng nguyên tắc có đi có lại của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc của nước ngoài phải được lập bằng văn bản. Cam kết này có thể được lập thành văn bản độc lập hoặc là nội dung trong văn bản yêu cầu dẫn độ.
Nghị định quy định khi tiếp nhận hồ sơ yêu cầu dẫn độ của nước ngoài, Bộ Công an có trách nhiệm kiểm tra nội dung cam kết áp dụng nguyên tắc có đi có lại. Trường hợp hồ sơ yêu cầu dẫn độ chưa có nội dung cam kết, Bộ Công an yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài bổ sung văn bản cam kết.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu dẫn độ hợp lệ kèm theo nội dung cam kết áp dụng nguyên tắc có đi có lại, Bộ Công an đánh giá nội dung cam kết đó với các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều 5 của Luật Dẫn độ. Trường hợp chấp nhận, Bộ Công an chuyển hồ sơ yêu cầu dẫn độ đến Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo quy định. Trường hợp từ chối, Bộ Công an thông báo bằng văn bản cho nước ngoài theo cách thức được quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật Dẫn độ và Điều 9 của Nghị định này và nêu rõ lý do.
Trường hợp hồ sơ yêu cầu dẫn độ có thể ảnh hưởng đến quan hệ chính trị, đối ngoại của Việt Nam với nước yêu cầu dẫn độ hoặc bên thứ ba, các cơ quan có liên quan thực hiện theo trình tự, thủ tục sau đây:
a) Bộ Công an lấy ý kiến của Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan có liên quan trước khi quyết định áp dụng nguyên tắc có đi có lại;
b) Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, các cơ quan được lấy ý kiến phải có văn bản trả lời Bộ Công an;
c) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến của các cơ quan liên quan, Bộ Công an quyết định về việc chấp nhận hoặc từ chối áp dụng nguyên tắc có đi có lại. Trường hợp chấp nhận, Bộ Công an chuyển hồ sơ yêu cầu dẫn độ đến Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo quy định. Trường hợp từ chối, Bộ Công an thông báo bằng văn bản cho nước ngoài theo cách thức được quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật Dẫn độ và Điều 9 của Nghị định này.
Nghị định quy định trường hợp nước ngoài đề nghị Việt Nam bổ sung cam kết áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong hồ sơ yêu cầu dẫn độ, Bộ Công an đánh giá nội dung cam kết đó với các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều 5 của Luật Dẫn độ.
Trường hợp chấp nhận, Bộ Công an có văn bản cam kết áp dụng nguyên tắc có đi có lại và chuyển văn bản này đến nước ngoài. Trường hợp từ chối, Bộ Công an chuyển thông báo này đến nước ngoài và nêu rõ lý do. Bộ Công an chuyển các văn bản này theo cách thức được quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật Dẫn độ và Điều 9 của Nghị định này.
Trường hợp đề nghị của nước ngoài có tính chất phức tạp hoặc có khả năng ảnh hưởng đến quan hệ chính trị, đối ngoại của Việt Nam với nước yêu cầu dẫn độ hoặc bên thứ ba, các cơ quan có liên quan thực hiện theo trình tự, thủ tục sau đây:
a) Bộ Công an lấy ý kiến của Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan có liên quan trước khi quyết định áp dụng nguyên tắc có đi có lại;
b) Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, các cơ quan được lấy ý kiến phải có văn bản trả lời Bộ Công an;
c) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến của các cơ quan liên quan, Bộ Công an quyết định về việc chấp nhận hoặc từ chối cam kết áp dụng nguyên tắc có đi có lại và chuyển văn bản này cho nước ngoài theo cách thức được quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật Dẫn độ và Điều 9 của Nghị định này.
Nghị định quy định các điều kiện cần phải đáp ứng và cam kết thực hiện trong dẫn độ được quy định tại Điều 13 của Luật Dẫn độ gồm:
1. Các thông tin và tài liệu nêu trong hồ sơ yêu cầu dẫn độ là chính xác, đúng sự thật; được thu thập và ban hành đúng thẩm quyền, tuân thủ trình tự, thủ tục pháp luật của nước yêu cầu dẫn độ.
2. Người có tên trong các quyết định tố tụng hình sự chính là người đã thực hiện hành vi phạm tội bị nêu trong yêu cầu dẫn độ.
3. Hành vi phạm tội bị nêu trong yêu cầu dẫn độ không phải là tội phạm liên quan đến chính trị.
4. Người bị yêu cầu dẫn độ sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì lý do chủng tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, quốc tịch, dân tộc hoặc vì các quan điểm chính trị hoặc địa vị xã hội của người đó.
5. Không truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không thi hành án đối với người bị yêu cầu dẫn độ tại nước yêu cầu dẫn độ vì một tội khác với tội được nêu trong yêu cầu dẫn độ được thực hiện trước khi bị dẫn độ hoặc không bị dẫn độ cho bên thứ ba, trừ các trường hợp được quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 15 của Luật Dẫn độ.
6. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thời hiệu thi hành bản án đối với người bị yêu cầu dẫn độ chưa hết.
7. Người bị yêu cầu dẫn độ không được miễn trách nhiệm hình sự, không được miễn chấp hành hình phạt.
8. Sau khi bị dẫn độ về nước yêu cầu dẫn độ, người bị dẫn độ sẽ được bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp theo các tiêu chuẩn pháp luật quốc tế, pháp luật của nước yêu cầu dẫn độ.
9. Các điều kiện khác theo thỏa thuận của nước yêu cầu dẫn độ và nước được yêu cầu dẫn độ.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026./.