In bài viết

Trình tự, thủ tục quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù

(Chinhphu.vn) - Chính phủ ban hành Nghị định số 171/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.

20/05/2026 17:13
Trình tự, thủ tục quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù- Ảnh 1.

Quy định chi tiết một số điều của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù

Nghị định này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam, cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài có liên quan đến chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Việt Nam với nước ngoài.

Trình tự, thủ tục quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù

Trong đó, Nghị định quy định rõ trình tự, thủ tục quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù.

Cụ thể, nước đề nghị quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù qua lãnh thổ Việt Nam phải gửi văn bản đề nghị quá cảnh theo quy định đến Bộ Công an trước ít nhất 10 ngày so với ngày dự kiến quá cảnh. 

Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Bộ Công an xem xét, quyết định việc cho phép quá cảnh. Việc chuyển văn bản đề nghị quá cảnh và văn bản trả lời có thể được thực hiện trên môi trường điện tử (hộp thư điện tử).  

Văn bản đề nghị quá cảnh phải có các nội dung sau đây: Ngày, tháng, năm và địa điểm lập văn bản; tên, địa chỉ của cơ quan có thẩm quyền của nước đề nghị quá cảnh; thông tin nhân thân người được chuyển giao, bao gồm họ, chữ đệm và tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, quốc tịch, số hộ chiếu, nơi thường trú và tình trạng sức khỏe của người được chuyển giao; thông tin về hành vi phạm tội của người được chuyển giao, hình phạt áp dụng đối với người được chuyển giao, thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc thi hành án; các đề nghị hỗ trợ từ cơ quan quản lý xuất nhập cảnh và lực lượng chức năng tại cửa khẩu của Việt Nam (nếu có); thông tin về lịch trình di chuyển, thời gian dự kiến quá cảnh, phương tiện vận chuyển, thành phần Đoàn áp giải và các loại vũ khí, công cụ hỗ trợ mang theo (nếu có); các thông tin cần thiết khác (nếu có).

Bộ Công an từ chối quá cảnh trong các trường hợp sau đây: Người được chuyển giao là công dân Việt Nam; hành vi phạm tội của người đang chấp hành án phạt tù không cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam; việc quá cảnh gây phương hại đến chủ quyền, an ninh, trật tự, an toàn xã hội của Việt Nam.  

Người đang chấp hành án phạt tù và nhân viên áp giải phải ở trong khu vực quá cảnh tại sân bay quốc tế hoặc tại cửa khẩu cảng biển trong thời gian chờ phương tiện để đi nước thứ ba, phù hợp với quy định của pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.

Trong thời gian quá cảnh, nhân viên áp giải của nước đề nghị phải chịu trách nhiệm chính trong việc giám sát, quản lý người đang chấp hành án phạt tù. Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh và lực lượng chức năng tại cửa khẩu của Việt Nam có trách nhiệm hỗ trợ bảo đảm an ninh, trật tự và giám sát chung. Mọi chi phí phát sinh trong thời gian quá cảnh do nước đề nghị quá cảnh chi trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.  

Trường hợp vận chuyển bằng đường hàng không mà không có kế hoạch hạ cánh tại Việt Nam nhưng phải hạ cánh đột xuất do sự cố kỹ thuật, tình trạng sức khỏe của người đang chấp hành án phạt tù, nhân viên áp giải, điều kiện thời tiết hoặc lý do bất khả kháng khác thì Trưởng đoàn áp giải hoặc người chỉ huy tàu bay phải thông báo ngay cho cơ quan quản lý xuất nhập cảnh tại sân bay về sự có mặt của người đang chấp hành án phạt tù trên tàu bay. Để bảo đảm an ninh, trật tự, cơ quan quản lý xuất nhập cảnh phối hợp với nhân viên áp giải của nước đề nghị thực hiện ngay các biện pháp giám sát, quản lý người đang chấp hành án phạt tù.  

Trong thời gian chờ chuyến bay tiếp theo, người đang chấp hành án phạt tù phải bị quản lý tại khu vực cách ly của sân bay theo quy định của pháp luật.

Các trường hợp đặc biệt trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù

Điểm c khoản 1 Điều 15 và điểm c khoản 1 Điều 32 Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù quy định 1 trong các điều kiện tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam, điều kiện chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài là:

Vào thời điểm nhận được yêu cầu chuyển giao, thời hạn chưa chấp hành án phạt tù phải còn ít nhất là 01 năm; trong trường hợp đặc biệt, thời hạn này có thể ít hơn 01 năm.

Nghị định quy định, việc tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam hoặc chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài có thể được tiến hành ngay cả khi thời hạn chưa chấp hành án phạt tù của người được đề nghị chuyển giao ít hơn 1 năm trong các trường hợp sau đây:

a- Người đang chấp hành án phạt tù bị mắc bệnh hiểm nghèo, bệnh nặng cần được chăm sóc y tế đặc biệt hoặc điều trị dài ngày mà trại giam ở nước ngoài hoặc Việt Nam không đáp ứng được hoặc để người đó được ở gần gia đình trong thời gian điều trị; người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước mà người đó đang chấp hành án phạt tù xác nhận.

b- Người đang chấp hành án phạt tù là người chưa thành niên.

c- Người đang chấp hành án phạt tù là phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

d- Người đang chấp hành án phạt tù là người đủ 70 tuổi trở lên.

đ- Để phục vụ yêu cầu chính trị, đối ngoại, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Trong các trường hợp quy định trên, thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại tính đến thời điểm nhận được yêu cầu chuyển giao phải bảo đảm đủ thời gian để thực hiện các thủ tục chuyển giao và tiếp tục thi hành một phần bản án, trừ trường hợp có thỏa thuận khác vì mục đích nhân đạo.  

Trường hợp cần thiết, Bộ Công an lấy ý kiến của Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Y tế và các cơ quan có liên quan về tính chất đặc biệt của từng hồ sơ cụ thể để quyết định việc tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam hoặc chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài. Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản lấy ý kiến của Bộ Công an, cơ quan được lấy ý kiến có văn bản trả lời Bộ Công an.  

Nghị định có hiệu lực thi hành từ 1/7/2026.

Minh Hiển