In bài viết

Trồng rừng gỗ lớn: Cần gỡ điểm nghẽn sinh kế

(Chinhphu.vn) - Phát triển rừng trồng gỗ lớn không chỉ là câu chuyện kéo dài chu kỳ khai thác hay thay đổi kỹ thuật lâm sinh, mà còn liên quan trực tiếp đến sinh kế của hàng triệu hộ trồng rừng, làm thế nào để người dân có đủ động lực và nguồn lực giữ rừng? Báo Điện tử Chính phủ trao đổi với GS.TS. Phạm Văn Điển, Phó Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam về vấn đề này.

21/10/2026 11:58
Trồng rừng gỗ lớn: Cần gỡ điểm nghẽn sinh kế- Ảnh 1.

GS.TS. Phạm Văn Điển, Phó Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam - Ảnh: chinhphu.vn/Đỗ Hương

Thưa GS, vì sao dù được khuyến cáo nuôi rừng theo hướng gỗ lớn để nâng cao hiệu quả kinh tế, nhiều hộ vẫn lựa chọn khai thác keo khi mới 4–5 năm tuổi?

GS.TS. Phạm Văn Điển: Theo tôi, không nên nhìn nhận việc người dân bán rừng sớm đơn thuần là biểu hiện của tư duy ngắn hạn. Về lý thuyết, kéo dài chu kỳ kinh doanh rừng có thể mang lại lợi ích kinh tế cao hơn. Tuy nhiên, lợi ích dài hạn không đồng nghĩa với việc người dân có đủ tiền trang trải cuộc sống trong suốt thời gian chờ đợi. Họ phải cân đối giá trị rừng tăng thêm với lãi vay, chi phí sinh hoạt và những rủi ro như bão, gãy đổ hoặc suy giảm chất lượng gỗ. Hộ càng thiếu vốn thì áp lực khai thác sớm càng lớn.

Quy mô sản xuất nhỏ cũng là một trở ngại. Khoảng một nửa trong hơn 1,54 triệu hộ sử dụng đất lâm nghiệp có diện tích dưới 1 ha. Với diện tích như vậy, việc tổ chức khai thác luân phiên, tỉa thưa và giữ rừng qua nhiều năm không dễ dàng. Khai thác riêng lẻ còn làm tăng chi phí, trong khi những lô rừng giữ lại có thể chịu tác động của gió khi các khu vực xung quanh đã được khai thác.

Vì thế, muốn người dân chuyển sang trồng rừng gỗ lớn, trước hết phải giải quyết được bài toán sinh kế và khả năng tiếp cận nguồn vốn trong thời gian chờ khai thác.

Ngoài áp lực tài chính, thị trường gỗ hiện nay đang tác động như thế nào đến quyết định của người trồng rừng, thưa ông?

GS.TS. Phạm Văn Điển: Thị trường có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định khai thác của người dân.

Đối với gỗ nhỏ, người mua dăm thường tiếp cận chủ rừng từ năm thứ tư, thứ năm, có thể thu mua cả lô, tổ chức khai thác, vận chuyển và thanh toán nhanh. Trong khi đó, thị trường gỗ lớn phục vụ chế biến sâu chưa tạo được động lực tương xứng. Người dân phải chờ đến năm thứ tám, thứ mười hoặc lâu hơn nhưng chưa chắc chắn về đầu ra, tiêu chuẩn phân loại và giá bán.

Ở đây còn có sự khác biệt về khả năng chấp nhận rủi ro giữa các chủ thể. Doanh nghiệp dăm, ván bóc có thể mua nhiều loại gỗ, kể cả gỗ nhỏ và gỗ tỉa thưa, nhờ đó duy trì dòng tiền. Ngược lại, doanh nghiệp chế biến đồ gỗ khó cam kết thu mua sau tám hoặc mười năm nếu chưa biết chắc sản lượng và chất lượng gỗ đạt tiêu chuẩn.

Người trồng rừng cũng lo ngại việc đo đếm, phân loại không minh bạch hoặc doanh nghiệp ứng vốn nhưng đến khi khai thác, chủ rừng lại bán cho người mua khác.

Do đó, cần xây dựng quan hệ hợp tác dài hạn giữa người trồng rừng và doanh nghiệp. Hợp đồng phải quy định rõ quy cách gỗ, phương thức đo đếm, phân loại, giá mua, thời hạn thanh toán, khoản ứng trước và trách nhiệm của các bên. Doanh nghiệp cần tham gia đầu tư vùng nguyên liệu, còn người dân phải được bảo đảm quyền lợi tương xứng với chất lượng gỗ cung cấp.

Vậy người trồng rừng có những hướng đi nào để chuyển sang gỗ lớn mà không phải đối mặt với quá nhiều rủi ro?

GS.TS. Phạm Văn Điển: Theo tôi, không nên áp đặt một mô hình duy nhất cho tất cả các hộ. Cần căn cứ vào điều kiện đất đai, chất lượng rừng hiện có, nguồn vốn và khả năng chấp nhận rủi ro để lựa chọn phương án phù hợp.

Thứ nhất, đối với diện tích rừng đang có, có thể xem xét tiếp tục nuôi dưỡng, kết hợp tỉa thưa để nâng cao chất lượng gỗ. Phương án này không phải bỏ chi phí trồng mới nhưng đòi hỏi người dân có nguồn thu thay thế trong thời gian chờ đợi. Những lô rừng trồng dày, ít được tỉa cành hoặc tỉa thưa từ đầu cũng chưa chắc tạo ra gỗ xẻ có chất lượng tốt.

Với những hộ có đất tốt, gần đường giao thông và có nguồn thu khác, việc tiếp tục nuôi rừng có thể thuận lợi hơn. Các hộ này cần được tiếp cận tín dụng dựa trên giá trị cây đứng để có nguồn tiền khi phát sinh nhu cầu cấp thiết.

Thứ hai, đối với diện tích trồng mới, cần chú trọng thâm canh ngay từ đầu, từ lựa chọn giống phù hợp, bảo vệ chất hữu cơ trong đất đến tỉa cành, tỉa thưa đúng thời điểm.

Thứ ba, về dài hạn, cần quan tâm phát triển các loài cây bản địa phù hợp, nhất là tại những khu vực có điều kiện lập địa và mục tiêu sinh thái thích hợp. Tuy nhiên, nhiều loài cây cần chu kỳ hàng chục năm, nên không thể chỉ yêu cầu người dân chuyển đổi mà thiếu cơ chế hỗ trợ trong thời gian chờ đợi.

Dù lựa chọn phương án nào, cũng cần chú trọng bảo vệ đất, duy trì vật chất hữu cơ và hạn chế những phương thức khai thác làm suy giảm sức sản xuất của rừng ở chu kỳ tiếp theo.

Trồng rừng gỗ lớn: Cần gỡ điểm nghẽn sinh kế- Ảnh 2.

Bảo vệ và phát triển rừng cần sự phối hợp của cả cơ quan chức năng và người dân địa phương - Ảnh: chinhphu.vn/Đỗ Hương

Chính sách hiện hành đã tạo đủ điều kiện để người dân duy trì rừng lâu hơn chưa? Theo ông, cần tháo gỡ những điểm nghẽn nào?

GS.TS. Phạm Văn Điển: Việt Nam đã có chính sách hỗ trợ phát triển rừng gỗ lớn, trong đó có cơ chế hỗ trợ chênh lệch lãi suất đối với hộ trồng rừng. Theo Nghị định số 58/2024/NĐ-CP và văn bản hợp nhất được dẫn trong tài liệu, ngân sách địa phương hỗ trợ chênh lệch lãi suất trong thời gian tối đa 12 năm, đối với phần vốn vay không quá 70% tổng vốn vay tại ngân hàng thương mại.

Tuy nhiên, chính sách có nhưng khả năng tiếp cận của người dân vẫn là vấn đề cần đánh giá. Khoản vay kéo dài nhiều năm, cây đứng khó định giá, trong khi diện tích rừng của nhiều hộ nhỏ khiến chi phí thẩm định tăng lên. Các địa phương có diện tích rừng lớn cũng phải cân đối nguồn lực ngân sách để triển khai.

Theo tôi, cần đánh giá nguồn vốn có đến đúng thời điểm người dân cần hay không. Nếu thủ tục kéo dài, hỗ trợ có thể không còn ý nghĩa khi hộ đã buộc phải bán rừng để giải quyết khó khăn trước mắt.

Một điểm nghẽn khác là rủi ro thiên tai chưa được chia sẻ tương xứng khi bảo hiểm rừng trồng cũng chưa trở thành công cụ phổ biến. Do đó, cần kết hợp chính sách tín dụng với cơ chế chia sẻ rủi ro, xem xét phát triển bảo hiểm rừng trồng và hỗ trợ phục hồi sau thiên tai.

Ông đề xuất cơ chế nào để người dân có thể vượt qua những năm chờ đợi, đồng thời tạo động lực cho doanh nghiệp đầu tư vào vùng nguyên liệu gỗ lớn?

GS.TS. Phạm Văn Điển: Trước hết, cần nghiên cứu cơ chế ứng vốn dựa trên giá trị cây đứng. Ngân hàng hoặc doanh nghiệp bao tiêu có thể thẩm định lô rừng từ sớm, xác định hạn mức ứng vốn để người dân tiếp cận tiền khi có nhu cầu cấp thiết, thay vì phải bán cả lô rừng. Cơ chế này cần có tiêu chí định giá minh bạch và biện pháp quản lý rủi ro phù hợp.

Thứ hai, có thể phát triển hợp đồng nuôi rừng với cơ chế thanh toán hằng năm. Doanh nghiệp đóng góp kinh phí để duy trì nguồn nguyên liệu ổn định; Nhà nước xem xét chi trả cho những lợi ích công về môi trường được xác minh. Chất lượng và tình trạng sinh trưởng của rừng được đánh giá định kỳ để điều chỉnh phương án quản lý.

Thứ ba, cần đặt hàng nghiên cứu khoa học theo kết quả. Nhà nước hỗ trợ, doanh nghiệp góp vốn, nhà khoa học phối hợp với hộ trồng rừng xây dựng các mô hình thử nghiệm có đối chứng. Hiệu quả phải được đo bằng lượng gỗ đạt tiêu chuẩn, thu nhập ròng của hộ và khả năng duy trì sức sản xuất của đất, thay vì chỉ tính diện tích áp dụng kỹ thuật.

Cùng với đó, cần nghiên cứu cơ chế quỹ rủi ro hoặc bảo hiểm có sự tham gia đóng góp của các bên. Nguyên tắc là phân bổ rủi ro cho chủ thể có khả năng quản lý rủi ro đó với chi phí thấp hơn, không để hộ nghèo trở thành bên gánh chịu phần lớn thiệt hại của cả chuỗi sản xuất.

Việc thí điểm cần dựa trên sự tự nguyện, có đánh giá hiệu quả và ưu tiên những hộ ít có khả năng dự phòng tài chính. Đồng thời, cần có cơ chế hỗ trợ các hộ nhỏ liên kết với nhau để tiếp cận vốn, kỹ thuật và thị trường.

Đỗ Hương (thực hiện)