Trung Quốc không còn là thị trường 'dễ tính': ĐBSCL phải đổi cách làm
(Chinhphu.vn) - Trung Quốc hiện chiếm 65–70% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả Việt Nam, nhưng thị trường này ngày càng siết chặt tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển xanh. Tại Cần Thơ, hơn 300 doanh nghiệp Việt Nam và Trung Quốc dự kiến cùng tìm kiếm cơ hội hợp tác thương mại, đầu tư. Đối với Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), bài toán không còn chỉ là sản lượng, mà là tổ chức lại vùng nguyên liệu, chế biến sâu và logistics để giữ thị trường.

Ông Hứa Trường Sơn, Phó Giám đốc Sở Công Thương TP. Cần Thơ phát biểu tại diễn đàn - Ảnh: chinhphu.vn/Lê Sơn
Diễn đàn Xúc tiến Thương mại, Đầu tư và Du lịch Việt Nam - Trung Quốc 2026 diễn ra trong hai ngày 18-19/9 tại Cần Thơ, với chủ đề phát huy vai trò trung tâm ĐBSCL trong liên kết chuỗi cung ứng thông minh, thúc đẩy thương mại xanh và kiến tạo động lực tăng trưởng mới. Sự kiện dự kiến quy tụ hơn 300 doanh nghiệp hai nước.
Phó Giám đốc Sở Công Thương TP. Cần Thơ Hứa Trường Sơn cho biết thành phố muốn kết nối doanh nghiệp, nhà nhập khẩu và nhà phân phối Trung Quốc với doanh nghiệp Cần Thơ, nhất là các nhóm nông sản, trái cây, gạo và sản phẩm từ gạo, thủy sản, thực phẩm chế biến. Thành phố cũng mong muốn thu hút đầu tư vào logistics, trung tâm phân phối, chế biến sâu nông sản-thủy sản, thương mại điện tử, chuyển đổi số và công nghệ xanh.
Không còn thị trường 'dễ tính'
Câu chuyện đáng chú ý tại diễn đàn nằm ở sự thay đổi nhanh chóng của thị trường Trung Quốc. Ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho biết, Trung Quốc tiếp tục là thị trường tiêu thụ số 1 của ngành rau quả Việt Nam, chiếm tới 65–70% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành.
Nhưng theo ông Nguyên, Trung Quốc không còn là thị trường “dễ tính” hay chuộng hàng tiểu ngạch như quan niệm trước đây. Các yêu cầu về kiểm dịch thực vật, dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật, truy xuất nguồn gốc ngày càng chặt chẽ; cùng với đó là những tiêu chuẩn cao hơn về phát triển xanh và giảm phát thải carbon.
Xu hướng tiêu dùng cũng đang thay đổi. Người tiêu dùng tại nhiều đô thị Trung Quốc ngày càng quan tâm đến sản phẩm hữu cơ, canh tác sinh thái, chứng nhận chất lượng và khả năng truy xuất tới từng công đoạn thu hoạch, đóng gói. Các nhà nhập khẩu lớn cũng bắt đầu ưu tiên nhà cung cấp có logistics xanh, giảm dấu chân carbon và sử dụng bao bì thân thiện với môi trường.
Điều đó đặt ĐBSCL trước yêu cầu chuyển từ lợi thế sản lượng sang lợi thế về chất lượng và tổ chức chuỗi. Hiệp hội Rau quả Việt Nam đề xuất hình thành “bản đồ sản xuất xanh”, tổ chức vùng trồng chuyên canh theo tín hiệu thị trường, số hóa quản lý mã số vùng trồng và kiểm soát quy trình sản xuất nhằm hạn chế gian lận xuất xứ, bảo vệ uy tín nông sản.

Các đại biểu tham gia trao đổi, thảo luận tại Diễn đàn - Ảnh: chinhphu.vn/Lê Sơn
Không thể chỉ bán trái cây tươi
Một điểm nghẽn khác của nông sản ĐBSCL nằm ở chế biến. Theo tài liệu tại diễn đàn, rau quả tươi hiện vẫn chiếm trên 70% trong cơ cấu xuất khẩu, trong khi tỉ lệ chế biến sâu khoảng 30%. Việc phụ thuộc lớn vào hàng tươi khiến nông sản dễ chịu tác động khi thời tiết, dịch bệnh hoặc thời gian thông quan tại cửa khẩu biến động.
Giải pháp được đặt ra là đẩy mạnh đầu tư chế biến sâu ngay tại vùng nguyên liệu. Thay vì chủ yếu xuất khẩu trái cây tươi, doanh nghiệp có thể mở rộng sang trái cây cấp đông, sấy thăng hoa, nước ép cô đặc, sản phẩm dinh dưỡng và tinh dầu từ phụ phẩm nông nghiệp, qua đó nâng giá trị sản phẩm và giảm áp lực tiêu thụ vào chính vụ.
Cùng với chế biến, logistics là mắt xích không thể tách rời. Rau quả đặc biệt nhạy cảm với thời gian và nhiệt độ, vì vậy tài liệu đề xuất đầu tư hệ thống kho lạnh trung chuyển tại Cần Thơ, tăng kết nối bằng đường bộ, đường biển, đường sắt và hàng không nhằm giảm chi phí và rủi ro cho hàng hóa.
Ở góc nhìn rộng hơn, ông Hồ Quang Minh, Chủ tịch Hội Net Zero Việt Nam - châu Á HCM SME, nhận định lợi thế về vùng nguyên liệu và sản lượng không còn là điều kiện duy nhất. Thị trường đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, công nghệ, logistics, môi trường và phát triển bền vững.
Ông Hồ Quang Minh nhấn mạnh câu chuyện quan trọng nhất hiện nay không phải là chúng ta có gì, mà là chúng ta kết nối những gì đang có như thế nào. Theo ông, nếu lợi thế của doanh nghiệp Việt Nam và Trung Quốc được đặt trong cùng một chuỗi giá trị, được quản trị minh bạch và hướng tới tăng trưởng xanh, giá trị tạo ra có thể lớn hơn nhiều so với từng giao dịch riêng lẻ.
Kết nối phải thành đơn hàng, dự án
Với Cần Thơ, đích đến của xúc tiến thương mại không phải chỉ là một cuộc gặp đông doanh nghiệp. Phó Giám đốc Sở Công Thương Hứa Trường Sơn khẳng định: “Một Diễn đàn xúc tiến thương mại chỉ thực sự có ý nghĩa khi những kết nối tại Diễn đàn được duy trì và chuyển hóa thành các kết quả hợp tác cụ thể.”
Thành phố kỳ vọng sau diễn đàn sẽ hình thành thêm các quan hệ hợp tác mới, từ trao đổi hàng hóa, biên bản ghi nhớ, hợp đồng, đơn hàng đến dự án đầu tư và chương trình hợp tác lâu dài. Những lĩnh vực Cần Thơ đặc biệt quan tâm gồm logistics, trung tâm phân phối, hạ tầng thương mại, chế biến sâu, thương mại điện tử, chuyển đổi số và công nghệ xanh.
Các hoạt động của diễn đàn vì thế được thiết kế từ tham luận, đối thoại chuyên đề đến giao thương B2B, giới thiệu sản phẩm tiêu biểu và OCOP của ĐBSCL, ký kết hợp tác và khảo sát thực địa tại khu công nghiệp, nhà máy, vùng nguyên liệu, khu du lịch và những địa điểm có tiềm năng đầu tư.
Các phiên thảo luận cũng tập trung vào những vấn đề sát với doanh nghiệp ĐBSCL như chuẩn hóa vùng sản xuất, số hóa vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, chế biến sâu, logistics, chuyển đổi số - xanh và các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh. Theo Ban tổ chức, mục tiêu cuối cùng là hình thành những mối liên kết có khả năng tiếp tục phát triển sau sự kiện, thay vì dừng ở các cuộc tiếp xúc ban đầu.
Với ĐBSCL, lợi thế của một vùng sản xuất nông sản lớn sẽ khó chuyển thành giá trị cao nếu sản phẩm vẫn chủ yếu đi ra thị trường dưới dạng tươi, logistics còn đắt và tiêu chuẩn chưa được kiểm soát từ vùng trồng. Khi vùng nguyên liệu, chế biến, công nghệ và thị trường được đặt trong cùng một chuỗi, những cuộc kết nối Việt Nam - Trung Quốc mới có cơ hội chuyển thành đơn hàng, dự án và quan hệ hợp tác đủ sức đi đường dài.
Lê Sơn