In bài viết

Xuất khẩu nông nghiệp 9 tháng: Chuyển từ lợi thế sản lượng sang giá trị

(Chinhphu.vn) - Với kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 9 tháng năm 2026 ước đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ, ngành nông nghiệp đang có cơ sở để hoàn thành và vượt mục tiêu 74,2 tỷ USD trong năm. Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng kim ngạch mà phải nâng vị thế của các ngành hàng trong chuỗi giá trị toàn cầu.

28/09/2026 11:13
Xuất khẩu nông nghiệp 9 tháng: Chuyển từ lợi thế sản lượng sang giá trị- Ảnh 1.

Nhiều ngành hàng cần chuyển từ năng lực cung ứng sang khả năng kiểm soát nhiều hơn các khâu tạo giá trị - Ảnh: Chinhphu.vn/Đỗ Hương

Sản phẩm nông, lâm, thủy sản có thể vượt mục tiêu xuất khẩu

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng, 9 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ; xuất siêu khoảng 16,9 tỷ USD.

Trong bức tranh chung, gỗ và sản phẩm gỗ, thủy sản, rau quả tiếp tục là những nhóm hàng có khả năng tăng trưởng tốt. Trong khi đó, một số ngành hàng vẫn gặp khó khăn khi lượng xuất khẩu tăng nhưng giá trị giảm.

Đáng chú ý, cà phê tăng 15,4% về lượng nhưng kim ngạch giảm 7,3% do giá xuất khẩu bình quân giảm. Gạo, cao su, sắn và sản phẩm từ sắn cũng ghi nhận mức giảm về giá trị.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, với kết quả 9 tháng, Việt Nam có cơ sở để hoàn thành và vượt mục tiêu xuất khẩu 74,2 tỷ USD trong năm 2026. Tuy nhiên, khả năng vượt mục tiêu chung không đồng nghĩa tất cả các ngành hàng đều đạt kế hoạch.

Trong những tháng cuối năm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định tiếp tục giữ vững đà tăng trưởng của ba nhóm hàng gỗ và sản phẩm gỗ, thủy sản, rau quả; đồng thời tập trung tháo gỡ khó khăn đối với những ngành hàng còn hụt mục tiêu.

Đối với thủy sản, trọng tâm là các ngành hàng chủ lực như tôm, cá tra; kiểm soát chất lượng, an toàn chuỗi, xử lý vấn đề khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), đồng thời chủ động ứng phó với các biện pháp phòng vệ thương mại.

Với rau quả, trong đó có sầu riêng, yêu cầu đặt ra là kiểm soát chặt mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và chất lượng sản phẩm, qua đó duy trì uy tín hàng hóa Việt Nam tại các thị trường nhập khẩu.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ tư duy "mở cửa thị trường" sang "mở được, vào được và giữ được thị trường". Cùng với việc tháo gỡ các rào cản, ngành cần đa dạng hóa thị trường, xử lý điểm nghẽn về tín dụng, xây dựng dữ liệu liên thông và chuẩn bị các kịch bản cho năm 2027.

Đây cũng là yêu cầu có ý nghĩa lâu dài khi mức độ tập trung xuất khẩu vào một số thị trường lớn vẫn cao, khiến nhiều ngành hàng dễ chịu tác động khi chính sách thương mại, tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc điều kiện tiếp cận thị trường thay đổi.

Xuất khẩu nông nghiệp 9 tháng: Chuyển từ lợi thế sản lượng sang giá trị- Ảnh 2.

Rau quả không thể chỉ dựa vào xuất khẩu sản phẩm tươi mà cần khai thác nhiều hơn giá trị từ cùng một nguồn nguyên liệu - Ảnh: Chinhphu.vn/Đỗ Hương

Chế biến sâu mở thêm dư địa cho xuất khẩu

Không chỉ giải quyết các yêu cầu trước mắt, bài toán lớn hơn đối với nông, lâm, thủy sản là chuyển từ lợi thế về sản lượng và năng lực cung ứng sang khả năng kiểm soát nhiều hơn các khâu tạo giá trị.

Theo ông Nguyễn Quốc Khanh, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST), Việt Nam hiện nằm trong nhóm những nước xuất khẩu đồ gỗ và nội thất lớn trên thế giới, đứng thứ hai tại châu Á sau Trung Quốc; ngành tạo việc làm cho khoảng một triệu lao động. Tuy nhiên, ông Nguyễn Quốc Khanh cho rằng lợi thế lớn nhất của ngành hiện vẫn là năng lực sản xuất. Phần lớn doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng, trong khi năng lực tự thiết kế, phát triển sản phẩm và xây dựng thương hiệu riêng chưa tương xứng.

Điều này đặt ra yêu cầu chuyển từ vị thế một trung tâm sản xuất sang từng bước nâng cao năng lực sáng tạo, thiết kế và định hình sản phẩm.

Với cà phê, ông Thái Như Hiệp, Phó Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (VICOFA), cho biết sự liên kết giữa các doanh nghiệp còn hạn chế. Doanh nghiệp nhỏ có thể bán hàng qua doanh nghiệp FDI, trong khi doanh nghiệp lớn giao dịch thông qua các nhà thương mại quốc tế.

Khi thiếu hệ sinh thái liên kết từ vùng nguyên liệu, chế biến, phân phối đến thương hiệu, sức mạnh của toàn ngành trong đàm phán giá trị bị phân tán. Trong khi đó, những yêu cầu mới về phát triển bền vững, giảm phát thải và truy xuất nguồn gốc, trong đó có Quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EUDR), ngày càng trở thành điều kiện quan trọng để duy trì thị trường.

Đối với cao su tự nhiên, ông Nguyễn Viết Tượng, nguyên Phó Chủ tịch Hiệp hội Cao su Việt Nam, nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cao su Đắk Lắk, cho rằng quy mô sản lượng lớn chưa đồng nghĩa với khả năng chi phối thị trường. Danh mục sản phẩm cao su của Việt Nam còn hạn chế, trong khi xuất khẩu nguyên liệu vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Vì vậy, phần giá trị gia tăng ở các khâu chế biến sâu và sản xuất sản phẩm kỹ thuật cao còn nằm ở bên ngoài Việt Nam.

Một trong những mặt hàng thế mạnh xuất khẩu hiện nay là ngành hàng rau quả. Ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, cho rằng doanh nghiệp không thể chỉ dựa vào xuất khẩu sản phẩm tươi mà cần khai thác nhiều hơn giá trị từ cùng một nguồn nguyên liệu.

Một loại trái cây có thể được phát triển thành nhiều sản phẩm như nước cô đặc, puree, đông lạnh hoặc sấy, qua đó phục vụ nhiều phân khúc và nhu cầu khác nhau của thị trường.

Theo ông Đặng Phúc Nguyên, sản phẩm sơ chế, đông lạnh và chế biến sâu có lợi thế về thời gian bảo quản, thuận lợi hơn trong vận chuyển và có thể cung ứng cho nhiều ngành công nghiệp thực phẩm. Tuy nhiên, để phát triển theo hướng này, doanh nghiệp cần vùng nguyên liệu ổn định, đồng đều về chất lượng, cùng năng lực đầu tư nhà máy, kho lạnh và logistics.

Cùng với chế biến sâu, bảo quản sau thu hoạch cũng là một điểm nghẽn cần được giải quyết. Theo ông Đặng Phúc Nguyên, tổn thất sau thu hoạch đối với rau quả Việt Nam hiện khoảng 30-40%, trong khi Thái Lan ở mức 10-15%.

Do đó, ngành hàng cần kiểm soát toàn bộ chuỗi từ thu hoạch, làm mát, đóng gói, vận chuyển đến khi sản phẩm tới thị trường; đồng thời đầu tư hệ thống kho lạnh và logistics kết nối từ vùng sản xuất tới trung tâm logistics, cửa khẩu và cảng xuất khẩu.

Đỗ Hương