(Chinhphu.vn) - Cách đây 66 năm, ngày 21/12/1954, mặc dù bộn bề công việc sau hơn 2 tháng tiếp quản Thủ đô, nhưng Bác Hồ đã về thăm Nhà máy đèn Bờ Hồ và Nhà máy điện Yên Phụ. Sự kiện này đã trở thành một mốc son lịch sử và ngày 12/10/2009 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 1594/QĐ-TTg lấy ngày 21/12 hàng năm trở thành Ngày truyền thống của ngành Điện lực Việt Nam.

EVN hoàn thành xuất sắc vai trò chủ đạo trong đầu tư, phát triển nguồn và lưới điện

Trong 66 năm qua, ngành Điện lực Việt Nam đã phát triển vượt bậc. Cơ cấu nguồn điện gồm đủ các loại hình thủy điện, nhiệt điện than, nhiệt điện khí, nhiệt điện dầu và các nguồn điện năng lượng tái tạo (mặt trời, gió, sinh khối).

Từ chỗ năm 1954, điện chỉ cung cấp cho các trung tâm thành phố và khu công nghiệp, đến năm 2020 sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống dự kiến đạt 261,46 tỷ kWh (trong đó, điện sản xuất của Tập đoàn Điện lực Việt Nam - EVN và các Tổng Công ty Phát điện, kể cả các công ty cổ phần dự kiến đạt 142,82 tỷ kWh). EVN đã bảo đảm cung cấp đủ điện cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và đời sống sinh hoạt của nhân dân, góp phần duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta ở mức cao nhiều năm liên tục.

Đặc biệt, EVN đã đầu tư và cung cấp điện cho 11/12 huyện đảo, trong đó các đảo có vị trí chiến lược trên biển như: Phú Quốc, Cô Tô, Lý Sơn, Kiên Hải, Lại Sơn, Tiên Hải... đều được đầu tư cấp điện lưới quốc gia bằng cáp ngầm xuyên biển.

Những bước tiến thần kỳ của ngành Điện lực cách mạng Việt Nam còn được thể hiện qua việc xây dựng và đưa vào vận hành nhiều công trình điện trọng điểm mang tầm quốc tế và khu vực như: Đường dây truyền tải điện siêu cao áp 500 kV Bắc  - Nam từ mạch 1 nay đã được bổ sung thêm mạch 2 rồi mạch 3; Nhà máy Thủy điện Hòa Bình, Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại và gần đây nhất là Nhà máy Thủy điện Sơn La lớn nhất Đông Nam Á - điểm sáng về sự đoàn kết, nhất trí, phát huy tinh thần tự lực, tự cường, sáng kiến cải tiến kỹ thuật và tối ưu hóa sản xuất, huy động tối đa nội lực tiềm năng làm chủ khoa học kỹ thuật tiên tiến của Tập đoàn cũng như các đơn vị thi công trên công trường...

Sứ mệnh “đi trước một bước”

EVN hoàn thành xuất sắc vai trò chủ đạo trong đầu tư, phát triển nguồn và lưới điện; bảo đảm điện đi trước một bước trong công cuộc CNH - HĐH đất nước, góp phần duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức cao nhiều năm liên tục.

Giai đoạn 2010 - 2020 điện thương phẩm tăng trưởng với tốc độ cao, từ 85,4 tỷ kWh năm 2010 lên khoảng 225,4 tỷ kWh năm 2020; tốc độ tăng trưởng bình quân 9,66%/năm, gấp khoảng 1,6 lần so với tăng trưởng GDP. Tập đoàn đã cung cấp đủ điện phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng nhu cầu của các thành phần kinh tế, với sứ mệnh “đi trước một bước” theo Nghị quyết của Đảng. Sản lượng điện thương phẩm bình quân trên người dân đến cuối năm 2020 ước tính đạt khoảng 2.200 kWh/người/năm, tăng 2,24 lần so với năm 2010 (982,7kWh/người/năm).

Trong công tác đầu tư xây dựng, khối lượng đầu tư nguồn và lưới điện được giao đòi hỏi nhu cầu vốn lớn nhưng Chính phủ không còn bảo lãnh cho các khoản vay để đầu tư của EVN. Nhưng với quyết tâm cao, EVN đã chỉ đạo các đơn vị nỗ lực phấn đấu, vượt qua những khó khăn, thu xếp đủ vốn cho các dự án công trình điện. Hệ thống điện quốc gia liên tục mở rộng phạm vi, quy mô và năng lực sản xuất, đáp ứng tốc độ tăng trưởng cao về nhu cầu điện của đất nước.

Về lưới điện, trong giai đoạn 2010 - 2019, EVN đã hoàn thành đóng điện 1.936 công trình từ 110 - 500 kV với tổng chiều dài đường dây 8.290 km, tổng công suất các trạm biến áp 26.123 MVA; bảo đảm đấu nối, truyền tải công suất phát các nguồn điện, tăng cường năng lực truyền tải của hệ thống.

Lưới điện của Việt Nam cũng đã kết nối với lưới điện các nước láng giềng Trung Quốc, Lào, Campuchia ở các cấp điện áp từ 22 kV tới 220 kV. Trong đó đã hoàn thành các công trình quan trọng như: (i) Các mạch vòng 500kV quan trọng khu vực TP. Hà Nội, TP. HCM và lân cận, các đường dây tăng cường năng lực truyền tải hệ thống như Pleiku – Mỹ Phước – Cầu Bông; (ii) Các công trình lưới điện 500kV đấu nối hoặc giải tỏa các nguồn điện quan trọng như: Thủy điện Sơn La, Thủy điện Lai Châu...; các Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân, Duyên Hải, Vũng Áng... (iii) Các công trình giải tỏa thủy điện khu vực miền Bắc, các nguồn điện năng lượng tái tạo khu vực Ninh Thuận, Bình Thuận; (iv) Các công trình lưới điện bảo đảm cấp điện miền Nam, TP. Hà Nội và các phụ tải lớn.

Bên cạnh đó EVN và các đơn vị đang tập trung hoàn thiện phân đoạn cuối cùng của mạch 3 đường dây 500kV Bắc - Nam, tạo nên trục truyền tải siêu cao áp 500 kV Bắc - Nam hoàn thiện gồm 3 mạch với tổng chiều dài gần 4.000 km, kết nối vững chắc hệ thống điện toàn quốc đáp ứng yêu cầu về độ an toàn và tin cậy.

Như vậy, đến hết năm 2020, hệ thống lưới điện quốc gia đã là một thể thống nhất, vươn tới mọi miền của đất nước với trên 8.500 km đường dây 500kV, gần 20.000 km đường dây 220kV, hơn 23.000 km đường dây 110kV và 33 trạm biến áp 500kV, 137 trạm biến áp 220kV, 886 trạm biến áp 110kV.

Về nguồn điện, giai đoạn 2010 - 2019, EVN đã đưa vào vận hành 21 dự án với tổng công suất 17.120MW, bằng 48% tổng công suất phát điện được đưa vào khai thác trong giai đoạn 2010 - 2019 trên toàn quốc. Từ chỗ chỉ có 31,5 MW công suất năm 1954, đến hết năm 2020 tổng công suất lắp đặt của hệ thống điện quốc gia ước đạt trên 61.000 MW, trong đó công suất nguồn điện do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) sở hữu là 29.638 MW.

Bên cạnh đó, nhờ thực hiện thành công nhiều giải pháp đồng bộ cải thiện các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tỷ lệ tổn thất điện năng toàn EVN đã giảm từ 10,25% (năm 2010) xuống 6,5% (kế hoạch năm 2020). Như vậy, tính cả giai đoạn 2010 - 2020, tỷ lệ tổn thất điện năng của EVN giảm được 3,75%, bình quân mỗi năm giảm 0,34% và đã tiệm cận với mức tổn thất điện năng của các nước phát triển.

EVN đã đưa lưới điện quốc gia vượt trùng khơi vươn tới các huyện đảo tiền tiêu của Tổ quốc

Đưa điện “vượt trùng khơi”, về nông thôn, miền núi

EVN giữ vai trò duy nhất và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đầu tư đưa điện về nông thôn, miền núi, góp phần xoá đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, giữ gìn an ninh chính trị, bảo vệ chủ quyền biên giới, hải đảo.

Đến cuối năm 2020 đã có 100% số xã và 99,54% số hộ dân có điện (tăng 1,65% so với cuối năm 2012). Bên cạnh đó, để các hộ dân được hưởng giá điện của Chính phủ, EVN cũng đã thực hiện tiếp nhận lưới điện hạ áp nông thôn để bán điện trực tiếp đến từng hộ dân. Đến nay EVN đã bán điện trực tiếp tới 10.285 xã phường, tăng tỷ lệ số hộ dân nông thôn được mua điện trực tiếp của ngành Điện từ 89,9% năm 2012 lên 93,7% năm 2020.

Sau khi tiếp nhận lưới điện hạ áp của tất cả các xã, EVN và các đơn vị đều phải sửa chữa cải tạo, nâng cấp, mở rộng lưới điện để vận hành an toàn, cung cấp điện ổn định, liên tục tới các hộ dân với chi phí cải tạo tối thiểu bình quân 1,2 - 1,5 tỷ đồng/xã. Tổng chi phí cải tạo tối thiểu lưới điện sau tiếp nhận hơn 8.000 tỷ đồng. 

Để lưới điện nông thôn đáp ứng tiêu chí số 4 trong Chương trình xây dựng nông thôn mới, EVN đã đầu tư cho lưới điện phân phối cung cấp cho khu vực nông thôn trong 10 năm là hơn 89.200 tỉ đồng. Tới cuối năm 2019, có 8.072/8.902 xã đạt tiêu chí số 4, góp phần quan trọng để phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chế biến và ngành nghề dịch vụ nông nghiệp; làm thay đổi diện mạo nông thôn, thực hiện thắng lợi Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới.

Bên cạnh đó, với quyết tâm cấp điện ổn định phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng sâu vùng xa, khu vực biển đảo và bảo đảm an ninh quốc phòng, trong những năm qua, EVN đã hoàn thành xuất sắc các dự án cấp điện cho đồng bào dân tộc tại các tỉnh: Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Bắc Kạn; đã đưa lưới điện quốc gia vượt trùng khơi vươn tới các huyện đảo tiền tiêu tổ quốc với việc hoàn thành tiếp nhận và bán điện trực tiếp tại 11/12 huyện đảo, 82/85 xã đảo bao gồm: huyện đảo Vân Đồn (năm 1992), huyện đảo Cát Hải gồm 2 cụm đảo Cát Hải (năm 1991) và Cát Bà (năm 1998), huyện đảo Phú Quý (năm 1998), huyện đảo Lý Sơn (năm 2002), huyện đảo Phú Quốc (năm 2002), huyện đảo Cô Tô (năm 2013), huyện đảo Côn Đảo (năm 2014), huyện đảo Kiên Hải (năm 2014), huyện đảo Bạch Long Vỹ (năm 2016), huyện đảo Trường Sa và huyện đảo Cồn Cỏ (năm 2017).

Ứng dụng chuyển đổi số mạnh mẽ

Nhiều năm qua ngành Điện đã có nhiều đổi mới trong công tác kinh doanh và dịch vụ khách hàng với việc tích cực ứng dụng công nghệ thông tin và từng bước số hóa các dịch vụ, ứng dụng chuyển đổi số mạnh mẽ với phương châm “Lấy khách hàng làm trung tâm mọi hoạt động”.

EVN cũng là đơn vị đầu tiên trong cả nước thực hiện thí điểm hóa đơn điện tử vào năm 2012 và cũng là Tập đoàn đầu tiên triển khai áp dụng hóa đơn điện tử trên toàn quốc vào năm 2015. Sau đó, vào năm 2016, EVN đã đẩy mạnh quá trình chuyển đổi hình thức thu tiền điện tại nhà sang thu tiền qua điểm thu tập trung, các tổ chức trung gian thanh toán, ví điện tử và qua ngân hàng...

Đến cuối năm 2018, EVN đã chính thức công bố cung cấp các “Dịch vụ điện trực tuyến” cấp độ 4, đây là cấp độ cao nhất trong cung cấp dịch vụ công trực tuyến theo quy định của Chính phủ, tăng tính công khai minh bạch và tạo mọi thuận lợi cho khách hàng. Cũng trong năm 2018, EVN hoàn thành việc kết nối cung cấp dịch vụ điện tại Trung tâm Hành chính công và các Cổng thông tin dịch vụ công trực tuyến tại 63/63 tỉnh/thành phố.

Ngày 24/12/2019, EVN hoàn thành đưa 12/12 dịch vụ điện mức độ 4 kết nối Cổng Dịch vụ công Quốc gia và cũng là doanh nghiệp Nhà nước đầu tiên hoàn thành việc tích hợp, cung cấp tất cả các dịch vụ điện năng ở mức độ 4 cung cấp trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia.

Cùng với đó, chỉ số tiếp cận điện năng Việt Nam cũng có bước tiến vượt bậc, góp phần đáng kể trong việc cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh Quốc gia.

EVN cũng là đơn vị đi đầu trong nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật điện, đổi mới công nghệ, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

Thực hiện Nghị quyết 52-NQ/TW của Bộ chính trị, Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/5/2017 về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, EVN đã phê duyệt Đề án “Nghiên cứu, phát triển, ứng dụng công nghệ của cuộc CMCN lần thứ tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam”.  Mục tiêu của Đề án là xây dựng EVN trở thành Tập đoàn hàng đầu trong khu vực, phát triển bền vững, hiệu quả, ứng dụng các công nghệ số, công nghệ thông tin và công nghệ của cuộc CMCN 4.0 cho mọi hoạt động từ sản xuất, truyền tải, phân phối, kinh doanh - dịch vụ khách hàng, vận hành hệ thống điện và thị trường điện.

Công nghệ tự động hóa điều khiển, kỹ thuật số cũng được ứng dụng rộng rãi trong xây dựng và vận hành hệ thống điện, thị trường điện.

Bên cạnh đó, công nghệ thông tin cũng là công cụ tiện lợi, hữu ích trong việc tăng tính hiệu quả, minh bạch, cạnh tranh trong công tác đấu thầu. Từ khi thực hiện thí điểm đấu thầu qua mạng vào năm 2009 với hơn chục gói, đến nay EVN luôn luôn là đơn vị đứng đầu toàn quốc trong việc thực hiện đấu thầu qua mạng.

Hiện EVN đang tiếp tục triển khai nghiên cứu, phát triển các công nghệ tiên tiến của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, thực hiện chuyển đổi số trong mọi lĩnh vực và dự kiến đến 2025 cơ bản hoàn thành chuyển đổi doanh nghiệp số.

Ngoài ra, trong 10 năm qua, EVN đã hoàn thành nhiều chỉ tiêu, nhiệm vụ quan trọng trong công tác cổ phần hóa, thoái vốn. Cụ thể, EVN đã hoàn thành cổ phần hoá và chuyển thành công ty cổ phần được 32 đơn vị (bao gồm: 8 công ty phát điện, 01 công ty phân phối điện và 23 công ty, đơn vị thuộc khối phụ trợ).

Việc đưa thị trường phát điện cạnh tranh chính thức vào vận hành từ năm 2012 là bước phát triển quan trọng của ngành Điện Việt Nam, giúp hệ thống điện và thị trường điện được vận hành an toàn, ổn định.

Thành công của thị trường phát điện cạnh tranh và bước đầu thị trường bán buôn điện cạnh tranh chính thức tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào các lĩnh vực Nhà nước không cần nắm giữ độc quyền như phát điện, kinh doanh bán lẻ điện… Cùng với đó, giá khâu phát điện, mua buôn điện được xác định theo cơ chế thị trường, phản ánh cân bằng cung cầu điện tại các thời điểm, phản ánh biến động của các chi phí nhiên liệu đầu vào...

Hướng đến công nghệ sạch, hệ thống xử lý môi trường hiện đại

Công tác quản lý và bảo vệ môi trường trong Tập đoàn đánh dấu sự chuyển biến rõ rệt.

EVN đã đầu tư xây dựng 29 cụm công trình, dự án nhiệt điện và 33 công trình, dự án thủy điện thuộc đối tượng phải lập, thẩm định đánh giá tác động môi trường. 100% các công trình, dự án nhà máy điện đang hoạt động đều đã được xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường trước khi vận hành. Ngoài ra, có hơn 10.000 công trình/dự án đường dây truyền tải và trạm biến áp được đầu tư xây dựng đã hoàn thiện đầy đủ các thủ tục môi trường theo quy định.

Ngoài việc tiếp cận thuần tuý dưới góc độ kỹ thuật về công nghệ thì việc đáp ứng các tiêu chuẩn/quy chuẩn môi trường “khắt khe” và mục tiêu tiết kiệm tài nguyên đã thúc đẩy EVN luôn tìm kiếm và hướng đến đầu tư thiết bị tối ưu đa mục tiêu, công nghệ sạch và hệ thống xử lý môi trường hiện đại.

Toàn bộ các nhà máy điện đều lắp đặt đầy đủ các hệ thống xử lý môi trường nước thải và khí thải; đầu tư các hệ thống quan trắc tự động, truyền dữ liệu về Sở Tài nguyên và Môi trường tại địa phương để theo dõi, cũng như công khai các số liệu trên các bảng điện tử tại cổng nhà máy hoặc UBND xã. 100% các tổ máy nhiệt điện đều lắp đặt hệ thống lọc bụi tĩnh điện với hiệu suất cao trên 99,7% và đặc biệt đưa hệ thống vào vận hành ngay khi khởi động. Tỷ lệ tiêu thụ tro xỉ tăng từ ~ 40% trong giai đoạn 2015 - 2018 lên ~70% vào năm 2019.

Những định hướng phát triển

Mục tiêu tổng quát của EVN là phát triển EVN thành Tập đoàn kinh tế mạnh, kinh doanh bền vững, hiệu quả và có lãi; bảo toàn và phát triển vốn chủ sở hữu nhà nước đầu tư tại EVN và vốn của EVN đầu tư vào các doanh nghiệp khác; giữ vai trò trung tâm để phát triển Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam; có trình độ công nghệ, quản lý hiện đại và chuyên môn hóa cao; sản xuất, kinh doanh điện năng, tư vấn điện là ngành, nghề kinh doanh chính; gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất, kinh doanh với KHCN, nghiên cứu triển khai, đào tạo; làm nòng cốt để ngành Điện lực Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả; tối đa hoá hiệu quả hoạt động của Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam.

Với ý thức, niềm tự hào về lịch sử và thành tựu của ngành Điện lực cách mạng, Tập đoàn Điện lực Việt Nam quyết tâm phấn đấu, phát huy truyền thống 66 năm, vượt qua mọi khó khăn thách thức, tiếp tục đưa Tập đoàn phát triển vững mạnh toàn diện, giữ vững vai trò đảm bảo cung cấp điện an toàn, ổn định cho phát triển kinh tế - xã hội, vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự phồn vinh của đất nước.

BT