(Chinhphu.vn) - Khuyết tật không chỉ là vấn đề y tế, mà rộng hơn là một vấn đề xã hội, vì vậy, phương thức tiếp cận không chỉ theo hướng nhân đạo, mà bao quát hơn là nhân quyền. Điều này sẽ giúp người khuyết tật tự tin hơn; quyền của người khuyết tật được bảo đảm hơn.
Theo nguồn số liệu của Bộ LĐTBXH và Tổng cục Thống kê, tỷ lệ người khuyết tật của Việt Nam trong tổng dân số ở mức trên 7,5%, với nữ nhiều hơn nam, nông thôn nhiều hơn thành thị, người lớn nhiều hơn trẻ em. 

Tuy có tỷ lệ thấp hơn tỷ lệ chung của thế giới (10%) nhưng do có số dân đông thứ 13 trên thế giới, nên số người khuyết tật ở nước ta khá đông.

Người khuyết tật ngoài nguyên nhân do bẩm sinh hoặc khuyết tật mắc phải khi phát triển (bị bạo hành, tai nạn, chấn thương…), còn có một nguyên nhân đáng quan tâm là do hậu quả của chiến tranh (bom đạn hoặc bị tra tấn, tù đày) và đặc biệt là do chất độc da cam, khiến 2,1-4,8 triệu người bị phơi nhiễm trực tiếp với dioxin (từ 1962-1972) cùng những đứa trẻ do bố mẹ từng bị phơi nhiễm chất độc dioxin sinh ra…

Với truyền thống “Thương người như thể thương thân”, Việt Nam đã sớm có sự cảm thông, tôn trọng và sự hỗ trợ đối với người khuyết tật.

Hệ thống luật pháp, chính sách đối với người khuyết tật ngày càng hoàn thiện được đề cập ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp qua các lần sửa đổi; Pháp lệnh Người khuyết tật năm 1998 và Luật Người khuyết tật 2011; Bộ luật Lao động; Luật Đào tạo nghề… Việt Nam là thành viên 118, từ tháng 10/2007 đã tham gia ký kết Công ước Quốc tế về quyền của người khuyết tật (ra đời từ 2006, hiện có hơn 200 nước và vùng lãnh thổ tham gia).

Công tác chăm lo cho người khuyết tật những năm qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Mặc dù đất nước còn nhiều khó khăn trong việc cân đối ngân sách, nhưng cả nước hiện có khoảng 750.000 người khuyết tật nặng được trợ cấp xã hội hằng tháng. Người khuyết tật được khám chữa bệnh bằng thẻ bảo hiểm y tế và là một trong những đối tượng được trợ giúp pháp lý.

Nhà nước tạo điều kiện cho người khuyết tật có thể sử dụng được những công trình công cộng (phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác) để giúp họ tái hòa nhập với cộng đồng. Việc thiết kế, sản xuất các máy móc, dụng cụ hỗ trợ cho người khuyết tật vận động hay trí tuệ, cảm giác, như chân tay giả, xe lăn được thực hiện bằng tay, xe lăn chuyên dụng chạy bằng điện chỉ phải điều khiển bằng nút bấm; máy trợ thính điện tử; kính mắt; chữ nổi, băng ghi âm, máy đọc tự động; một số phần mềm hỗ trợ đã giúp người khuyết tật có thể học tập, lao động… theo khả năng.

Chính vì vậy, cùng với nghị lực bản thân, nhiều người khuyết tật đã phấn đấu, rèn luyện trở thành tấm gương sáng, đạt thành tích cao trong nhiều lĩnh vực.

Bên cạnh những kết quả tích cực, người khuyết tật hiện vẫn còn gặp khó khăn, thách thức trong cuộc sống. Trong đó, khó khăn, thách thức lớn nhất đối với người khuyết tật là sự kỳ thị phân biệt đối xử của một số người, thậm chí ngay ở gia đình. Điều này có thể khiến người khuyết tật sẽ càng cảm thấy tự ti, yếu thế, thậm chí dễ trở thành đối tượng của bạo lực hơn, cả về mặt thể xác lẫn tinh thần.

Như vậy đối với vấn đề người khuyết tật, chúng ta vẫn còn nhiều việc phải làm.

Trước hết, về tư duy, cần có sự thay đổi trong cách nhìn đối với tình trạng khuyết tật. Khuyết tật là vấn đề xã hội chứ không chỉ là vấn đề y tế. Vị thế và quyền hợp pháp nhìn nhận tình trạng khuyết tật như là một vấn đề về quyền con người, nên phương pháp tiếp cận cần chuyển hướng nhân đạo sang hướng nhân quyền.

Thứ hai, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và hệ thống chính sách về người khuyết tật cùng những chế tài xử lý các vi phạm.

Thứ ba, khắc phục cho được hạn chế tâm lý tự ti, mặc cảm của không ít người khuyết tật cùng với khắc phục thái độ kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người khuyết tật.

Thứ tư, nâng cao khả năng tiếp cận và hòa nhập cộng đồng cho người khuyết tật.

Thứ năm, gắn dạy nghề với tạo việc làm, bởi đây là một trong những phương thức trợ giúp hiệu quả, bền vững.

Minh Ngọc