(Chinhphu.vn) - Ngày 12/11, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức tọa đàm “Đổi mới đào tạo nhân lực ngành y”.

Các khách mời tham dự Tọa đàm - Ảnh: VGP/Thúy Hà

Thay vì đào tạo y khoa trong thời gian 6 năm như hiện nay, theo dự thảo Nghị định về đào tạo chuyên sâu trong lĩnh vực sức khỏe mà Bộ Y tế đang xây dựng và trình Chính phủ, sau 4 năm đào tạo, sinh viên ngành y sẽ được công nhận là cử nhân y khoa. Từ đó, sẽ chia thành 2 hệ, đó là hệ nghiên cứu (thạc sĩ, tiến sĩ) đào tạo trong 2 năm và hệ theo lâm sàng (khám, chữa bệnh) cũng đào tạo trong 2 năm.

Cũng theo dự thảo Nghị định, những người theo học lâm sàng để trở thành bác sĩ y khoa, tương đương trình độ thạc sĩ, nhưng chưa được hành nghề. Người có bằng bác sĩ y khoa phải tiếp tục thi đánh giá năng lực và tham gia thực hành nghề nghiệp trong thời gian một năm thì mới được cấp chứng chỉ hành nghề. Còn hệ nghiên cứu sẽ do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý, quy định cụ thể.

Vì sao phải thay đổi và thay đổi trong thời điểm này có phù hợp không, mô hình đào tạo hiện nay có những bất cập, hạn chế như thế nào và nếu thay đổi mô hình đào tạo thì nội dung chương trình đào tạo sẽ phải thay đổi như thế nào?

Để giải đáp những câu hỏi trên, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức tọa đàm “Đổi mới đào tạo nhân lực ngành y”.

Khách mời tham gia tọa đàm:

GS.TS. Tạ Thành Văn, Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội

GS.TS. Phạm Minh Thông, nguyên Trưởng Bộ môn Chẩn đoán hình ảnh, Đại học Y Hà Nội, nguyên Phó Giám đốc BV Bạch Mai

GS.TS. Lê Thanh Hải, Giám đốc BV Nhi Trung ương

Ông Nguyễn Minh Lợi, Phó Cục trưởng Cục Khoa học công nghệ và đào tạo, Bộ Y tế

Nội dung tọa đàm:

Xin ông tóm tắt những nội dung chính và điểm mới trong dự thảo Nghị định quy định về đào tạo chuyên khoa sâu trong lĩnh vực sức khỏe của Bộ Y tế?

Ông Nguyễn Minh Lợi: Trong đào tạo nói chung, đặc biệt là đào tạo nhân lực y tế, có 3 hướng đào tạo: Thứ nhất là hướng đào tạo nghề nghiệp, thứ hai là hướng đào tạo hàn lâm, thứ ba là hướng đào tạo chuyên nghiệp để hành nghề.

Trong thực tiễn Việt Nam, đào tạo đại học, thạc sĩ, tiến sĩ được triển khai từ lâu và được thể chế hóa rất mạnh mẽ thông qua các văn bản của Luật Giáo dục cũng như các văn bản hướng dẫn.Về đào tạo chuyên nghiệp để hành nghề, thực tế Việt Nam đã triển khai từ những năm 1970, trong đó được thể hiện qua hình thực đào tạo nội trú chuyên khoa I, chuyên khoa II. Tuy nhiên, việc luật hóa chưa được cụ thể.

Về nội dung này, qua những quá trình trao đổi, hội nhập quốc tế, thực hiện chủ trương của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế và thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học đã thể chế hóa những nội dung quy định về đào tạo đặc thù trong lĩnh vực chuyên sâu và đã giao cho Chính phủ quy định.

Để thể chế hóa những đào tạo chuyên sâu trong lĩnh vực y tế, Chính phủ đã giao cho Bộ Y tế chủ trì xây dựng Nghị định này để ban hành trong lĩnh vực đào tạo nhân lực y tế.

Nội dung Nghị định chủ yếu tiếp cận vào 3 vấn đề: Thứ nhất, khẳng định rõ các hướng đào tạo về chuyên sâu, về hoạt động chuyên môn nghề nghiệp trong lĩnh vực y tế. Thứ hai là để chuẩn hóa chương trình bảo đảm khung năng lực và trình độ đáp ứng theo yêu cầu về vị trí việc làm, năng lực chuyên môn cũng như tương ứng với khung trình độ quốc gia. Thứ ba về công nhận văn bằng, chứng chỉ đào tạo chuyên sâu tương thích trong hệ thống văn bằng trình độ nói chung trong cơ cấu giáo dục công dân của Việt Nam cũng như so với tham chiếu quốc tế.

Xin được hỏi đại diện Đại học Y Hà Nội - một trong những cái nôi đào tạo nhân tài trong ngành y của cả nước, hiện nay, Đại học Y Hà Nội đang đào tạo sinh viên y khoa theo mô hình như thế nào, thưa ông?

GS.TS. Tạ Thành Văn: Đại học Y Hà Nội cũng giống như các trường đại học y trên cả nước, hiện nay chúng ta đang triển khai đào tạo theo mô hình cũ, truyền thống, từ trước đến nay chưa thay đổi. Mô hình này với các chuyên ngành Bác sĩ đa khoa, Bác sĩ răng-hàm-mặt, Bác sĩ y học cổ truyền, Bác sĩ tiêm công cộng thì chúng ta đào tạo 6 năm. Sau 6 năm, theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh, các bác sĩ đó có một chương trình thực hành lâm sàng tiền hành nghề 18 tháng và sẽ được cấp chứng chỉ hành nghề. Sau đó, sẽ tham gia vào lực lượng lao động xã hội trong ngành y.

Tiếp sau đó, có hệ đào tạo bác sĩ chuyên khoa I 2 năm và đào tạo bác sĩ chuyên khoa II 2 năm. Đặc điểm của mô hình này là giữa các giai đoạn đào tạo, giữa các bậc đào tạo thì không liên tục và đòi hỏi năm kinh nghiệm, đây là vấn đề hết sức quan trọng.

Thưa GS.TS. Phạm Minh Thông, với tư cách vừa là người giảng dạy (Trưởng Bộ môn Chẩn đoán hình ảnh của Đại học Y Hà Nội), vừa từng là nhà quản lý của một bệnh viện lớn của cả nước, tiếp nhận nhân lực từ các cơ sở đào tạo, xin ông cho biết, mô hình đào tạo và giảng dạy hiện nay có những ưu điểm và bất cập như thế nào đối với năng lực sinh viên khi ra trường…?

GS.TS. Phạm Minh Thông: Mô hình đào tạo cũ mà tất cả các trường đại học y đang thực hiện là mô hình đã tiến hành ở các nước phát triển cách đây vài chục năm và họ đã dừng mô hình này, chuyển sang mô hình mới. Nhưng chúng ta vẫn duy trì mô hình này, chính vì vậy, chúng ta cần có sự thay đổi.

Ưu điểm của mô hình là chúng ta có thể đáp ứng nhanh được nhu cầu của xã hội. Bác sĩ y khoa học 6 năm có thể ra trường rồi đưa về các cơ quan thực tập và tiến hành làm việc. Sau đó, quay lại trường để thi, học chuyên khoa I; tiếp tục vài năm làm việc và thi lên chuyên khoa II.

Tuy nhiên, bất cập của mô hình là người học không liên tục. Thực tế ở các bệnh viện, sinh viên học 6 năm ra trường vẫn chưa đủ khả năng để làm việc, chủ yếu nắm kiến thức về lý thuyết và chưa có kiến thức chuyên khoa, chưa thể làm việc ngay được, bắt buộc phải học tiếp. Chính vì vậy, những người học chuyên khoa II thường là những người đã lớn tuổi, thường là 50 tuổi trở lên.

Chính vì đào tạo không liên tục nên chất lượng bác sĩ không được đồng đều. Đặc biệt, ở vùng sâu, vùng xa thường thiếu bác sĩ nên không có bác sĩ nào đi học. Vì vậy, có nhiều bác sĩ tuyến cơ sở sau khi ra trường không quay lại học tiếp, dẫn đến chất lượng bác sĩ của cả nước, của các tuyến không đồng đều. Đây là yếu điểm của mô hình cũ.

Được biết, Bệnh viện Nhi Trung ương đang triển khai Chương trình đào tạo chuyên sâu cho nhân lực chuyên ngành Nhi khoa. Xin ông cho biết Chương trình này đang được thực hiện như thế nào tại Bệnh viện Nhi Trung ương?

GS.TS. Lê Thanh Hải: Khoảng 10 năm trở lại đây, cùng với sự phát triển của hệ thống y tế trong toàn quốc, hệ thống chăm sóc sức khỏe của trẻ em, đặc biệt là hệ thống các bệnh viện nhi, sản nhi ở địa phương phát triển rất nhiều. Như vậy, nhu cầu cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, cụ thể là bác sĩ và điều dưỡng của ngành y là đòi hỏi rất lớn.

Trong thực tiễn, các em bác sĩ, điều dưỡng từ các cơ sở đào tạo tốt nghiệp ra, chưa thể làm việc được, đặc biệt là làm việc độc lập. Kể cả bác sĩ được đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong ngành là bác sĩ nội trú, ngay lập tức ra trường cũng chưa thể làm việc ngay, làm việc độc lập được. Chúng tôi phải đào thạo thêm khoảng 6 tháng đến một năm mới có thể làm việc được một cách độc lập, tự chủ.

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn này, bệnh viện phải tổ chức đào tạo như đào tạo nội trú. Nghĩa là sau khi tốt nghiệp ở các trường đại học (6 năm), các em sinh viên có nguyện vọng phấn đấu phục vụ trong ngành y thì được tuyển dụng đào tạo. Khởi sự ban đầu là được đào tạo như bác sĩ nhi cơ bản, trước đây gọi là nhi định hướng khoảng 6-9 tháng. Sau đó, các em có thể tùy thuộc vào các cơ sở sử dụng nhân lực. Nhưng nếu tiếp tục muốn làm ở trong bệnh viện, trong ngành y thì phải học thêm 3 năm.

Chúng tôi áp dụng cách đào tạo nội trú của các nước tân tiến vào trong môi trường đào tạo cho bệnh viện, chủ yếu là đào tạo thực hành trên bệnh nhân, chú trọng đến nhu cầu thực tiễn của xã hội. Như từ chương trình đào tạo của các trường đại học thì bổ sung thêm các chương trình đào tạo rất cần thiết như các chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu, các kiến thức thực hành về kiểm soát nhiễm khuẩn, triển khai đào tạo mô hình các bệnh mới xuất hiện để phù hợp với các chương trình đào tạo.

Thứ hai là gắn kết việc đào tạo thực hành, mỗi sinh viên sẽ được một thầy có kinh nghiệm kèm cặp trong suốt 3 năm học, có sự trao đổi gắn chặt giữa sinh viên và giảng viên. Nếu sinh viên đạt yêu cầu thì mới được chuyển sang khoa mới, chương trình mới.

Trong 2 năm đầu, các em hoàn toàn phải đóng phí học tập. Nhưng đến năm thứ 3 trở đi, những em nào có kết quả học tập tốt sẽ được bệnh viện hỗ trỡ đào tạo, thậm chí có lương tuyển tạm thời. Đến năm thứ 3, có thể cho phép các em thi vào các cơ sở đại học để học tập tiếp bằng cao học.

Chính vì vậy, có rất nhiều em tốt nghiệp ở trường đại học ra có đam mê, có phấn đấu, cũng tiếp tục theo nghề để trở thành bác sĩ nhi khoa và điều dưỡng nhi khoa.

Ông có nhận định như thế nào về 2 mô hình đào tạo mới mà Đại học Y Hà Nội và Bệnh viện Nhi Trung ương đang triển khai?

Ông Nguyễn Minh Lợi: Tôi nghĩ rằng mô hình Đại học Y Hà Nội triển khai cũng như mô hình đang triển khai ở Bệnh viện Bạch Mai hay Bệnh viện Nhi Trung ương về bản chất giống nhau ở chỗ đều xác định là người học đạt được năng lực chuẩn đầu ra theo từng cấp độ và từng yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ để có thể hành nghề chuyên môn trong lĩnh vực y tế. 

Ví dụ như Bệnh viện Bạch Mai hay Đại học Y Hà Nội với đào tạo đa ngành thì phải lựa chọn những chuyên ngành đào tạo theo định hướng nghiên cứu. Một chương trình đào tạo chuyên sâu nội trú hay chuyên khoa là những chương trình theo từng chuyên ngành khác nhau.

Nhưng bản chất là mục tiêu để người học đạt chuẩn năng lực theo từng cấp độ và yêu cầu của chuyên môn để có thể đáp ứng yêu cầu hành nghề và phục vụ trong hệ thống y tế.  

Với tư cách là Chủ tịch Hội đồng Hiệu trưởng của các trường đại học y trên cả nước, ông có đề xuất và góp ý như thế nào về một mô hình đào tạo chung, thống nhất cho nhân lực ngành y tế hiện nay?

GS.TS. Tạ Thành Văn: Hội đồng Hiệu trưởng các trường đại học y dược đã họp và đưa vấn đề ra thảo luận. Ý kiến chung của hiệu trưởng các trường đại học y trong cả nước là vẫn giữ mô hình đào tạo 6 năm, một thân chung. Sau 6 năm, các em học tiếp thêm 3 năm. 3 năm này có thể là bác sĩ gia đình và có thể bác sĩ y học dự phòng, có thể là bác sĩ y học cổ truyền nhưng giữ thân chung là 6 năm.

Trong 3 năm đó, trong năm đầu tiên, các em sẽ đi thực tập và có chứng chỉ hành nghề tạm thời. Sau khi kết thúc 3 năm đào tạo chuyên khoa, các em học tiếp chuyên khoa sâu. Chuyên khoa sâu sẽ phụ thuộc vào từng ngành nghề, từng chuyên ngành như phẫu thuật thần kinh là 5 năm, chuyên ngành về hóa sinh xét nghiệm phân tử có khi chỉ cần 2 năm, kéo dài từ 2-3 năm tùy theo từng chuyên ngành sâu.

Chính vì vậy, chúng ta thống nhất là 6 cộng 3 và cộng một con số x, x có thể từ 2 đến 5. Các hiệu trưởng thiên về mô hình như thế này.

Một vấn đề quan trọng là chúng ta phải đào tạo liên tục. Đào tạo liên tục thì chúng ta cho ra một sản phẩm có trình độ cao để đưa vào thị trường lao động.

Tiếp theo là thống nhất quá trình đào tạo liên tục và phải do các trường đại học quản lý. Cho dù đào tạo chuyên khoa, đào tạo chuyên khoa sâu là thực hành tay nghề tại các bệnh viện nhưng phải do các trường đại học quản lý. Đây là quy luật của thế giới, chúng ta bắt buộc phải như vậy. 

Tôi thấy như vậy có thể tránh sự xáo trộn. Chúng ta đang đào tạo truyền thống 6 năm, 3 năm nội trú là những điều chúng ta làm rất tốt. Hiện nay, chỉ cần tăng cường đổi mới chương trình đào tạo và quản lý đào tạo trong thời gian như vậy thì cũng rất hiệu quả và kèm theo đào tạo chuyên khoa, chuyên khoa sâu. Thời gian thay đổi tùy theo các chuyên ngành và đào tạo liên tục.

Trong đào tạo chuyên khoa, bắt buộc các bác sĩ phải có lương, hiện nay bác sĩ nội trú không có lương. Ở trên thế giới, sau khi tốt nghiệp 6 năm học chuyên khoa, sinh viên sẽ được hưởng lương. Lương này do bệnh viện phải chi trả, có thể từ ngân sách Nhà nước hoặc có thể tự chủ bệnh viện, nhưng bắt buộc phải có lương.

Tôi thay mặt các thầy hiệu trưởng của các trường đại học y và đóng góp ý kiến đối với mô hình đào tạo mới chúng ta đang dự kiến để triển khai.

Thưa GS.TS. Phạm Minh Thông, ông có đề xuất thêm phương hướng như thế nào trong vấn đề đào tạo nhân lực thống nhất ngành y hiện nay không?

GS.TS. Phạm Minh Thông: Đào tạo nhân lực thống nhất toàn ngành y là một việc cực kỳ tốt và phải có tiêu chí trường như thế nào thì được đào tạo đại học. Về cơ bản, các trường y, các trường được đào tạo y khoa thì có thể được đào tạo đại học nhưng đào tạo sau đại học thì phải có tiêu chí hết sức rõ ràng. Bởi đào tạo sau đại học là đào tạo thực hành nên phải có sự phối hợp giữa trường đại học với các bệnh viện thực hành.

Tôi có dịp được sang Pháp, Mỹ và cũng đã làm bác sĩ nội trú, thậm chí làm sau nội trú thì đều được bệnh viện trả lương.

Hiện nay, các sinh viên sau đại học thì không có lương, trước kia thì có. Học bác sĩ nội trú như thời chúng tôi là có được trả lương nhưng về sau bị cắt vì không có quỹ đó nữa. Hiện các bệnh viện thường có một khoản chi nhất định cho nội trú. Đó là của bệnh viện chi thôi chứ không phải của quỹ lương của Nhà nước hay của Bộ Y tế để cho các sinh viên nội trú. Chúng ta cần phải nghiên cứu và thống nhất trong toàn quốc, phải có cái quỹ lương nhất định, trích quỹ nào đó để học.

Thưa GS.TS. Lê Thanh Hải, ông có đánh giá như thế nào cũng như chia sẻ của ông như thế nào về quan điểm sinh viên nội trú cần được trả lương và sẽ do bệnh viện chi trả?

GS.TS. Lê Thanh Hải: Tôi rất đồng ý với các ý kiến của GS. Văn và GS. Thông. Tuy nhiên,  theo tôi thấy gọi là chuyên khoa nhi nhưng thực ra là đa khoa cho trẻ em. Tức là người lớn có chuyên khoa gì thì trẻ em có đều có chuyên khoa đấy. Lão khoa là không có. Trẻ em có các lứa tuổi, cân nặng và đặc điểm tâm sinh lý và bệnh lý khác nhau, cho nên để đào tạo được một bác sĩ chuyên khoa nhi là rất công phu. Quan điểm của tôi là tốt nghiệp 6 năm ở trường ra, nếu muốn làm việc được phải đầu tư. Đầu tiên là phải đào tạo 3 năm để gọi là bác sĩ nhi khoa tổng quát, rồi sau đấy muốn chuyên khoa sâu thì phải mất từ 3 đến 5 năm hoặc hơn để trở thành chuyên khoa sâu của ngành y và tất nhiên vì cái đó đúng với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thôi.

Ngành y là một ngành rất đặc biệt, có cách tuyển sinh đặc biệt, đào tạo đặc biệt, đãi ngộ đặc biệt thì có những giai đoạn tuyển sinh rất đặc biệt rồi, đào tạo cũng rất công phu nhưng đãi ngộ chưa có gì gọi là đặc biệt cả. Phần lớn là khi bác sĩ nội trú về các trường, các bệnh viện thì bệnh viện đều phải có chi trả nhất định bởi vì các em là một nguồn nhân lực chất lượng cao sau này cho bệnh viện, cho đất nước. Cho nên chắc chắn bằng một nguồn nào đấy, việc phải trả lương cho các em đi học nội trú là đúng. 

Thưa ông Nguyễn Minh Lợi, quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào và liệu trong dự thảo nghị định mà Bộ Y tế đang soạn thảo thì có khắc phục được điểm này cũng như những điểm bất cập mà 3 vị khách mời vừa chia sẻ không?

Ông Nguyễn Minh Lợi: Như ban đầu chúng tôi nêu thì Nghị định về đào tạo chuyên sâu trong lĩnh vực sức khỏe là Bộ Y tế được Chính phủ giao nhiệm vụ, hướng dẫn để thể chế hóa quy định trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học. Trong nội dung của Nghị định này, có mấy điểm mà chúng tôi cũng muốn nhấn mạnh thêm. 

Thứ nhất là như GS. Văn cũng đã nêu thì Hội đồng Hiệu trưởng cũng đã xác định là để được cấp bằng bác sĩ y khoa thì chắc chắn là phải đào tạo 6 năm. Tuy nhiên, tinh thần của Nghị định là sẽ chia làm 2 giai đoạn, sau 4 năm thì đáp ứng những chuẩn đầu ra tương đương trình độ của bậc 6 thì sẽ được công nhận là cử nhân y khoa, để nếu như những em nào mà có nhu cầu tham gia thị trường lao động, tham gia những công việc trong xã hội thì có thể tham gia được ngay.

Còn nếu tiếp tục muốn theo hướng chuyên sâu hành nghề thì học tiếp 2 năm nữa để được công nhận và cấp bằng bác sĩ y khoa, cấp bằng bác sĩ y khoa xong thì theo xu hướng quốc tế là phải thi quốc gia. Sau khi thi quốc gia, được công nhận là bác sĩ và tham gia thực hành nghề nghiệp như Luật Khám bệnh, chữa bệnh hiện nay quy định là 18 tháng.

Còn muốn học chuyên khoa thì phải có chứng chỉ hành nghề và học chuyên khoa như vậy thì sẽ giải quyết được rất nhiều vấn đề: Thứ nhất là khi học chuyên khoa mà đã có chứng chỉ hành nghề kỳ thi quốc gia rồi thì khẳng định những người này đã đạt chuẩn chung của quốc gia là đủ tư cách để tham gia hoạt động chuyên môn. Vấn đề thứ hai là khi đã có kỳ thi quốc gia và có chứng chỉ hành nghề rồi, khi đi học chuyên khoa và như các vị khách mời đã nói là những người học chuyên khoa là những người tham gia các hoạt động chuyên môn thực tế trong cơ sở y tế thì người ta có tư cách và người ta được khẳng định về vị trí việc làm thì mới có cơ sở để xem xét về chế độ, chính sách về đãi ngộ, về phụ cấp, về lương như thế nào cho phù hợp. 

Thứ hai là trong nghị định cũng xác định rõ, đã đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên khoa là bắt buộc phải có cơ sở y tế, nên chúng tôi trong Nghị định cũng thiết kế làm sao như GS.Văn nói là đào tạo để cấp bằng thì bắt buộc là phải có cơ sở đào tạo nhưng không thể tách rời với các bệnh viện, các cơ sở y tế và chúng tôi thiết kế trong Nghị định là làm sao phải chuẩn hóa để cơ sở nào, trường đại học nào, bệnh viện nào mới đủ điều kiện để có thể tiếp nhận đào tạo các chương trình chuyên sâu. 

Ví dụ, Bệnh viện Nhi Trung ương là chuyên sâu hàng đầu về nhi khoa thì được tiếp nhận những chương trình đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực nhi khoa và đương nhiên sẽ có sự tham gia phối hợp của các cơ sở đào tạo. Ví dụ: ở Hà Nội là Trường Đại học Y Hà Nội thì như vậy, Nghị định này sẽ giải quyết rất nhiều vấn đề. Ví dụ như chuẩn hóa về trình độ, chuẩn hóa về đầu ra, chuẩn hóa về cơ sở đào tạo và kể cả giải quyết về chế độ, chính sách cho người học trong đào tạo chuyên sâu để hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực y tế. 

Thưa GS.TS. Tạ Thành Văn, được biết Đại học Y Hà Nội đang đổi mới mô hình đào tạo một số ngành học trong 2 năm nay như chương trình răng hàm mặt, điều dưỡng. Xin ông chia sẻ mô hình này của trường đã được thực hiện như thế nào?

GS.TS. Tạ Thành Văn: Đại học Y Hà Nội chúng tôi đang trong lộ trình đổi mới toàn diện trong việc đào tạo bậc đại học và sau đại học. Đối với đào tạo đại học, chúng tôi đã thực hiện chương trình đổi mới năm nay là năm thứ hai đối với 2 đối tượng là bác sĩ răng hàm mặt và điều dưỡng. Đối với chúng tôi, giảng dạy thay vì theo hình thức cũ là giảng dạy theo các lớp, hết năm thứ nhất, năm thứ 2, năm 3 thì hiện nay đào tạo theo vấn đề, tức là các vấn đề của năm thứ nhất sẽ được xuyên suốt cho đến năm thứ 2, thứ 3, chia thành từng giai đoạn.

Năm nay là năm đầu tiên Đại học Y Hà Nội thực hiện chương trình đổi mới đào tạo bác sĩ đa khoa và cũng tương tự như vậy, chúng tôi chia thành 3 giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất là năm đầu đào tạo theo vấn đề kết hợp với cơ sở giảng dạy. Giai đoạn thứ 2 sẽ có sự phối hợp giữa y học cơ sở và lâm sàng và giai đoạn thứ 3 tức là cuối cùng thì dành hoàn toàn cho lâm sàng.

Trong vòng gần 6, 7 năm qua, Đại học Y Hà Nội đã đầu tư khá nhiều cơ sở vật chất và dự kiến khi hoàn thành một khóa đào tạo, bác sĩ đa khoa theo chương trình mới, nhà trường sẽ phải đầu tư khoảng gần 100 tỷ về cơ sở vật chất, vật liệu dạy học, các trang thiết bị chương trình…

Thưa GS.TS. Lê Thanh Hải, quan điểm cũng như nhận định của ông như thế nào về những chia sẻ của ông Văn và mô hình đào tạo của Bệnh viện Nhi Trung ương có điểm nào giống với mô hình đào tạo của Bệnh viện Đại học Y Hà Nội không?

GS.TS. Lê Thanh Hải: Bệnh viện Nhi Trương ương trong mấy năm vừa rồi đào tạo khoảng 100 học viên kiểu gọi là bác sĩ nội trú. Xu hướng về nội dung cơ bản là rất giống với Đại học Y Hà Nội. Tuy nhiên, như tôi đã nói, dựa trên những nhu cầu thực tế thì có bổ sung vào những nội dung học cho phù hợp với thực tiễn. Cho nên trong thời gian học 3 năm, các em phải có 2 tháng đi thực tế với cộng đồng để tăng thêm kiến thức. 

Thứ hai, về kiểm soát nhiễm khuẩn, đây là một điều rất thực tiễn cần phải triển khai mạnh mẽ các cơ sở có giường bệnh.

Thứ ba các vấn đề về giao tiếp nghề nghiệp và mô hình gọi điều trị như GS.Văn chia sẻ thì Bệnh viện cũng đã triển khai tương đối lâu dựa trên các chương trình mà chúng tôi học được từ nước ngoài. 

Thưa GS.TS. Phạm Minh Thông, từ những bất cập mà ông vừa chia sẻ từ đầu chương trình, theo ông nếu áp dụng mô hình mới về đào tạo nhân lực ngành y thì sẽ khắc phục được những hạn chế gì hiện nay?

GS.TS. Phạm Minh Thông: Chúng ta cũng đã áp dụng mô hình cũ rất nhiều năm và một số nơi đã có đổi mới. Đặc biệt, Đại học Y Hà Nội đã đổi mới dạy theo mô-đun giải theo block và như vậy sẽ đổi mới một cách toàn diện phương pháp giảng dạy và đầu ra sẽ thay đổi, chất lượng đầu ra sẽ cao hơn rất nhiều so với trước kia.

Tuy nhiên, điều hết sức quan trọng hiện nay là chúng ta phải đổi mới đào tạo sau đại học để tất cả các bác sĩ ra trường sẽ phải học sau đại học chứ không phải về đi làm ngay, sẽ phải học để có chứng chỉ hành nghề và sau đó thì phải học sau đại học, tối thiểu 3 năm, nhiều là 5 năm ,7 năm, sau đó mới được đi làm thực tế.

Thưa ông, đúng là dự thảo Nghị định Bộ Y tế đang soạn thảo có nhiều điểm rất tích cực so với hiện nay. Tuy nhiên, theo dự thảo, học xong 4 năm, sinh viên ra trường là cử nhân y khoa nhưng theo quy định hiện nay thì chưa có vị trí việc làm trong hệ thống y khoa. Ông có ý kiến như thế nào về vấn đề này?

Ông Nguyễn Minh Lợi: Thực ra, theo tôi được biết thì các mô hình đào tạo trên thế giới cũng như ngay kể cả trong Việt Nam, những danh mục đào tạo sau khi tốt nghiệp đại học thì không phải cứ tốt nghiệp đại học là gắn với một vị trí việc làm cụ thể trong cơ cấu của thị trường lao động. Tuy nhiên, đối với cử nhân y khoa, nếu như sau khi tốt nghiệp 4 năm, sinh viên được cấp bằng cử nhân y khoa, nếu người nào muốn tham gia thị trường lao động thì vẫn có thể có một số các vị trí việc làm có thể tham gia được trong hệ thống y tế.

Còn chúng tôi cũng xác định là đa số khi đã tiếp cận và đào tạo y khoa thì sẽ đều theo hướng là để hành nghề là bác sĩ, cho nên là tuyệt đại đa số sẽ tiếp tục học tiếp từ 6 năm trở thành bác sĩ,  đồng thời chúng tôi đã tính toán bước tiếp theo như GS. Thông cũng vừa nêu làm sao mà trong thời gian tới, khi đổi mới đào tạo y khoa thì phải đồng bộ từ đào tạo đại học đến đào tạo sau đại học. Cho nên, sau 6 năm, sinh viên có chứng chỉ hành nghề thì đa số sẽ tham gia theo hướng đào tạo chuyên khoa để tiếp cận nhu cầu cơ cấu nhân lực của hệ thống y tế theo từng chuyên khoa để bảo đảm chất lượng chăm sóc y tế.

Thưa GS.TS. Tạ Thành Văn, nếu mô hình đào tạo mới được chính thức áp dụng trên cả nước thì chắc chắn là chúng ta sẽ phải thay đổi chương trình cũng như nội dung giảng dạy. Vậy nhà trường đã có sự chuẩn bị trước cũng như lường trước những khó khăn này như thế nào?

GS.TS. Tạ Thành Văn: Như tôi vừa trình bày thì Đại học Y Hà Nội kết hợp cùng với một số trường hợp đại học khác, ví dụ như Trường Đại học Y dược TPHCM, đang triển khai chương trình đào tạo mới đào tạo trên vấn đề theo block và phân giai đoạn, từ 6 năm sẽ phân thành 3 giai đoạn và thay đổi cơ bản về chương trình, phương pháp nội dung cũng như cơ sở vật chất.

Quả thật đây là vấn đề, vì theo tôi thì cái quan trọng đầu tiên là chúng ta phải quyết định mô hình càng sớm càng tốt. 4 cộng 2 cộng mấy thì nó phải ra, cũng như khi chúng ta xây một căn nhà, chúng ta phải có thiết kế trước thay vì chúng ta xây các phòng ngủ, phòng khách, đổi mới để xây nhưng thiết kế tổng thể căn nhà chưa có. Thế thì tôi nghĩ việc quan trọng nhất bây giờ chúng ta phải cho ra được mô hình đào tạo bác sĩ y khoa cho toàn bộ hệ thống.

Trên cơ sở mô hình đó, trên cơ sở căn nhà đã được thiết kế như vậy thì chúng ta đi vào xây dựng thiết kế phòng ngủ, xây dựng thiết kế phòng khách, xây dựng các nội dung nào liên quan và công năng trong cái khung đó.

Chúng tôi vẫn cứ phải đổi mới, không thể không đổi mới được trong cái khung cũ. Bây giờ, chúng ta ban hành khung mới thì lại phải có sự điều chỉnh. Và đây là sự đổi mới rất tốn kém, đòi hỏi sự quyết tâm đến từng cán bộ trong toàn trường và đổi mới này dẫn đến thay đổi cả hệ thống quản lý tổ chức trong trường.

Thưa GS.TS.Lê Thanh Hải, vậy nếu mô hình mới này được áp dụng thì Bệnh viện Nhi Trung ương có gặp vấn đề khó khăn nào trong quá trình đào tạo cũng như đổi mới mô hình đào tạo của mình không, thưa ông?

GS.TS. Lê Thanh Hải: Nghị định 111 của Chính phủ về đổi mới, phối hợp đổi mới trong đào tạo là rất cần thiết và hiện nay, Bệnh viện cũng đã bắt đầu khởi sự và áp dụng, tất nhiên sẽ có một số các khó khăn. 

Thứ nhất là nhu cầu đào tạo càng ngày càng tăng, trong khi đấy thì đội ngũ giảng viên đã được đào tạo theo kiểu mới theo phương pháp mới chưa được đào tạo cẩn thận và thứ ba nữa là giảng viên trường cũng như bên bên bệnh viện ngoài vấn đề tham gia đào tạo ra còn phải tham gia khám và điều trị cho bệnh nhân nữa. Cho nên, thời gian đòi hỏi phải tăng lên gấp bội bởi hi sinh nhiều mới có thể đáp ứng được nhu cầu đào tạo của học sinh, của học viên và của nhân dân.

Quan điểm của GS.TS. Phạm Minh Thông về vấn đề này như thế nào?

GS.TS. Phạm Minh Thông: Tôi cũng thống nhất với ý kiến của GS.Văn, tức là đổi mới đào tạo là cực kỳ quan trọng và Trường Đại học Y đã làm rất tốt đổi mới và hiện nay đang làm và sẽ phải tiếp tục làm đổi mới trong công tác đào tạo. Điều hết sức quan trọng nữa là như GS. Hải nói, tức là phải có sự phối hợp rất chặt chẽ giữa các trường đại học với các bệnh viện thực hành, tất cả bệnh viện lớn của Hà Nội hay là các thành phố lớn sẽ phải là các bệnh viện thực hành của các trường đại học. Bởi vì mình sẽ tận dụng các nguồn lực của các bệnh viện nữa nhưng mà không phải bác sĩ nào cũng có thể tham gia đào tạo được. Bắt buộc phải đào tạo cho các bác sĩ ở các bệnh viện có thể làm công tác đào tạo và phải được cấp chứng chỉ chứ không phải người nào cũng có thể đào tạo được. 

Ngoài ra, các bệnh viện thực hành của toàn bộ hệ thống cũng phải lớn mạnh. Hiện nay, các trường đại học không phải chỉ có các thành phố lớn Hà Nội hay Sài Gòn hay là thành phố Huế. Các bệnh viện tỉnh cũng phải nhanh chóng xây dựng thành các bệnh viện lớn thực hành và như vậy sẽ giống như Pháp, Mỹ, tức là hệ thống y khoa không phải chỉ có 3, 4 thành phố lớn mà nhiều thành phố lớn. 

Thưa GS.TS. Lê Thanh Hải, GS. Phạm Minh Thông vừa đề cập đến một vấn đề đó là bệnh viện thực hành, có thể nói là thời gian sinh viên được thực hành lâm sàng càng nhiều thì chất lượng đầu ra càng tốt. Vậy theo ông, sự phối hợp trong chương trình giảng dạy và đánh giá năng lực cũng như kết quả của người học giữa các cơ sở đào tạo và các bệnh viện có những thuận lợi hay khó khăn như thế nào?

GS.TS Lê Thanh Hải: Hiện nay thì trong các quy định của Nghị định, phải có sự phối hợp giữa cơ sở thực hành, tức là bệnh viện thực hành và cơ sở đào tạo, tức là các trường đại học có học viên đến học thì phải xây dựng được một chương trình đánh giá học viên thế nào cho thống nhất. 

Còn hiện tại, tại bệnh viện, các học viên đến để đào tạo thì tất cả các khoa sau này chính nó đã trở thành cái gọi là các bộ môn trong việc nghiên cứu. Cứ sau mỗi kỳ qua như vậy thì đều phải đánh giá, đều phải cho điểm kể cả lý thuyết hay thực hành cũng như về các hành vi cần phải có của một học viên. 

Thưa ông Nguyễn Minh Lợi, để đổi mới thì cần phải có đầu tư nguồn lực cả về con người và tài chính. Vậy Bộ Y tế đã có giải pháp cho vấn đề này hay chưa?

Ông Nguyễn Minh Lợi: Thực ra thì có thể nói là chưa cần chính sách đổi mới thì theo tôi nghĩ, trong quá trình vận hành về công tác đào tạo thì ngay tự thân các cơ sở đào tạo cũng thường xuyên phải đổi mới nâng cao chất lượng.

Bộ Y tế cũng như Chính phủ cũng đã có nhiều chủ trương, chính sách lớn. Thứ nhất là năm 2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định 111 mà như các khách mời đã nêu để khẳng định vai trò kết hợp chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo và cơ sở y tế trong đào tạo về chuyên sâu, đặc biệt là thực hành tay nghề cho cán bộ y tế.

Vấn đề thứ hai là khi thay đổi, đổi mới chương trình, đổi mới về phương pháp đào tạo thì chắc chắn là cần các nguồn lực đầu tư về con người, về cơ sở vật chất. Thứ nhất là về cơ sở vật chất thì đầu tư tài chính, Bộ Y tế cũng đã có tìm các nguồn hỗ trợ từ các dự án của ADB, World Bank và các dự án khác để hỗ trợ cho các cơ sở đào tạo. Thứ hai là chúng tôi nghĩ ngay từ bản thân các cơ sở đào tạo, ví dụ như GS.Văn cũng đã nêu, thì các cơ sở đào tạo cũng đã chủ động nhận thức là khi đổi mới thì cần phải có đầu tư về nguồn lực, về tài chính, con người.

Vấn đề thứ ba là chuẩn bị về đội ngũ, đổi mới làm sao cho có sự đồng bộ giữa đội ngũ giảng viên của nhà trường cũng như đội ngũ giảng viên của bệnh viện, khi tham gia giảng dạy để cùng tiếp cận phương pháp, phương thức đổi mới nhằm giúp cho chất lượng đào tạo nhân lực y tế thay đổi.

Thưa GS.TS. Lê Thanh Hải, ông có ý kiến như thế nào về các giải pháp tài chính mà ông Nguyễn Minh Lợi vừa chia sẻ?

GS.TS. Lê Thanh Hải: Các chính sách cụ thể thì Chính phủ và Bộ Y tế sẽ có quy định. Tuy nhiên, tôi chỉ đóng khung trong đơn vị một bệnh viện thì áp dụng tất cả các nguồn thu có thể được, các nguồn thu chính đáng để tập trung cho công cuộc đào tạo. 

Khi mình quan niệm là các học viên, đặc biệt là bác sĩ nội trú với điều trị nội trú đến làm việc tại bệnh viện thì mình cũng xem họ như một nguồn lực lao động ở mức độ nào đấy, nên bệnh viện cũng phải có trách nhiệm chia sẻ những nguồn thu để trả lương, chi phí học tập cho đối tượng rộng đó. 

Thưa GS.TS. Nguyễn Minh Thông, ông có chia sẻ như thế nào về vấn đề tài chính, thưa ông?

GS.TS. Nguyễn Minh Thông: Về vấn đề tài chính là vấn đề rất phức tạp, rất khó khăn cho bệnh viện cũng như cho trường. Vì hiện nay, nguồn thu từ đào tạo sau đại học rất thấp và khoản thu đó không đủ để chi trả, thậm chí không đủ chi trả cho giáo viên và các cơ sở vật chất. Chính vì vậy, không thể có tiền để chi trả cho học viên đi thực tập các bệnh viện và về nguyên tắc, học viên sau đại học mà đi thực tập thì phải đi làm ở bệnh viện, tức là khi đã có chứng chỉ hành nghề rồi, người ta đi làm và vừa làm vừa học.

Hiện nay, Bệnh viện Bạch Mai cũng đã dành một khoản chi nhất định để chi cho tất cả bác sĩ nội trú, thậm chí là sắp xếp nhà, phòng ở nội trú. Tuy nhiên, không thể đáp ứng đủ cho số lượng học viên do quá nhiều. Đối với các nước thì Chính phủ dành một quỹ đào tạo cho y khoa sau đại học và quỹ đấy là của Chính phủ phân về cho Bộ Y tế, sau đó phân cho các nơi có đào tạo theo định mức nhất định.

Chúng ta cũng cần có sự hỗ trợ của các bệnh viện hay các cơ sở đào tạo, còn nếu dựa toàn bộ vào các bệnh viện thì tôi sợ cũng không thể đáp ứng hết được yêu cầu. 

Thưa GS.TS. Tạ Thành Văn, từ những chia sẻ từ ban đầu về tài chính của Trường Đại học Y Hà Nội và nghe lắng nghe chia sẻ của 3 vị khách mời còn lại, ông có muốn bổ sung hay đóng góp thêm ý kiến nào không?

GS.TS. Tạ Thành Văn: Có lẽ các vị khách mời cũng nói nhiều đến Nghị định 111 về kết hợp viện, trường thì trên thực tế hiện nay, một số bệnh viện yêu cầu các trường trả tiền cho số sinh viên đi thực tập ở bệnh viện, tôi cũng xin báo cáo với các khách mời là trong học phí hiện nay, chưa có cấu phần để chi trả rõ ràng, trong khi trường tự chủ, chúng ta sẽ phải tính đúng, tính đủ vào chi phí đào tạo. 

Khi đó thì trường cũng sẽ sẵn sàng chi trả khoản phí cho các bệnh viện, quan điểm của tôi là đào tạo sau đại học như GS. Thông và các GS nói với các em phải được trả lương, còn đào tạo sau đại học thì các em phải đóng tiền. Tôi cũng vừa có chuyến tháp tùng đoàn của Bộ trưởng sang làm việc với Đại học Y Harvard và cũng đã thông báo với Bộ trưởng là học phí một năm tại đây là 80.000 USD, trong khi đó học phí 6 năm của Đại học Y Hà Nội 105.000.000 đồng Việt Nam, đồng tức là chưa đến 5.000 USD trong 6 năm. Tuy nhiên, 80.000 USD/năm thì cũng chỉ đủ để chi trả 20 % chi phí đào tạo, còn 80 % nữa là do các doanh nghiệp, do quỹ của nhà trường, do các nhà hảo tâm hỗ trợ. 

Nhìn vào những con số đó, chúng ta thấy đào tạo một bác sĩ ở nước ngoài rất tốn kém, trong khi đào tạo một bác sĩ của chúng ta tiết kiệm hơn rất nhiều nhưng vẫn đạt được trình độ, mức độ nhất định. Điều này chúng ta phải tự hào.

Do vậy, khi đổi mới, tôi nghĩ chúng ta phải tính về tài chính cho mô hình đào tạo mới để làm sao lòng quyết tâm phải kèm theo sự hỗ trợ về tài chính thì chúng ta mới có thể thực thi được, còn nếu không thì rất khó.

Xin trân trọng cảm ơn các vị khách mời!

Nhóm PV