(Chinhphu.vn) – Ngày 10/12, tại thành phố Cần Thơ, Bộ Xây dựng phối hợp với Tổ chức Hợp tác quốc tế Đức tại Việt Nam (GIZ) tổ chức Hội thảo “Định hướng phát triển hệ thống đô thị, nông thôn tại Vùng đồng bằng sông Cửu Long”.

Hội thảo có sự tham gia của đại diện các tổ chức quốc tế, các bộ, ngành, hội nghề nghiệp và 13 tỉnh, thành phố trong Vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

Hội thảo nhằm tham vấn ý kiến chuyên gia và các địa phương trong Vùng về phương hướng tổ chức hệ thống đô thị, nông thôn; tổ chức hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị, nông thôn; xây dựng chương trình phát triển đô thị trong thời kỳ mới, nhằm thúc đẩy liên kết vùng và thực hiện mục tiêu phát triển bền vững Vùng ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH)

Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Thanh Nghị khẳng định: Đây là Hội thảo rất quan trọng nhằm tham vấn ý kiến của các chuyên gia, các nhà quản lý để thúc đẩy liên kết vùng và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu.

Thứ trưởng Nguyễn Thanh Nghị cho biết, ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu, Bộ Xây dựng đã xây dựng, ban hành Kế hoạch hành động của Bộ Xây dựng triển khai thực hiện Nghị quyết 120 với 9 nhóm nhiệm vụ cụ thể.

Đồng thời, Bộ Xây dựng cũng đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 tại Quyết định số 68 năm 2018.

Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Thanh Nghị phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Bộ Xây dựng

Theo đó, hệ thống đô thị trong vùng sẽ từng bước được xây dựng theo cấu trúc mạng lưới phù hợp với điều kiện địa lý, sinh thái tự nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Các đô thị trung tâm vùng được tổ chức phân bố để trở thành hạt nhân, động lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của từng tỉnh, trên toàn vùng và góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh tại biên giới Tây Nam tổ quốc.

Theo Bộ Xây dựng, hiện tại,Vùng ĐBSCL có 174 đô thị gồm: 1 đô thị trực thuộc Trung ương, 2 đô thị loại I thuộc tỉnh, 12 đô thị loại II, 9 đô thị loại III, 23 đô thị loại IV và 127 đô thị loại V.

Tỉ lệ đô thị hóa toàn Vùng đạt 31,16%, tăng 4,6% so với năm 2015. Khu vực đô thị có sự tăng trưởng cả về số lượng và chất lượng; bộ mặt đô thị ngày càng khang trang, hiện đại và có bản sắc. Công tác đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị được quan tâm, đẩy mạnh, đạt các kết quả cụ thể. Các chương trình, dự án hỗ trợ kỹ thuật của Ngân hàng Thế giới, các tổ chức quốc tế khác về nâng cấp đô thị, cấp nước, thoát nước và xử lý nước thải được triển khai thực hiện có hiệu quả và đều phát huy những kết quả tích cực, góp phần cải thiện đời sống của người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội tại các đại phương trong vùng.

Còn nhiều hạn chế trong công tác quản lý quy hoạch Vùng ĐBSCL

Các tham luận tại hội thảo tập trung đánh giá tình hình phát triển kinh tế-xã hội gắn với công tác quy hoạch, quản lý, phát triển hạ tầng đô thị và nông thôn của Vùng cũng như từng địa phương, các đô thị.

Toàn cảnh Hội thảo. Ảnh: Bộ Xây dựng

Theo các chuyên gia, bên cạnh các kết quả tích cực đạt được, công tác quản lý quy hoạch, phát triển cơ sở hạ tầng, đô thị, nhà ở Vùng ĐBSCL còn nhiều tồn tại, hạn chế: tỷ lệ đô thị hóa và tốc độ đô thị hóa thấp hơn nhiều so với trung bình toàn quốc. Hệ thống cơ tầng kỹ thuật còn yếu và thiếu đồng bộ; việc thu gom, xử lý chất thải rắn, xử lý nước thải chưa có nhiều biến chuyển, tỉ lệ xử lý thấp và hầu hết vẫn đang sử dụng các công nghệ lạc hậu. Các chương trình nhà ở cho các đối tượng chính sách Vùng ĐBSCL thực hiện còn chậm so với kế hoạch đề ra.

Nguyên nhân chủ yếu là do nguồn lực dành cho phát triển cơ sở hạ tầng và nhà ở của Vùng ĐBSCL còn rất hạn chế, chủ yếu dựa vào ngân sách, trong khi việc phân bổ, thực hiện đầu tư còn dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm; việc thực hiện xã hội hóa đầu tư và thu hút đầu tư gặp nhiều khó khăn.

Bên cạnh đó,Vùng ĐBSCL cũng đang đối mặt mới các thách thức mới, đặc biệt là tình hình Biến đổi khí hậu, thiên tai đang diễn ra ngày càng phức tạp, các hiện tượng thời tiết cực đoan như lũ lụt, hạn hán diễn ra ngày một thường xuyên, kéo theo tình trạng nhiễm mặn, sụt lún nền đất... gây ảnh hưởng ngày một lớn, tác động tiêu cực đến kết cấu hạ tầng kỹ thuật, làm mất an toàn, xáo trộn cuộc sống người dân. Trong khi đó, công tác dự báo, đánh giá chính xác tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng theo các kịch bản và thiên tai còn hạn chế.

Để khắc phục các tồn tại, hạn chế và giải quyết các thách thức này, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Thanh Nghị đề nghị các chuyên gia, các nhà khoa học và các nhà quản lý tập trung thảo luận các nội dung liên quan đến các vấn đề về chính sách trong quản lý phát triển hệ thống đô thị và nông thôn của vùng ĐBSCL, đảm bảo yêu cầu về kiểm soát, quản lý đô thị và nông thôn phù hợp với các định hướng, chính sách phát triển đất nước, của vùng ĐBSCL trong thời gian tới.

Định hướng hình thành bộ khung, xác định mô hình phát triển, hình thái phát triển của hệ thống đô thị và nông thôn của Vùng ĐBSCL; tổ chức hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị và nông thôn Vùng ĐBSCL trong bối cảnh mới, đảm bảo hình thành cơ sở, nền tảng để phát triển bền vững, thích ứng với Biến đổi khí hậu; đảm bảo thúc đẩy liên kết vùng, kết nối đồng bộ, hữu cơ giữa đô thị và nông thôn trong Vùng.

Đồng thời đề ra giải pháp nâng cao và phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh của hệ thống đô thị và nông thôn Vùng đồng bằng sông Cửu Long, trong đó phải xác định được mức độ ưu tiên và việc lựa chọn những vùng đô thị hóa làm động lực cho phát triển, những vùng, lãnh thổ hạn chế phát triển.

Quy hoạch Vùng phải tính tới các yếu tố BĐKH, bảo tồn hệ sinh thái, văn hóa

Tại hội thảo, các chuyên gia cũng đã đề cập đến các giải pháp nhằm khắc phục các tồn tại, hạn chế và giải quyết các thách thức của việc quy hoạch phát triển hệ thống đô thị và nông thôn Vùng ĐBSCL

TS. Trần Thị Lan Anh, Phó Cục trưởng Cục Phát triển Đô thị (Bộ Xây dựng) cho rằng quy hoạch Vùng ĐBSCL cần thống nhất quan điểm từ “Sống chung với lũ” đến “Sống chung với biến đổi khí hậu”. Do vậy cần đổi mới phương pháp tiếp cận.

Theo bà Trần Thị Lan Anh, quy hoạch Vùng ĐBSCL không nên là quy hoạch của các kế hoạch thực hiện các dự án đầu tư mà đó phải là quy hoạch hợp nhất đa ngành, có tính kế thừa và đặt trọng tâm quản lý và bảo về nguồn nước; bảo tồn hệ sịnh thái, văn hóa, đặc thù sông nước đặc thù định cư và dân cư…

ĐBSCL lấy phát triển đô thị và nông thôn là động lực phát triển kinh tế của vùng; tăng cường phát triển du lịch, giao thông và vận tải thủy…

Đề cập một số giải pháp phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị Vùng ĐBSCL thời gian tới, bà Mai Thị Liên Hương, Cục trưởng Cục Hạ tầng kỹ thuật cho rằng, cần hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách theo hướng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế, kể cả nhà đầu tư nước ngoài đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng bằng nhiều hình thức, phù hợp với thông hệ quốc tế.

Về quy hoạch, chú ý nâng cao chất lượng nội dung quy hoạch hạ tầng kỹ thuật, bảo đảm tính đồng bộ chung của hệ thống hạ tầng vùng và hạ tầng các đô thị; Cần đẩy mạnh thực hiện đột phá chiến lược về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, trong đó tập trung đối với kết cấu hạ tầng giao thông, cấp nước, thoát nước và xử lý nước thải. Cùng với đó, thực hiện các giải pháp trữ nước, bảo vệ nguồn nước, đảm bảo an toàn nước sạch vùng ĐBSCL; Nghiên cứu, thực hiện các giải pháp quy hoạch cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải, rác thải đô thị và nông thôn phù hợp với vùng ĐBSCL theo định hướng phát triển bền vững trong bối cảnh BĐKH và nước biển dâng.

Nghiên cứu, thực hiện công tác quy hoạch và quản lý cao độ nền đô thị, trong đó đặc biệt chú ý đến quá trình lún của đô thị; Tăng cường công tác quản lý, đảm bảo tiến độ, hiệu quả và chất lượng công trình hạ tầng kỹ thuật, chống thất thoát, lãng phí.

Bà Hương nhấn mạnh: Hệ thống hạ tầng kỹ thuật có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển đô thị, để thúc đầy phát triển hạ tầng đô thị và khu dân cư nông thôn tập trung nói chung đối với Vùng ĐBSCL nói riêng thì cần sự chung tay của toàn hệ thống chính trị từ cấp trung ương đến cấp chính quyền địa phương.

Ngoài ra, trong các tỉnh, thành và giữa các tỉnh thành, cần xây dựng được những cơ chế có tính hệ thống để điều phối trong lập kế hoạch phát triển đầu tư hạ tầng kỹ thuật và những lĩnh vực khác mang lại lợi ích thiết thực, hữu hình cho người dân của Vùng ĐBSCL.

Cũng theo bà Hương, trước đó, giai đoạn 2016-2020, Bộ Xây dựng đã chủ trì, phối hợp với Tổ chức Hơp tác phát triển Đức (GIZ) thực hiện Chương trình Thoát nước và Chống ngập úng Đô thị ứng phó với Biến đổi khí hậu (FPP) chủ yếu tập trung vào hỗ trợ kỹ thuật cho các tỉnh và các bộ ngành liên quan, hỗ trợ lập quy hoạch thoát nước, thực hiện và xây dựng hệ thống kỹ thuật liên quan đến quản lý ngập úng tại 3 đô thị ĐBSCL là thành phố Cà Mau (tỉnh Cà Mau), Rạch Giá (tỉnh Kiên Giang) và Long Xuyên (tỉnh An Giang).

Điểm mới trong quy hoạch này là có tính đến các yếu tố Biến đổi khí hậu, mô hình ngập lụt, sụt lún đất, mô hình thoát nước bền vững, xử lý nước thải phi tập trung…và xây dựng được 3 mô hình thí điểm hệ thống thoát nước bền vững (SUDS) tại 03 thành phố này...

Đây là bài học thực tế tốt trong phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị Vùng ĐBSCL thời gian tới.

Toàn Thắng