(Chinhphu.vn) - Được triển khai từ năm 2012, mô hình giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống đã và đang đi vào thực tiễn cuộc sống của người dân. Song, để đạt được hiệu quả cao, mô hình này cần phải đổi mới cách làm.

Kiểm tra và tư vấn cách chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ đồng bào dân tộc. Ảnh: VGP/Minh Hồng.
Tảo hôn đã giảm, nhưng tỉ lệ còn thấp

Tảo hôn vẫn là vấn nạn ở nhiều vùng quê, nhất là ở các xã miền núi, mà nguyên nhân là trình độ dân trí thấp gắn với một nền sản xuất tự cung tự cấp.

Hai xã Nhất Tiến và Tân Tri thuộc huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn được tiếp cận với mô hình giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong thực trạng tỉ lệ tảo hôn cao.

Để đưa mô hình đến với người dân, do người dân thực hiện, xã Nhất Tiến đã thành lập và duy trì hoạt động của 2 CLB là thanh niên kết hôn đúng độ tuổi và phụ nữ không tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống. Mạng lưới của 2 CLB này vươn tới những chi đoàn thanh niên các thôn bản.

Tuy nhiên, dù 2 CLB này có hoạt động, song hiệu quả đạt được chưa cao: Năm 2014, tình trạng tảo hôn ở xã có giảm, nhưng mức độ giảm chưa mạnh, chỉ cao hơn 3% so với năm trước.

Đối với Tân Tri, không chỉ xây dựng các loại hình CLB, xã còn huy động sự vào cuộc của các già làng, trưởng bản, trưởng các dòng tộc, nên tình trạng tảo hôn giảm nhiều hơn, đạt trên 7%.

Chị Dương Thị Soi, chuyên trách dân số xã Nhất Tiến cho biết, trong 35 cặp kết hôn của năm 2014, vẫn còn tới 9 cặp tảo hôn (tỉ lệ 17,1%). Những trường hợp này đều ở các thôn bản người Dao như Tiến Hậu, Làng Đồng, Đồng Tiến...

Các trường hợp tảo hôn hầu hết thuộc các gia đình nhà trai thiếu nhân lực. Học hết THCS, nếu nam giới đi lao động tại các khu công nghiệp thì cũng vẫn phải lấy vợ sớm để có người “lo việc nhà”, và kể cả có ở nhà thì vẫn kết hôn sớm.

Còn ở xã Tân Tri, năm 2014 có 40 cặp kết hôn thì có 3 cặp tảo hôn (tỉ lệ 7,5%). Chị Nông Thị Tâm, phụ trách dân số xã cho biết, 3 cặp tảo hôn này đều là “cưới chạy”. Do lối sống, do thiếu hiểu biết về sức khỏe sinh sản vị thành niên, cách tránh thai, nên trong quan hệ nam nữ, các em thiếu giữ gìn. “Khi ‘sự việc’ đã xảy ra rồi thì có ngăn cũng không được”, chị Tâm lý giải.

Đổi mới cách làm để tăng hiệu quả

Mô hình giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống đã được triển khai tại 11 xã của 6 huyện trong tỉnh Lạng Sơn. Trong 2 năm triển khai đã xây dựng được 39 CLB, thu hút 1.066 người tham gia.

Tuy đã chấm dứt tình trạng hôn nhân cận huyết thống và giảm tỉ lệ tảo hôn, song trong 394 cặp kết hôn của các địa phương thực hiện mô hình, số không đăng ký kết hôn vẫn chiếm 5,9% và vẫn còn 23 cặp tảo hôn (chiếm 5,8%).

Các cặp tảo hôn đều là “cưới chui”, do không có sự ràng buộc về pháp lý theo Luật Hôn nhân và gia đình, tình trạng “vợ chồng trẻ con” rất dễ dẫn tới ly hôn hoặc  xảy ra bạo lực gia đình.

Cái khó trong thực hiện mô hình giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống không chỉ do tài chính cho hoạt động của các CLB ngày càng eo hẹp, mà còn vướng ở chỗ sự vận động chưa đến được đối tượng “đích” là thanh niên và vị thành niên.

Loại hình sinh hoạt CLB là cần, song chưa đủ, vì trên thực tế, các đối tượng cần được tuyên truyền để chuyển biến nhận thức, thay đổi hành vi lại không tới sinh hoạt với nhiều lý do như đi làm ăn xa, bận việc nhà...

Qua thực tiễn triển khai tại 2 xã của huyện Bắc Sơn, có thể thấy, nếu vận động lan tỏa đến các già làng, trưởng bản, dòng họ thì hiệu quả sẽ cao hơn.

Sở dĩ như vậy là do vốn sống, kinh nghiệm sống và kỹ năng thuyết phục của thanh niên nông thôn, nhất là thanh niên vùng cao còn yếu, khiến các em không thể “thoát” ra được sự xếp đặt, quyết định của gia đình, dòng họ. Nếu những người có uy tín của thôn bản, dòng họ hiểu cặn kẽ và đúng đắn về các tác hại của việc tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống, chắc chắn tình trạng này sẽ giảm mạnh.

Theo ông Nguyễn Quang Bằng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Dân số tỉnh Lạng Sơn, mô hình giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống cần được thực hiện một cách lâu dài, kiên trì để làm sao thay đổi được tư tưởng của người dân. Và trong thực hiện, các trung tâm dân số cần rút ra những bài học kinh nghiệm để mô hình được tổ chức linh hoạt hơn, hiệu quả hơn.

Minh Hồng