(Chinhphu.vn) - Nghị quyết 50 của Bộ Chính trị là một trong những định hướng quan trọng để hoàn thiện, đảm bảo môi trường đầu tư kinh doanh cho nhà đầu tư trong và ngoài nước, góp phần khẳng định thứ hạng trong khu vực về môi trường kinh doanh.

Cộng đồng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Ảnh minh họa

Sau hơn 30 năm thực hiện thu hút đầu tư nước ngoài (ĐTNN), đến nay vốn ĐTNN đạt gần 350 tỷ USD, bình quân tăng trên 20%/năm trong 30 năm, đồng thời là khu vực tăng trưởng cao nhất trong nền kinh tế.

Tuy nhiên, việc thu hút, quản lý và hoạt động ĐTNN vẫn còn những tồn tại, hạn chế và phát sinh những vấn đề mới mà đã đến lúc chúng ta cần điều chỉnh và rà soát lại cho phù hợp.

Ngày 20/8/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 50-NQ/TW về “Định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác ĐTNN đến năm 2030”.

Báo Điện tử Chính phủ đã có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Bộ KH&ĐT Vũ Đại Thắng về Nghị quyết này - một Nghị quyết có tầm quan trọng đặc biệt đối với tiến trình đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN của nước ta trong thời kỳ mới.

“Hợp tác” chứ không chỉ thu hút và sử dụng

Đầu tư nước ngoài luôn được xác định là một phần quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Xin ông cho biết quan điểm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề này?

Ông Vũ Đại Thắng: Từ những ngày đầu mở cửa Đảng, Nhà nước ta đã có chủ trương mời gọi đầu tư nước ngoài để tận dụng những tiềm năng, lợi thế trong vốn đầu tư, công nghệ, thị trường.

Các chủ trương của Đảng đã được cụ thể hóa bằng 4 Bộ Luật quan trọng về đầu tư nước ngoài (Luật Đầu tư nước ngoài 1987; Luật Đầu tư nước ngoài 1996; Luật Đầu tư chung 2005 và 2014). Thông qua 4 Bộ Luật đầu tư này, chúng ta đã tạo một cơ sở pháp lý quan trọng trong việc tổ chức thực hiện thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài.

Nguồn vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành nguồn vốn quan trọng hỗ trợ sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của nước ta với tư cách như một nguồn vốn quan trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội của đất nước, đóng góp cho việc tăng năng suất, tăng giá trị lao động.

Bên cạnh mặt tích cực đó, cũng có những hạn chế nhất định. Đặc biệt là đến thời điểm này, sau 30 năm, thế và lực của đất nước ta có nhiều thay đổi, đã đến thời điểm chúng ta cần ưu tiên lựa chọn những doanh nghiệp (DN), dự án phù hợp với chúng ta về mặt khoa học, công nghệ.

Chính vì vậy, Nghị quyết số 50 của Bộ Chính trị đã đưa ra những định hướng chủ trương về thu hút đầu tư nước ngoài trong giai đoạn tới nhằm phát huy hết hiệu quả của nguồn vốn quan trọng này.

Đặc biệt, Nghị quyết đã sử dụng chữ “hợp tác” chứ không phải thu hút và sử dụng, thể hiện sự bình đẳng, chủ động của chúng ta trong làm việc với các đối tác nước ngoài và đề cao hơn nữa trách nhiệm của các nhà đầu tư nước ngoài khi họ đầu tư vào Việt Nam.

Thứ trưởng Bộ KH&ĐT Vũ Đại Thắng.

Những điểm nhấn trong Nghị quyết rõ ràng muốn định hướng một chiến lược quan trọng, đó là chào mời những nhà đầu tư nước ngoài chân chính, đáp ứng được những tiêu chuẩn cao về công nghệ, lao động… Và đương nhiên sẽ phải loại bỏ những nhà đầu tư núp bóng nhằm né thuế, chuyển giá… Ông bày tỏ quan điểm của mình thế nào về vấn đề này?

Ông Vũ Đại Thắng: Tôi cho rằng nếu chúng ta chỉ nhìn những con số để quy chụp đầu tư nước ngoài lấn át trong nước thì chúng ta cần phải cân nhắc. Thay vì việc phê phán, chúng ta cần thúc đẩy chính các DN trong nước phát triển.

Trong Nghị quyết 50 cũng có đề cập đến vấn đề đảm bảo tính kết nối liên thông giữa đầu tư nước ngoài với thị trường trong nước là một yêu cầu rất bắt buộc và cũng chỉ ra những định hướng rất rõ ràng.

Ngoài việc khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công nghệ, khuyến khích DN nước ngoài mua hàng hóa của DN trong nước, Bộ Chính trị cũng chỉ ra những giải pháp hỗ trợ DN trong nước.

Vừa kéo vừa đẩy để hỗ trợ DN trong nước

Làm thế nào để chúng ta có những giải pháp căn cơ để trong thời gian tới chúng ta làm tốt được việc kết nối các DN có vốn đầu tư nước ngoài và DN trong nước?

Ông Vũ Đại Thắng: Chúng ta đã có nhiều giải pháp hỗ trợ các DN có vốn đầu tư nước ngoài mua nguyên vật liệu cung ứng trong nước. Ngược lại đối với DN trong nước, chúng ta cũng phải có các giải pháp để hỗ trợ DN nâng tầm sản phẩm lên, đáp ứng được yêu cầu của các DN nước ngoài.

Nội dung kết nối giữa DN nước ngoài và trong nước, chúng ta đã nhìn nhận từ lâu, chúng ta đã có nhiều yêu cầu, nhưng thực chất vẫn chưa làm được.

Do vậy, Nghị quyết số 50-NQ/TW về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác ĐTNN đến năm 2030 lần này đã chỉ ra những giải pháp khuyến khích DN có đầu tư nước ngoài, những chính sách hỗ trợ để DN có thể sử dụng các dịch vụ mua sắm nguyên, nhiên vật liệu từ các DN trong nước, cung ứng dịch vụ cho họ…

Nhưng ngược trở lại, đối với DN trong nước, chúng ta phải có chính sách để hỗ trợ DN trong nước nâng tầm sản phẩm, đáp ứng chuỗi giá trị của các DN đầu tư nước ngoài để có thể tham gia vào chuỗi giá trị đó. Đây là biện pháp chúng tôi cho rằng vừa kéo vừa đẩy.

Nghị quyết 50-NQ/TW của Bộ Chính trị có nhiều ràng buộc quan trọng về thu hút đầu tư nước ngoài, đặt mục tiêu giải ngân cao hơn trước. Trong khi nỗ lực giải ngân của chúng ta đang gặp nhiều vấn đề, mặc dù gần đây cũng đã có những kỷ lục trong giải ngân vốn xuất hiện. Ông có lo ngại về vấn đề này không, thưa ông?

Ông Vũ Đại Thắng: Với tư cách là người trực tiếp làm việc với các nhà đầu tư nước ngoài, rất nhiều năm ở nhiều cương vị tham gia vào quá trình quản lý các dự án đầu tư nước ngoài, tôi cho rằng nếu nói Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính trị đưa ra nhiều ràng buộc với nhà đầu tư nước ngoài là chưa thực sự chính xác.

Nghị quyết 50-NQ/TW của Bộ Chính trị định vị lại thành phần kinh tế đầu tư nước ngoài là một thành phần kinh tế của nền kinh tế của chúng ta, bình đẳng với tất cả thành phần kinh tế khác và phải tuân thủ pháp luật Việt Nam.

Với tính chất hữu cơ như vậy, thành phần kinh tế đầu tư nước ngoài nằm trong quy trình hoạch định chiến lược, hoạch định chính sách phát triển của Việt Nam. Nghị quyết số 50-NQ/TW đưa ra những mục tiêu khá cụ thể về đầu tư nước ngoài trong giai đoạn tới như mục tiêu về vốn đăng ký, mục tiêu về vốn thực hiện…

Các mục tiêu này Bộ Chính trị đưa ra ở mức độ vừa phải. Chúng ta đã tính toán đến nhằm để tránh khu vực vốn đầu tư nước ngoài lấn át khu vực kinh tế trong nước, chỉ đảm bảo để khu vực đầu tư nước ngoài tiếp tục thúc đẩy, lôi kéo phát triển thành phần kinh tế khác như kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước của chúng ta.

Tổng mức đầu tư của nguồn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn tới, đặt ở mức khoảng từ 20-25% tổng mức đầu tư toàn xã hội, đây là mức độ rất vừa phải, bảo đảm tính an ninh của nền kinh tế, bảo đảm sự tự chủ của nền kinh tế đất nước.

Về giải ngân, trong thực tiễn chúng ta gọi là giữa vốn đăng ký và vốn thực hiện. Giải ngân dành cho đầu tư công và ODA. Hiện nay mức thực hiện trên vốn đăng ký đầu tư khoảng 56%, có nghĩa trong 350 tỷ USD đã được đăng ký đầu tư vào Việt Nam có khoảng xấp xỉ trên 180 tỷ USD đã trực tiếp “bơm” vào trong nền kinh tế nước ta, vẫn còn dư địa khoảng trên 180 tỷ USD chưa được thực hiện. Lý do nhiều dự án rơi vào độ trễ về đầu tư xây dựng, nhưng nhiều dự án có vốn ảo, đăng ký lớn nhưng thực hiện nhỏ. Đặc biệt là những dự án bất động sản.

Với những chính sách liên quan đến giám sát, quản lý đầu tư chắc chắn trong giai đoạn tới với sự vào cuộc của các cấp, các ngành, chúng ta sẽ hạn chế được dự án vốn ảo. Chúng ta sẽ chọn được những dự án xác đáng, hiệu quả nhất, phục vụ trực tiếp đến công cuộc phát triển của chúng ta, đặc biệt là ở địa phương.

Hiện nay việc cấp giấy chứng nhận đầu tư, cấp phép dự án do chính quyền địa phương cấp. Các bộ, ngành là cơ quan xây dựng chính sách. Việc lựa chọn dự án, các bộ, ngành chắc chắn sẽ có ý kiến tham mưu, nhưng trách nhiệm chính thuộc về các địa phương.

Tại sao đặt ra vấn đề an ninh-quốc phòng trong Nghị quyết này khi mà các hoạt động xuất nhập khẩu nguyên liệu và hàng hoá mà chúng ta đã kiểm soát được? Hay nói cách khác là chúng ta đã có rất nhiều quy định chặt chẽ cũng như nhiều rào cản thương mại được dựng lên để kiểm soát vấn đề này?

Ông Vũ Đại Thắng: Hiện nay việc cấp phép, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư do chính quyền địa phương cấp. Trong Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính trị đã chỉ ra chúng ta có quyền xây dựng các hệ thống tiêu chí về đầu tư để lựa chọn ưu tiên thu hút đầu tư phù hợp với các quy hoạch, định hướng phát triển với từng địa phương, từng ngành.

Bên cạnh những tiêu chí về đầu tư, một điểm nữa là yêu cầu về cơ chế rà soát về an ninh đối với các dự án đầu tư.

Việc tạm dừng hay chấm dứt một dự án vì lý do an ninh-quốc phòng hay về vấn đề môi trường, văn hóa… được quy định ở tất cả các Bộ Luật đầu tư của chúng ta từ trước đến nay. Nếu một dự án gây ra thảm họa môi trường, hoàn toàn chính quyền có quyền chất dứt, tạm dừng dự án. Không chỉ nước ta mà tất cả các nước đều có quy định này.

Trong bối cảnh vấn đề an ninh có nhiều biến đổi, không còn là vấn đề truyền thống, mà sang cả vấn đề phi truyền thống từ môi trường, văn hóa, tôn giáo… Vấn đề đặt ra là chúng ta phải có cơ chế rà soát trước khi cấp chứng nhận đăng ký đầu tư là rất cần thiết.

Bộ Chính trị đã có chỉ đạo rất rõ ràng, cần tổ chức rà soát ngay trước khi cấp các giấy chứng nhận đầu tư để đảm bảo các dự án đáp ứng yêu cầu về an ninh quốc gia. Trong đó nhấn mạnh rất nhiều đến vấn đề môi trường, an ninh trật tự, không gây ảnh hưởng đến những giá trị văn hóa của Việt Nam. Không chỉ cấp giấy chứng nhận đầu tư cho những dự án mới mà cả trong trường hợp mua bán lại cổ phần, cổ phiếu.

Hiện nay phát sinh rất nhiều vấn đề do pháp luật đầu tư của chúng ta ngày càng thông thoáng nên tình trạng núp bóng, người nước ngoài mạo danh người Việt Nam để mua cổ phần, cổ phiếu của các DN của Việt Nam để tránh việc thành lập các dự án mới, thậm chí vào những vùng an ninh quốc phòng của chúng ta đã có. Chúng tôi cho rằng việc đưa yêu cầu về an ninh quốc gia để rà soát là rất bình thường, cộng đồng DN rất hoan nghênh.

Ngoại lực quan trọng nhưng nội lực là yếu tố quyết định

Ông nhìn nhận thế nào về các cơ hội mới trong tương lai đến từ nước ngoài? DN trong nước sẽ đón nhận như thế nào và có bị ảnh hưởng gì không?

Ông Vũ Đại Thắng: Chúng ta cần tập trung hỗ trợ thúc đẩy các DN của Việt Nam dần dần bắt kịp, hướng tới thay thế doanh nghiệp nước ngoài về mặt công nghệ, khoa học, quản trị... chứ không phải quan điểm do sợ nước ngoài phát triển mạnh quá mà ta phải kéo xuống.

Chúng ta vẫn phải thúc đẩy khu vực đầu tư nước ngoài nhưng cũng phải ưu tiên tập trung hỗ trợ cho DN trong nước phát triển cao hơn, đó là mục tiêu và đúng như quan điểm của Đảng xuyên suốt từ trước đến nay. Ngoại lực quan trọng nhưng nội lực là yếu tố quyết định.

Còn về các vấn đề ưu đãi, tôi cho rằng qua việc đánh giá đầu tư nước ngoài qua 30 năm, đúng là cơ chế ưu đãi đầu tư cho các DN nói chung vẫn còn hơi lạc hậu, chúng ta tập trung theo chiều rộng quá, chứ không theo chiều sâu.

Thời gian tới cũng cần có những nghiên cứu để thay đổi cách tiếp cận này, theo hướng chỉ ưu đãi với phần giá trị gia tăng được làm trên đất nước Việt Nam, ưu đãi với phần có kết nối với DN Việt Nam, về khoa học, công nghệ - những cái thực sự tạo ra giá trị hiệu quả thì mới được ưu đãi. Còn việc nhập khẩu máy móc, nguyên nhiên vật liệu rồi gia công xuất khẩu đi thì cần phải xem xét xem có được ưu đãi hay không.

Hiện nay, ngoài việc đối diện với tình trạng núp bóng, đầu tư chui thì xuất hiện thêm tình trạng có dòng vốn ít, nhỏ lẻ. Ông có thể cho biết thêm nguy cơ khi chúng ta phải đối diện với thực trạng này?

Ông Vũ Đại Thắng: Tổ chức Thương mại và phát triển của Liên Hợp Quốc đánh giá Việt Nam là một trong 12 quốc gia trên thế giới sử dụng hiệu quả nhất nguồn vốn đầu tư nước ngoài.

Chỉ số môi trường kinh doanh đúng là còn nhiều cái cần phải thay đổi. Thế nhưng trong những năm qua, chúng ta tăng rất đáng kể. Năm 2018, tăng 13 bậc so với năm 2016. Chúng ta có thể hoàn toàn lạc quan vào những cái chúng ta đã dổi mới, cố gắng quyết liệt để thay đổi.

Nghị quyết 50 với tên gọi hoàn thiện thể chế chính sách sẽ là một trong những mũi quan trọng, để chúng ta hoàn thiện, đảm bảo môi trường đầu tư kinh doanh cho nhà đầu tư trong và ngoài nước, góp phần khẳng định thứ hạng trong ASEAN về môi trường kinh doanh: Thứ 4 từ nay đến 2025 và thứ 3 đến năm 2030.

Muốn thực hiện tốt những mục tiêu Nghị quyết đề ra, ông có nghĩ chúng ta phải có phản ứng nhanh hơn nữa trong việc xây dựng chính sách thông thoáng phù hợp, nhất là phải có những tiêu chí, quy chuẩn chung khi cấp phép dự án đầu tư nước ngoài. Tới đây, Bộ KH&ĐT sẽ có động thái nào cho vấn đề này, thưa ông?

Ông Vũ Đại Thắng: Việc quan trọng nhất là phải cụ thể hóa các chỉ đạo, định hướng của Đảng vào các văn bản quy phạm pháp luật. Hiện nay, về cơ bản, các nội dung của Nghị quyết 50 đã được tích hợp vào các dự án luật mới, sửa đổi, hiện đang soạn thảo để trình Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội để xem xét trong kỳ họp Quốc hội này. Ví dụ, Luật Đầu tư sửa đổi, Luật DN sửa đổi, Luật Chứng khoán….

Tất cả các luật này hiện nay trong quá trình sửa đổi, tích hợp toàn bộ các ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, từ việc định hướng xúc tiến đầu tư, ưu đãi đầu tư cũng đã được tích hợp.

Chúng tôi tin tưởng rằng, một Nghị quyết quan trọng của Đảng, phù hợp với tình hình kinh tế mới của chúng ta, được cụ thể hóa bằng các bộ Luật một cách nhanh chóng, nhất định việc thay đổi, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở đất nước ta sẽ có những chuyển biến tốt trong thời gian sắp tới.

Ngọc Minh (thực hiện)