(Chinhphu.vn) - Sáng 4/9, Cổng TTĐT Chính phủ tổ chức tọa đàm trực tuyến với chủ đề “Thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài: Hành động và giải pháp đột phá".
Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến ngày 20/8/2020, tổng vốn FDI vào Việt Nam đạt 19,54 tỷ USD, bằng 86,3% so với cùng kỳ năm 2019. Có một tín hiệu đáng mừng là sau những tháng đầu năm 2020 bị chững lại, dòng vốn đầu tư FDI vào Việt Nam đã tăng mạnh trong các tháng vừa qua. Theo các chuyên gia, đây là dấu hiệu của làn sóng đầu tư mới vào Việt Nam - điểm đến đầu tư hấp dẫn với những lợi thế cạnh tranh sẵn có, việc tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, cùng với những biện pháp phòng chống COVID-19 tích cực và hiệu quả.

Tuy nhiên, để tận dụng được làn sóng đầu tư mới này, các chuyên gia cũng khuyến nghị, Việt Nam cần phải có cách làm khác trước đây. Đó là tiếp tục cải cách thể chế tạo thuận lợi cho môi trường đầu tư, chủ động và nhất quán về chính sách thu hút đầu tư, đồng thời chính các doanh nghiệp trong nước cũng phải chủ động hơn nữa. Có như vậy, Việt Nam mới tận dụng được cơ hội vàng để đón các nhà đầu tư nước ngoài đến hợp tác, đầu tư, biến các tiềm năng thành sức mạnh cho nền kinh tế và tham gia vào chuỗi giá trị cung ứng toàn cầu.

Để chủ động cung cấp thông tin về nỗ lực của Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương trong các hoạt động xúc tiến đầu tư nhằm thu hút các dự án có chất lượng vào Việt Nam, đồng thời nhận diện rõ hơn những thách thức khách quan và chủ quan trong hợp tác đầu tư nước ngoài cũng như ghi nhận đề xuất, hiến kế của các chuyên gia, nhà quản lý về những giải pháp đột phá để kịp thời thu hút dòng vốn FDI…, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức cuộc tọa đàm “Thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài: Hành động và giải pháp đột phá”.

Khách mời tọa đàm: Ông Đỗ Nhất Hoàng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư; ông Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng; ông Nguyễn Văn Toàn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.

Sau đây là nội dung chính cuộc toạ đàm:  

Thưa ông Đỗ Nhất Hoàng, từ đầu năm đến nay, mặc dù dịch COVID-19 có tác động tiêu cực đến kinh tế thế giới và Việt Nam nhưng theo công bố của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cả nước vẫn thu hút được gần 20 tỷ USD vốn FDI. Xin ông chia sẻ rõ hơn về tín hiệu đáng mừng này?  

Ông Đỗ Nhất Hoàng: Theo đánh giá của Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), đầu tư của thế giới năm 2020 có thể suy giảm tới 40%. Các nền kinh tế thế giới giảm sâu, thậm chí là âm. Trong khi ở Việt Nam, tính đến ngày 20/8/2020, tổng vốn FDI đạt gần 20 tỷ USD, giảm 13% so với cùng kỳ. Đây là mức giảm thấp hơn nhiều so với thế giới và các nước trong khu vực. Trong đó, riêng vốn thực hiện đạt 11,3 tỷ USD, chỉ giảm 5,1% so với cùng kỳ. Đây là những tín hiệu tích cực, thể hiện sự tin tưởng của nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đối với môi trường đầu tư tại Việt Nam. Kim ngạch xuất nhập khẩu của khu vực ĐTNN cũng chỉ giảm nhẹ so với cùng kỳ năm 2019. Xuất khẩu đạt 113,3 tỷ USD, giảm 4,5%; nhập khẩu đạt 90,7 tỷ USD, giảm 5,3%. Điều này chứng tỏ mặc dù gặp nhiều khó khăn do dịch COVID-19 nhưng khối doanh nghiệp ĐTNN vẫn duy trì được hoạt động sản xuất kinh doanh tương đối tốt, không bị suy giảm quá nhiều. 

Các con số nêu trên thể hiện Chính phủ Việt Nam đã thực hiện tốt việc cải thiện môi trường đầu tư trong những năm qua, đồng thời đã và đang thực hiện có hiệu quả mục tiêp kép: Vừa chống dịch, vừa phát triển kinh tế. Đặc biệt, nhiều doanh nghiệp, tập đoàn quốc tế rất quan tâm đến Việt Nam nhưng do COVID-19 nên các bên đã tổ chức nhiều cuộc họp trực tuyến và các kênh khác để trao đổi, tìm hiểu thông tin về Việt Nam. 

Số liệu thông kê mới nhất trong tháng 7 và tháng 8 đã cho thấy tín hiệu khả quan của dòng vốn FDI đang dịch chuyển vào Việt Nam, tuy nhiên có ý kiến cho rằng vẫn còn sớm khi cho rằng đây là dấu hiệu của những làn sóng lớn? Xin được biết quan điểm của ông về nhận định này?

Ông Nguyễn Văn Toàn: Về làn sóng dịch chuyển FDI trên thế giới, có thể nói không phải bây giờ mới xuất hiện vì trước đó đã có những quốc gia chủ trương khuyến khích doanh nghiệp chuyển vốn về nội địa để giải quyết vấn đề việc làm. Còn nếu chúng ta nhận định đây là một làn sóng, phải có sự so sánh như ông Hoàng vừa chia sẻ. Theo các số liệu thống kê, không phải đến khi có dịch bệnh, ĐTNN thế giới mới giảm, mà trong 3 năm gần đây giảm liên tục. Giảm liên tục ở đây là sự thay đổi tư duy về ĐTNN. Trước đây, đầu tư nước ngoài ở Hoa Kỳ giảm khoảng 300 tỷ USD/năm, bây giờ giảm đi rất nhiều, dự kiến trong năm nay tiếp tục giảm. Chúng ta phải đặt vào bối cảnh so sánh như thế để thấy dòng vốn dịch chuyển là làn sóng. Dòng vốn dịch chuyển so với tổng vốn ĐTNN cao hơn trước đây rất nhiều, trước đây gần như dòng vốn dịch chuyển rất ít. Vấn đề là làn sóng đó có đến Việt Nam hay không? Việt Nam tận dụng làn sóng đó như thế nào? Tôi nghĩ làn sóng FDI mới là có nhưng có rất nhiều cản trở để làn sóng này có thể đến với chúng ta.

Ông nhận định thế nào về xu thế tái cấu trúc lại chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn hiện nay và Việt Nam có những ưu thế nổi trội gì để hấp dẫn các nhà ĐTNN tầm cỡ trên thế giới đến đầu tư?

Ông Nguyễn Đình Cung: Việc cơ cấu lại chuỗi giá trị toàn cầu là có 3 yếu tố: Thứ nhất nhu cầu giải quyết việc làm cho lao động trong nước họ. Thứ 2 là chiến tranh thương mại Trung Quốc - Hoa Kỳ. Theo đánh giá, sự căng thẳng này là một thành phần có tính cơ cấu và có thể kéo dài cho nên nó thúc đẩy chuyển dịch đầu tư. Yếu tố thứ 3 là dịch COVID-19 làm cho sự dịch chuyển này nhanh hơn, với nguồn lớn hơn, toàn diện và rõ nét hơn. Đây là điều quan sát thấy trên thực tế trong những tháng gần đây.

Tuy nhiên, nói về sự nổi trội của Việt Nam, có thể nhiều nhìn nhận khác nhau nhưng theo tôi đó là Việt Nam ký rất nhiều hiệp định thương mại tự do với các đối tác, các đối tác đó đều là những thị trường chủ yếu trên thế giới. Tôi cho rằng đây là điểm nổi trội khác biệt nhất của Việt Nam so với các nước khác để có thể cạnh tranh trong thu hút đầu tư.

Rõ ràng, với rất nhiều nỗ lực cải cách trong thời gian qua, Việt Nam đã trở thành điểm đến hấp dẫn của các NĐTNN. Từ góc độ của Bộ KH&ĐT, xin ông có thể phân tích rõ hơn về các yếu tố chính tạo nên sức hấp dẫn này?   

Ông Đỗ Nhất Hoàng: Sự hấp dẫn của môi trường đầu tư Việt Nam hiện nay đến từ các yếu tố bên trong của nội tại của nền kinh tế và các tác động của yếu tố bên ngoài:

Các yếu tố bên trong, các điểm lợi thế, thuận lợi sẵn có của môi trường đầu tư Việt Nam, gồm: Chính trị ổn định, kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững, nguồn nhân lực dồi dào, thị trường rộng lớn, chi phí cạnh tranh, chính sách ưu đãi hấp dẫn, nền kinh tế đang hội nhập ngày càng sâu rộng và vị trí địa lý thuận lợi. Bên cạnh đó là sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương trong việc cải thiện môi trường đầu tư, cải cách chính sách, thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà ĐTNN hoạt động thành công tại Việt Nam. Sự thành công trong việc kiểm soát dịch COVID-19 của Việt Nam thời gian qua cũng tạo sự tin tưởng cho nhà đầu tư nước ngoài, tăng thêm uy tín cho Việt Nam là điểm đến đầu tư hấp dẫn và an toàn.

Về các yếu tố bên ngoài, phải kể đến là xung đột thương mại giữa nền kinh tế lớn khiến các tập đoàn, doanh nghiệp quốc tế có nhu cầu dịch chuyển địa điểm sản xuất để tránh mức thuế suất cao. Đại dịch COVID-19 và các hệ quả nặng nề của nó khiến các quốc gia, các tập đoàn quốc tế đẩy nhanh hơn quá trình tái cơ cấu đầu tư nhằm tránh sự phụ thuộc vào một quốc gia, một đối tác. Một số quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc... đã ban hành chính sách ưu đãi và gói hỗ trợ để kêu gọi các công ty dịch chuyển dây chuyền sản xuất về nước hoặc đầu tư sang nước thứ 3 nhằm đa dạng hóa chuỗi cung ứng. Trong đó, Việt Nam có nhiều cơ hội để đón làn sóng chuyển dịch này do có nhiều lợi thế về môi trường đầu tư cũng như sự thành công trong việc kiểm soát dịch thời gian vừa qua.

Bên cạnh cơ hội vàng thì Việt Nam cũng đang phải cạnh tranh quyết liệt với các quốc gia khác trong cuộc đua thu hút các doanh nghiệp FDI, ông nhìn nhận thế nào về thách thức này?  

Ông Nguyễn Văn Toàn: Nói về sự cạnh tranh, chúng ta nhìn nhận trên các góc độ: Thứ nhất, ở đây tôi nói về 2 vấn đề, một là FDI mới, 2 là FDI dịch chuyển, khi doanh nghiệp tham gia các FDI này, lợi ích trước mắt trung hạn và dài hạn, nếu chúng ta thỏa mãn được những điều kiện đó sẽ thu hút các doanh nghiệp. Khi nguồn vốn FDI của thế giới đang giảm nhưng lại có làn sóng dịch chuyển, rõ ràng bản thân nước có các doanh nghiệp có ý định dịch chuyển vốn đi thì họ phải có biện pháp níu giữ. Cụ thể, Trung Quốc vừa rồi có ban hành Luật Đầu tư mới với nhiều ưu đãi hơn luật cũ. Thứ 2, khi dòng vốn dịch chuyển ra khỏi một số nước thì quay về với bản địa, đây là xu hướng tất yếu. Thứ 3, số còn lại ra nước ngoài, tạo ra sự cạnh tranh trong các nước thu hút về. Tất cả những yếu tố nói trên làm cho cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài và thu hút dòng vốn dịch chuyển hết sức quyết liệt. Chúng ta đã có đường lối đúng, đã có quyết tâm, vấn đề là chúng ta phải hành động.

Theo quan điểm của tôi, có 3 dòng vốn dịch chuyển. Dòng vốn dịch chuyển thứ nhất là dịch chuyển đơn hàng. Hiện nay, Việt Nam cũng có các doanh nghiệp sẵn sàng dịch chuyển các đơn hàng, nhưng không có nhiều. Đơn hàng rất nhanh, nghĩa là chúng ta đáp ứng 80-90%, chỉ cần cố gắng thêm về mặt năng lực kỹ thuật, quản lý thì chúng ta có thể tiếp cận được các đơn hàng dịch chuyển. Thứ 2 là luồng vốn đầu tư ra nước ngoài của họ. Đây cũng là một xu hướng dịch chuyển. Thứ 3 là dịch chuyển trực tiếp, một bộ phận hoặc toàn bộ một nhà máy từ nước A sang nước B. Chúng ta nhìn nhận được 3 luồng vốn đó và chúng ta phải cố gắng chia từng phân khúc để có thể tiếp thu được luồng vốn này. 

Thưa ông, muốn giành lợi thế thì rõ ràng cần phải tạo ra sức hấp dẫn riêng, vậy theo ông chúng ta phải làm gì để có được điều này trong bối cảnh các ưu đãi về thuế và đất đai đã không còn nhiều dư địa?

Ông Nguyễn Đình Cung: Chúng ta phải nhìn một cách rất thực tế, cho đến nay ĐTNN vào Việt Nam đến từ “các thiên đường thuế” rất nhiều. Phần lớn đầu tư đến từ các nước châu Á: Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Đài Loan và gần đây là Trung Quốc. Không có hoặc rất ít đầu tư trực tiếp từ Hoa Kỳ và châu Âu. Xu hướng này thực tế chưa có cải thiện. Trong khi đó, chúng ta rất kỳ vọng đầu tư từ Hoa Kỳ và từ châu Âu với kỳ vọng những đầu tư này là đầu tư chất lượng cao. Những đầu tư này sử dụng công nghệ cao hơn, không sử dụng chi phí lao động thấp, loại đầu tư này rất phù hợp với chúng ta khi chúng ta muốn cơ cấu lại nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Vậy các nhà đầu tư mong muốn gì? Tôi cho rằng các nhà đầu tư muốn chính sách, luật pháp của chúng ta ổn định. Trong văn bản phải cụ thể, khi thực thi phải dự đoán được. Không có tiền gầm bàn, không có chi phí không chính thức. Điều này đối với nhà đầu tư Hoa Kỳ và châu Âu là cực kỳ quan trọng bởi vì họ là những người luôn luôn phải tuân thủ luật pháp, nếu họ không tuân thủ, rủi ro pháp lý xảy ra với họ là rất lớn. Nếu như họ vấp phải rủi ro pháp lý này, họ sẽ tránh. Đây là điều đầu tiên tôi cho rằng chúng ta phải khắc phục trước mắt.

Đối với cách tiếp cận chính sách, mặt bằng chung là như vậy, nhưng đối với từng nhà đầu tư phải khác nhau. Chúng ta phải thiết kế những gói chính sách mang tính chất “may đo”, không “may sẵn”, lúc đó chúng ta mới đáp ứng các nhu cầu của các nhà đầu tư. Từ đó, chọn được nhà đầu tư có chất lượng, đúng như Nghị quyết của Bộ Chính trị về thay đổi cách thức quản lý, thay đổi cách thức thu hút và có lựa chọn để nâng cao chất lượng nhà đầu tư. Tôi cho rằng chúng ta phải hành động hết sức cụ thể và xác định đúng vấn đề xử lý khi các nhà đầu tư yêu cầu. Phải thu hút được doanh nghiệp bên trong của chúng ta, hỗ trợ họ tham gia chuỗi dịch chuyển này. Nếu không thì chỉ có nhà ĐTNN tận dụng được lợi thế này.

Xin được biết quan điểm của ông trước ý kiến cho rằng việc thu hút vốn FDI trong giai đoạn bình thường mới hiện nay cần phải có hành động và cách làm đột phá vì nếu vẫn làm theo cách cũ sẽ bỏ lỡ cơ hội?  

Ông Đỗ Nhất Hoàng: Đây chính là quan điểm chỉ đạo quyết liệt của Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Trong bối cảnh như tôi đã trình bày ở trên, các quốc gia khác trên thế giới cũng đang ban hành nhiều chính sách rất mạnh mẽ để giữ chân cũng như lôi kéo các nhà ĐTNN về nước mình. Do đó, để cạnh tranh được, chúng ta cũng phải có các giải pháp đột phá, các cách làm mới thì mới có thể hấp dẫn được nhà ĐTNN. Đồng thời, các giải pháp đề ra cần phải thực hiện một cách nhanh chóng, kịp thời và đồng bộ thì mới tận dụng được cơ hội.

Một số giải pháp mới hiện chúng ta đang triển khai là: Chuẩn bị sẵn sáng các điều kiện cần thiết để thu hút đầu tư như quỹ đất sạch, nguồn cung cấp điện, nguồn nhân lực chất lượng cao, công nghiệp hỗ trợ, cải thiện thủ tục hành chính… Xây dựng các gói ưu đãi đặc biệt áp dụng cho các dự án quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, giá trị gia tăng cao, có tính lan tỏa, tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi giá trị hoặc đạt tỷ lệ nội địa hóa cao. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã dự thảo các gói ưu đãi đặc biệt này và đang xin ý kiến các bộ, ngành trước khi trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Bên cạnh đó, chúng tôi đã tiếp xúc trực tiếp các nhà đầu tư lớn, tổ chức các hội nghị xúc tiến đầu tư theo hình thức trực tuyến, online để cập nhật thông tin về các chính sách mới, trả lời những mối băn khoăn của nhà đầu tư. Thời gian vừa qua, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có nhiều cuộc toạ đàm trực tuyến với lãnh đạo cấp cao các tập đoàn lớn trên thế giới và khi cần thiết thì có báo cáo Thủ tướng Chính phủ tiếp để trao đổi, hỗ trợ kế hoạch đầu tư của các tập đoàn tại Việt Nam. Đồng thời, chủ động phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan ngoại giao, các hiệp hội doanh nghiệp, các công ty tư vấn, công ty luật, ngân hàng, quỹ đầu tư để tiếp cận lên danh sách các doanh nghiệp đang có quan tâm đến đầu tư tại Việt Nam để chủ động tiếp cận, trao đổi, mời vào đầu tư tại Việt Nam. Hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các chuyên gia, lao động kỹ thuật vào Việt Nam làm việc. Hiện Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã hỗ trợ cho hơn 10.000 chuyên gia, lao động kỹ thuật nước ngoài vào Việt Nam làm việc để duy trì sản xuất kinh doanh.

Thủ tướng Chính phủ đã thành lập Tổ công tác thúc đẩy hợp tác đầu tư nước ngoài do Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh làm Tổ trưởng, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư làm Tổ phó thường trực; lãnh đạo các bộ, ngành là thành viên để kịp thời hỗ trợ các dự án lớn đang quan tâm đầu tư vào Việt Nam. 

Thưa ông, để thu hút đầu tư thì các chính sách ưu đãi mới chỉ là điều kiện cần. Thực tế đã cho thấy, những nhà đầu tư lớn, nhất là trong lĩnh vực công nghệ, luôn tìm kiếm nguồn nhân lực có kỹ năng nghề nghiệp. Đây lại được xem là điểm còn hạn chế của Việt Nam, vậy chúng ta cần làm gì để nhanh chóng khắc phục điểm yếu này? 

Ông Nguyễn Đình Cung: Nước ta có số lượng lao động tương đối nhiều nhưng giai đoạn mình thu hút đầu tư để sử dụng lao động chi phí thấp đã qua. Đó cũng là yêu cầu phát triển tất yếu của nền kinh tế. Vấn đề lao động chất lượng cao không chỉ đối với đầu tư nước ngoài mà ngay cả đối với các loại đầu tư ở ta và nhu cầu phát triển của ta đều cần. Tuy nhiên, trong giai đoạn ngắn hạn khó có thể đáp ứng được như thế. Theo tôi, trước mắt, trong một dự án đầu tư cụ thể với một quy mô tướng ứng thì nhà đầu tư phải xác định cần bao nhiêu lao động và lao động đó làm cái gì thì chúng ta có thể cùng với họ thiết kế những chương trình hỗ trợ đào tạo cho từng dự án một, từng loại nhà đầu tư một theo phương thức thiết kế cả gói, như thế mới có thể giải quyết được yêu cầu của nhà đầu tư.

Ngoài hạn chế về nguồn nhân lực, theo ông, còn những điểm yếu lớn nào khiến chúng ta đứng trước nguy cơ bị tụt lại phía sau trong cuộc đua thu hút vốn FDI? Ông có đề xuất, kiến nghị gì để hóa giải nguy cơ trên?  

Ông Nguyễn Văn Toàn: Tôi cũng đã từng quản lý doanh nghiệp có vốn ĐTNN 10 năm. Tôi thấy cái mà nguồn nhân lực Việt Nam yếu là tính kỷ luật và làm việc theo khuôn mẫu nhưng ngược lại, nhân lực Việt Nam làm việc rất linh hoạt. Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, tất cả mọi thứ đều rất nhanh, tôi cho rằng đó là một điểm mạnh tiềm năng của nhân lực Việt Nam.

Vừa rồi, Samsung có đánh giá, sau khi được đào tạo cơ bản, những công nhân kĩ thuật Việt Nam sau một thời gian 3 tháng, 6 tháng đã bắt kịp tương đối sát với các công nhân từ Hàn Quốc. Trong khi đó, lương của công nhân Hàn Quốc cao gấp từ 2-3 lần. Bằng chứng nữa là đã có 2 kỹ sư của Việt Nam tham gia vào chế tạo camera cho Samsung. Đấy là điển hình về công nghệ. Tôi nghĩ rằng nếu chúng ta định hướng đúng thì nguồn nhân lực Việt Nam sẽ khởi sắc và phát triển.

Chúng ta muốn tránh tụt hậu về thu hút đầu tư nước ngoài, tôi nghĩ có 2 vấn đề: Thứ nhất là chính sách và thể chế thì gần đây chúng ta đã có rất nhiều cố gắng thay đổi làm tốt. Trước đây, mình cứ kêu ca nhiều là chính sách đưa ra là chuẩn, là đúng, là phù hợp nhưng thực thi thì khó. Gần đây, tôi thấy có những điểm khởi sắc, hết sức đáng mừng về sự cụ thể hóa quyết tâm thu hút vốn FDI chất lượng cao của Chính phủ.

Tuy nhiên, ở phía ngược lại, có một điều đáng ngại hơn từ phía doanh nghiệp, đó là phần nhiều doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ, tầm nhìn của họ chỉ ở mức ngắn hạn. Do vậy, các doanh nghiệp phải vật lộn với cuộc sống và lo cho đời sống của cán bộ, công nhân. Một điểm yếu nữa là hiện nay chúng ta phụ thuộc quá nhiều vào một thị trường cung cấp nguyên vật liệu và bán thành phẩm. Nếu chúng ta giải quyết được những vấn đề đó thì tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ giải quyết được rất nhiều vấn đề cơ bản và chớp được thời cơ để phát triển.

Ông có đề xuất gì để khắc phục một thực trạng đã gây không ít lo ngại cho các nhà đầu tư, đó là chính sách chung thì ổn định, chủ trương luôn là chào đón, nhưng khi triển khai cụ thể tại từng địa phương lại thay đổi nhiều, không nhất quán? 

Ông Nguyễn Đình Cung: Theo tôi, vấn đề không phải chỉ có khâu thực thi ở địa phương mà ở cách tiếp cận trong xây dựng pháp luật của chúng ta đôi khi vẫn theo lối “tôi phải quản”. Cho nên, khi triển khai cần rất nhiều văn bản, nghị định, thông tư mới thực hiện được, mà như thế chồng chéo, trùng lặp nên cũng khó cho địa phương. Tôi cho rằng cái này không thể khắc phục từ dưới lên được mà cần khắc phục từ trên xuống, đấy là nói về dài hạn thôi.

Nói về trước mắt, nếu có vấn đề thì phải tập trung giải quyết vấn đề đó, theo hướng có lợi cho nhà đầu tư, theo hướng thu được cả nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Muốn như thế thì ở tỉnh, từ chủ tịch đến ông bí thư phải vào cuộc một cách trực tiếp để giải quyết vấn đề đó. Ở Trung ương, bộ trưởng phải xắn tay để giải quyết vấn đề ấy và chỉ đạo trực tiếp giải quyết vấn đề phát sinh của nhà đầu tư. Nếu vấn đề đó vướng về mặt thể chế, vượt quá thẩm quyền thì phải báo cáo ngay để cấp trên tìm cách tháo gỡ. Vừa dưới lên, vừa trên xuống như thế thì có thể giải quyết được trong bối cảnh hiện nay nếu như tất cả cùng đồng lòng vì sự thịnh vượng quốc gia.

Việc thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao được kỳ vọng sẽ mang lại nhiều cơ hội cho doanh nghiệp trong nước. Để không bỏ lỡ cơ hội vàng này, theo ông các doanh nghiệp Việt cần chuẩn bị sẵn sàng những điều kiện gì? 

Ông Nguyễn Văn Toàn: Như tôi đã đề cập, hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam còn rất yếu trong liên kết để cùng tận dụng cơ hội. Việt Nam hội nhập rất rộng và khá sâu. Chúng ta có rất nhiều FTA nhưng doanh nghiệp Việt Nam chưa tận dụng được. Theo tôi, doanh nghiệp Việt Nam trước hết phải nâng cao được cái tâm thế và tư thế của mình, phải quyết tâm, phải có tầm nhìn. Và muốn nâng được tư thế của mình lên để bắt tay sòng phẳng với các nhà ĐTNN thì chúng ta phải nâng trình độ doanh nghiệp và phải liên kết các doanh nghiệp trong nước. Hiện nay, cái chúng ta làm chưa tốt lắm là các doanh nghiệp lớn, các con chim đầu đàn hiện nay cũng rất mạnh mẽ tại sao các tập đàn lớn không dẫn dắt các doanh nghiệp vừa và nhỏ để tham gia vào chuỗi liên kết. Tôi nghĩ đó là một hướng mà chúng ta cần phải khuyến khích, cần phải có chính sách để làm sao làm được. Ở đây, các doanh nghiệp Việt Nam còn vướng nhiều vấn đề, trong đó tôi nghĩ cái đầu tiên là phải làm sao xây dựng được một nguồn nhân lực cốt lõi cho doanh nghiệp bởi doanh nghiệp có thành công hay không thì nhân lực cốt lõi là quan trong nhất.

Định hướng của chúng ta là thu hút đầu tư FDI vào các dự án như công nghệ cao, sản xuất thiết bị, vật liệu và linh kiện đầu vào cho hoạt động lắp ráp, vận tải quốc tế, nhưng để làm được điều này thì cần bước đi và lộ trình cụ thể, xin ông có thể chia sẻ rõ hơn về các kế hoạch đón đầu làn sóng vốn đầu tư mới đã được Bộ KH&ĐT chuẩn bị và quyết liệt triển khai trong thời gian tới?

Ông Đỗ Nhất Hoàng: Việc thu hút, hợp tác ĐTNN sẽ theo hướng có chọn lọc, lấy chất lượng, hiệu quả, công nghệ và bảo vệ môi trường là tiêu chí đánh giá chủ yếu. Ưu tiên các dự án có công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ sạch, quản trị hiện đại, có giá trị gia tăng cao, có tác động lan tỏa, chuyển giao công nghệ, kết nối chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu theo tinh thần của Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030.

Cơ hội là rất lớn nhưng để có thể đón được làn sóng đầu tư theo đúng định hướng, yêu cầu của ta thì cần có sự phối hợp, vào cuộc của nhiều bộ, ngành Trung ương cũng như các địa phương. Ngoài các giải pháp mới, đột phá đang triển khai như tôi đã nêu ở trên, chúng ta đang triển khai các giải pháp sau:

Về điều kiện mặt bằng sản xuất: Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng với Bộ Tài nguyên và Môi trường và các địa phương đang rà soát các dự án chậm triển khai, hoạt động không hiệu quả,... để thu hồi, tạo quỹ đất thu hút các dự án đầu tư mới; Rà soát, xây dựng danh sách các địa phương, khu công nghiệp, khu kinh tế đã chuẩn bị về hạ tầng, nhân lực, năng lượng... mà có thể sẵn sàng tiếp nhận ngay các dự án trong dòng chuyển dịch, tái định vị sản xuất. Rà soát xem xét bổ sung quy hoạch khu công nghiệp để đón dòng vốn FDI mới.

Về nguồn nhân lực: Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đang phối hợp với các bộ, ngành, địa phương để tập trung triển khai một số nhiệm vụ sau: Thứ nhất, đào tạo lao động trong các ngành nghề chất lượng cao như kỹ thuật số, công nghệ thông tin, ứng dụng tin học, điện tử viễn thông, cơ khí chế tạo; rà soát chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp ĐTNN. Thứ hai, xây dựng cơ sở dữ liệu về danh sách các lao động kỹ thuật Việt Nam đã làm việc, tu nghiệp ở nước ngoài để cung cấp cho doanh nghiệp tuyển chọn.

Về công nghiệp hỗ trợ: Chúng ta đang khẩn trương xây dựng và thực thi các chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ theo Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 22/3/2018 của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045 và Nghị quyết 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác ĐTNN đến năm 2030. Bộ Công Thương đã xây dựng Cổng Thông tin điện tử công nghiệp hỗ trợ để các nhà đầu tư nước ngoài có thể kết nối, hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam.

Về điều kiện năng lượng: Bộ Công Thương đang xây dựng chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 55-NQ/TW ngày 11/02/2020 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045, đồng thời đang xây dựng tổng sơ đồ điện 8.

Về tăng cường năng lực nội tại doanh nghiệp trong nước: Chúng ta cần tiếp tục triển khai các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước. Đồng thời, đẩy nhanh xây dựng Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC) nhằm phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp. 

Về cải thiện thủ tục đầu tư kinh doanh: Các bộ, ngành, địa phương cần giảm tối đa thời gian thực hiện thủ tục đầu tư kinh doanh đối với các dự án lớn dịch chuyển để dự án sớm đi vào hoạt động. Riêng với các dự án lớn, Tổ công tác thúc đẩy hợp tác đầu tư nước ngoài sẽ hỗ trợ ngay từ đầu để nhà đầu tư có thể triển khai dự án thuận lợi trong thời gian sớm nhất.

Xin trận trọng cảm ơn các vị khách mời đã tham dự toạ đàm!

                                              Nhóm PV