(Chinhphu.vn) – Việt Nam có mọi tiềm năng để duy trì thành công sự phát triển của mình, nhưng vẫn cần có những cải cách táo bạo để đất nước có thể nắm bắt các cơ hội trong tương lai và quản lý các rủi ro.

Ông Ousmane Dione, Giám đốc Quốc gia của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam . Ảnh:VGP/Huy Thắng.

Đây là ý kiến của ông Ousmane Dione, Giám đốc Quốc gia của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam tại Diễn đàn Cải cách và phát triển Việt Nam (VRDF) 2019 với chủ đề “Việt Nam: Khát vọng thịnh vượng - Ưu tiên và hành động” do Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức ngày 19/9 tại Hà Nội.

Giám đốc WB tại Việt Nam cho rằng: Dù đã có những thành tựu ấn tượng trong quá trình chuyển đổi kinh tế, nhưng Việt Nam vẫn chưa xây dựng thành công một hệ thống các thể chế thị trường phát triển có hiệu lực và hiệu quả.

Theo đó, ông khuyến nghị, cần tìm cách để Việt Nam có thể hiện đại hóa thể chế thị trường và quản trị quốc gia, từ đó tạo ra một môi trường nơi các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân có thể phát triển và trở thành một động lực tăng trưởng quan trọng.

“Một chiến lược phát triển kinh tế - xã hội được thiết kế tốt có ý nghĩa rất quan trọng đối với Việt Nam. Vì vậy, các ưu tiên và hành động không chỉ cần được xác định rõ ràng mà còn phải khả thi khi làm trong thực tế”, ông Ousmane Dione nói .

Trao đổi về chủ đề này, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng cho biết, kể từ khi gia nhập nhóm các quốc gia có mức thu nhập trung bình, Việt Nam luôn thuộc nhóm các nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trên thế giới, tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân giai đoạn 2011-2018 đạt trên 6,2%. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hoàn thiện, độ mở của nền kinh tế liên tục tăng, đến năm 2018 bằng 200% GDP.

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng. Ảnh: VGP/Huy Thắng.

Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố thuận lợi và kết quả tích cực đã đạt được, Việt Nam phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Việt Nam hiện là quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp, năng suất lao động của nền kinh tế chưa cao; năng lực cạnh tranh quốc tế của nền kinh tế nói chung và nhiều ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu chưa mạnh.

Theo Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng, thế giới biến đổi mau lẹ với nhiều diễn biến phức tạp, mức độ cạnh tranh kinh tế, thương mại toàn cầu ngày càng cao. Các hình thái kinh tế chia sẻ, kinh tế tuần hoàn ngày càng phổ biến. Bối cảnh này mang lại cơ hội và cả thách thức cho những nước đang phát triển như Việt Nam.

Nhận thức được những khó khăn và thách thức này, dự thảo Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2030 của Việt Nam xác định một định hướng quan trọng về thể chế là: Hoàn tất quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập theo thông lệ quốc tế. Xây dựng, hoàn thiện, thử nghiệm khung khổ pháp lý cho các loại hình kinh doanh mới, kinh tế số, cung cấp dịch vụ công, quản lý và bảo vệ môi trường theo nguyên tắc thị trường.

Dự thảo cũng đưa ra định hướng quan tâm đầu tư hình thành và phát triển hệ thống trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, lấy doanh nghiệp là trung tâm nghiên cứu - phát triển, ứng dụng và chuyển giao công nghệ… 

Theo Bộ trưởng: “Có hai câu hỏi lớn đặt ra là: Phải lựa chọn những ưu tiên gì để thực hiện, vì nguồn lực của chúng ta luôn có hạn? Và cần hành động thế nào để đạt được các mục tiêu đề ra?" 

Tiếp nối thành công của VRDF 2018, VRDF 2019 được tổ chức nhằm mục đích thu nhận các ý kiến đóng góp của các chuyên gia trong nước và quốc tế có uy tín, là một kênh cung cấp những đóng góp đầu vào quan trọng cho nghiên cứu xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2021 - 2020, phương hướng và nhiệm vụ Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025. Tại Diễn đàn chính và các phiên thảo luận, nhiều chuyên gia trong và ngoài nước đã đưa ra nhiều nhận xét và định hướng cho công tác cải cách thể chế, giúp Việt Nam phát triển theo đúng con đường kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa.

Phát biểu tại diễn đàn, TS. David Dollar, Nghiên cứu viên cao cấp Viện Brookings, Hoa Kỳ cho rằng, đầu tư bằng nguồn trong nước còn thấp và khu vực tư nhân chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn hoạt động xuất khẩu trực tiếp của Việt Nam chủ yếu do các doanh nghiệp nước ngoài đảm nhiệm.

TS. David Dollar cũng nhấn mạnh yêu cầu, cần tạo sân chơi công bằng giữa doanh nghiệp nhà nước và tư nhân, mở cửa khu vực dịch vụ (tài chính, viễn thông…) cho đầu tư và thương mại nước ngoài.

TS. David Dollar, Nghiên cứu viên cao cấp Viện Brookings, Hoa Kỳ.Ảnh:VGP/Huy Thắng.

Còn TS. Cao Viết Sinh, nguyên Thứ trưởng Bộ KH&ĐT thì cho rằng: Dù đã cải thiện nhưng thể chế kinh tế thị trường của Việt Nam vẫn chưa đồng bộ, đầy đủ để bảo đảm thị trường vận hành thông suốt. Một số quy định trong hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách và quản lý, điều hành còn chồng chéo, thiếu chặt chẽ, nhanh bị thay đổi và nhiều trường hợp có những cách hiểu khác nhau, dẫn đến tình trạng  khó thực hiện.

“Thị trường chưa là cơ sở, căn cứ để huy động và phân bổ các nguồn lực phát triển. Một số thị trường chậm phát triển, vận hành còn nhiều vướng mắc, kém hiệu quả, trong đó có thị trường quyền sử dụng đất, thị trường khoa học công nghệ. Công tác cải cách hành chính trong một số lĩnh vực vẫn chưa thực chất; cạnh tranh bất bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp, thành phần kinh tế vẫn diễn ra…”, ông Cao Viết Sinh nói.

Nêu giải pháp khắc phục hạn chế, TS. Cao Viết Sinh cho rằng: Nhà nước cần tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các khung khổ thể chế, pháp luật theo hướng ổn định, cụ thể, minh bạch. Nhà nước cần coi trọng vai trò của thị trường, xây dựng thể chế phù hợp để tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân tự do kinh doanh và phát triển.

Còn theo ông Jonathan Pincus, Chủ tịch Quỹ Rajawali (RF), nguyên Chuyên gia kinh tế trưởng của UNDP Việt Nam cho rằng: Nhà nước cũng cần chú trọng vào kỷ luật thị trường, minh bạch hơn trên thị trường đất đai và tín dụng; tách biệt rõ ràng giữa doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp được cổ phần hóa với cơ quan quản lý; giám sát chặt chẽ những rủi ro trong hệ thống ngân hàng. Đặc biệt, Chính phủ cần tăng trách nhiệm giải trình với người dân, áp dụng Chính phủ điện tử và truyền thông xã hội để minh bạch hóa.

GS. Sungchul Chung, đến từ Đại học Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (STEPI) nhấn mạnh tầm quan trọng của đổi mới sáng tạo với nguồn lực quan trọng là trí tuệ con người, nhưng cũng cần thiết kế chính sách phù hợp từng giai đoạn.

Chia sẻ kinh nghiệm của Hàn Quốc, GS Sungchul Chung cho biết: Tuy triển khai từ những thập niên 60, nhưng chặng đường đầu tiên công nghiệp hoá, Hàn Quốc chủ yếu phát triển khả năng sao chép, vận hành. Khi nâng cao khả năng vào thập niên 80, Hàn Quốc chuyển sang sao chép sáng tạo hơn, Chính phủ tạo môi trường thuận lợi học hỏi các công nghệ từ bên ngoài để cạnh tranh, khuyến khích DN đầu tư vào công nghệ.

Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng GDP giảm dần, đòi hỏi phải thay đổi cơ cấu để duy trì tăng trưởng kinh tế, lúc đó Hàn Quốc buộc phải đẩy mạnh đổi mới sáng tạo công nghệ, mở ra giai đoạn phát triển mới dựa trên công nghệ thông tin (CNTT) từ thập niên 90 trở đi…

Hàn Quốc có chiến lược về CNTT đổi mới kinh tế, các chương trình nghiên cứu phát triển (R&D) với sự tham gia đồng bộ với nguồn lực mạnh. “Kinh nghiệm là chúng tôi ưu tiên những công nghệ ứng dụng thực tiễn, tiềm năng thương mại và mục tiêu dài hạn, hợp tác liên bộ, hợp tác công tư…Chính phủ thiết kế thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo phù hợp từng giai đoạn”, GS.Sungchul Chung chia sẻ.

Anh Minh