(Chinhphu.vn) - Sau 40 năm, Chiến dịch Tây Nguyên vẫn còn rất nhiều điều bí ẩn, với đòn đánh hết sức thần thoại, bí ẩn và quyết định thành công của Chiến dịch. Đó là đòn nghi binh chiến dịch, mang tính chiến lược Tây Nguyên.
PGS. TS. Đại tá Trần Ngọc Long. Ảnh: VGP/Phương Liên
PGS. TS. Đại tá Trần Ngọc Long (Viện Lịch sử quân sự) đã khẳng định điều này trong cuộc trao đổi với Báo điện tử Chính phủ về chiến lược giải phóng Tây Nguyên, trận mở màn mang tính chất quyết định để thống nhất đất nước năm 1975.

Đòn nghi binh, bí ẩn ngay từ ngày đầu chuẩn bị chiến dịch với những tiếng gõ ma-níp "tạch, tạch, tè" nhè nhẹ của các anh lính báo vụ Mặt trận B3, nhưng đầy sức hút ma lực đối với tình báo đối phương; điều binh thần tốc, táo bạo cũng được thực hiện trong đòn nghi binh ngay từ cuối năm 1974, khi Bộ Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn quyết định dùng Sư đoàn 471 ô tô vận tải, công khai vận chuyển tốc hành Sư đoàn bộ binh 968 quân tình nguyện Nam Lào lật cánh về Bắc Tây Nguyên.

Từ cuối năm 1974 đầu năm 1975, Bộ Tổng Tư lệnh đã tăng cường cho Mặt trận Tây Nguyên các sư đoàn bộ binh và nhiều đơn vị binh chủng, đồng thời tiến hành các hoạt động nghi binh lừa địch.
Sư đoàn 968 (thiếu Trung đoàn 39) lúc bấy giờ đang đứng chân tại Nam Lào, được lệnh phải có mặt ở Tây Nguyên trước ngày 6/1/1975 để nhận nhiệm vụ. Khi sư đoàn về đến Tây Nguyên, tướng Hoàng Minh Thảo thay mặt Bộ Chỉ huy chiến dịch giao nhiệm vụ cụ thể cho Sư đoàn 968: Nhanh chóng thay cho Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320A đang đứng chân trên địa bàn hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum để hai sư đoàn này cơ động về hướng chính làm nhiệm vụ.

Yêu cầu mà Bộ Tư lệnh chiến dịch đặt ra là khi thay phiên, các đơn vị phải tuyệt đối giữ bí mật, không để địch nghi ngờ hoặc phát hiện việc ta đã rút hai sư đoàn đó đi. Với Sư đoàn 968, bằng mọi biện pháp, Sư đoàn phải thu hút sự tập trung đối phó của địch lên hướng Bắc Tây Nguyên, ghìm chân địch ở hướng này càng lâu càng tốt cho đến ngày hướng chính nổ súng.

Để giữ bí mật, Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320A không sử dụng vô tuyến diện để liên lạc. Theo quy ước chung trong lúc thay phiên, Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320A để lại toàn bộ các mật danh vô tuyến liên lạc, Bộ và Sư đoàn 968 giữ mối liên lạc thường xuyên như cũ. Ngày 17/1/1975, Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320A di chuyển hết lực lượng về Nam Tây Nguyên nhận nhiệm vụ mới mà địch vẫn tưởng hai sư đoàn chủ lực này của ta còn đang ém quân sát Pleiku và Kon Tum.

Thực hiện nhiệm vụ được giao, Sư đoàn 968 sử dụng một tiểu đoàn tăng cường vào đánh giao thông trên đường 19, đoạn từ Thanh An, Bầu Cạn kéo dài từ đường 19 đến đường 21, cắt đứt vận chuyển tiếp tế của địch, buộc địch phải sử dụng lực lượng chủ lực giải tỏa và bảo vệ giao thông vận chuyển, hình thành thế bao vây, chia cắt Pleiku, cô lập chi khu quận lỵ Thanh An, Lệ Ngọc; làm sẵn các trận địa pháo ở các khu vực điểm cao 946, bắc Ngọc Quặn (Kon Tum) và bắc đường 5A (Plâyku), chuẩn bị trước các điều kiện xạ kích để khi được lệnh, sẽ bắn vào thị xã Kon Tum, sân bay Củ Hanh và La Sơn; mở đường mới ở tây Pleiku, bắc đường 5A đến điểm cao 734, mở đường ở nam Lệ Ngọc, nam Thanh An ra sát đường 14 (cách đường 14 khoảng 4 km), sửa chữa đường 220 xuống đến bắc thị xã Kon Tum; đồng thời, chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để sẵn sàng giải phóng Kon Tum, Pleiku.

Để tăng cường sự lãnh đạo và chỉ huy chiến dịch tiến công chiến lược Xuân 1975, đặc biệt là bảo đảm cho chiến dịch Tây Nguyên, với trận mở màn then chốt Buôn Ma Thuột, giành thắng lợi, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định cử các đồng chí Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng, Đinh Đức Thiện - Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Lê Ngọc Hiền - Tổng Tham mưu phó và một số cán bộ của Bộ Tổng tham mưu vào chiến trường, hình thành bộ phận đại diện Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh ở chiến trường miền Nam (mang mật danh Đoàn A75). Như vậy, cơ quan chỉ huy quân sự của Bộ Tổng Tư lệnh - Bộ Tổng tham mưu đã được hình thành ở cả phía trước và phía sau, vừa sâu sát mặt trận, nắm bắt diễn biến tình hình tại chỗ; vừa bao quát ở tầm chiến lược, đảm bảo chỉ huy đúng đắn, kịp thời.

Trước ngày đoàn lên đường, các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Hoàng Văn Thái có cuộc họp bàn về cách đánh trong chiến dịch Tây Nguyên; tất cả đều thống nhất: Đòn tiến công chiến lược đầu tiên phải tranh thủ bất ngờ, tập trung cao độ giải quyết Buôn Ma Thuột, bảo đảm chắc thắng trận đầu; tiếp đó, nhanh chóng phát huy thắng lợi, tiến công liên tục, tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch, giải phóng và giữ cho được địa bàn chiến lược quan trọng ở Tây Nguyên. Để đảm bảo bí mật, theo quy ước, đồng chí Võ Nguyên Giáp có mật danh là Chiến; đồng chí Văn Tiến Dũng mang mật danh là Tuấn; các đồng chí thủ trưởng Bộ Tổng tham mưu, các Tổng cục Chính trị, Hậu cần đều có mật danh riêng.

Chiếm được thị xã Buôn Ma Thuột, ta có điều kiện đẩy mạnh tiến công địch trên các hướng theo đường 14 ra hướng bắc, ta có thể uy hiếp thị xã Pleiku; vào hướng nam, ta có thể đánh chiếm Gia Nghĩa và tiến vào Nam Bộ; theo hướng tỉnh lộ 7B, ta có thể tiến công thị xã Cheo Reo và từ đó phát triển về Tuy Hòa; theo đường 21, ta có thể tiến xuống Nha Trang và Cam Ranh, cắt đôi miền Nam - điều mà chính quyền Sài Gòn lo sợ nhất lúc bấy giờ. Như vậy, đòn tiến công Buôn Ma Thuột đã “điểm trúng huyệt”, làm rung động thế trận của địch, tạo ra đột biến về chiến dịch, dẫn đến đột biến về chiến lược, gây tác động dây chuyền, tạo thời cơ cho những trận then chốt tiếp theo, tạo nên bước ngoặt quyết định của sự phát triển chiến dịch và cả chiến lược. Chính vì thế, báo chí Sài Gòn, đặc biệt báo chí các nước tới tấp đưa tin, bình luận về trận Buôn Ma Thuột, coi trận Buôn Ma Thuột là một thắng lợi thần kỳ. Báo Le Mon (Pháp) số ra ngày 21/3/1975 viết: “Trong vài ngày, bản đồ quân sự miền Nam bị đảo lộn. Chỉ có trận Buôn Ma Thuột mà khiến cho mảng cấu trúc do chế độ Thiệu dựng lên bị sụp đổ”.

Trong 5 ngày (từ ngày 14-18/3/1975), bằng 4 trận tiến công trong hành tiến trên chặng đường dài khoảng 50 km, Sư đoàn 10 và các lực lượng phối thuộc đã tiêu diệt Sư đoàn 23 và Liên đoàn biệt động số 21, đập tan ý định phản kích của lực lượng dự bị Quân đoàn 2, góp phần quan trọng thúc đẩy chiến dịch phát triển.

5 giờ sáng ngày 17/3/1975, các mũi tiến công của Trung đoàn 19 đồng loạt nổ súng đánh vào quận lỵ Thanh An, nhanh chóng tiêu diệt quân địch đồn trú ở đây, bắt hơn 100 tên. Số còn lại bỏ chạy về Bàu Cạn. Trung đoàn 19 phát triển tiến công giải phóng Bàu Cạn, Hòn Rồng. Cùng ngày, Tiểu đoàn 5 - Trung đoàn 29 cắt đường 14 (đoạn từ Tân Phú đi Chư Thoi), chặn đánh Tiểu đoàn 153 bảo an, diệt 52 tên, bắt 14 tên, thu 23 súng các loại. 11 giờ 30 phút ngày 17/3, Trung đoàn 95A chủ lực Quân khu 5 và Trung đoàn 19 tiến vào giải phóng Pleiku, Trung đoàn 29 giải phóng Kon Tum. Ngày 19/3, Bộ Tư lệnh Mặt trận lệnh cho Sư đoàn 968 đưa Trung đoàn 29 về làm nhiệm vụ tiếp quản Buôn Ma Thuột.

Đêm 19/3, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 320A họp nhận định; ta đã cơ bản tiêu diệt quân địch ở Tây Nguyên (trừ Liên đoàn 6 biệt động quân và một bộ phận Thiết đoàn 19 vượt qua trước). Ta loại khỏi chiến đấu hơn 4.000 tên địch, bắt sống 3.000 tên, thu nhiều súng đạn, phá hủy hầu hết trang bị và phương tiện của Quân đoàn 2 quân đội Sài Gòn.

Chính từ chiến thắng của Chiến dịch Tây Nguyên đã góp phần đưa tướng Hoàng Minh Thảo, tướng Vũ Lăng, các tướng lĩnh Bộ Chỉ huy Chiến dịch Tây Nguyên đi vào huyền thoại lịch sử Việt Nam. Trong tác chiến, Tổng hành dinh của ta và trực tiếp tại chiến trường là Đại tướng Văn Tiến Dũng, tTướng Hoàng Minh Thảo đã từng bước, từng bước chuyển hóa chiến dịch thành chiến lược, dẫn dụ đối phương, bắt đối phương tự dấn thân vào mê hồn trận thực thực giả giả như trong truyện cổ tích của đòn nghi binh chiến lược; buộc đối phương phải điều binh khiển tướng theo thế cờ mà ta đã xếp đặt.

Phương Liên (ghi)