(Chinhphu.vn) - Hơn 40 năm trước, ngay từ tháng 4/1973, để giúp Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh khởi thảo kế hoạch chiến lược trình Bộ Chính trị,  một tổ chức mang tên Tổ Trung tâm được thành lập. Trong vòng 1 năm (từ tháng 4/1973-5/1974), kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam được soạn thảo, chỉnh lý, bổ sung qua nhiều lần.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trình bày kế hoạch trong cuộc họp Bộ Chính trị, hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trong năm 1975.
Sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước sau ngày Hiệp định Paris được ký kết, đặc biệt là từ cuối năm 1973 trở đi, trên đà phát triển toàn diện, mạnh mẽ; quân đội Sài Gòn ngày càng bị đẩy vào thế phòng thủ bị động, tinh thần binh lính, sĩ quan sa sút nhanh chóng; mâu thuẫn trong chính quyền Sài Gòn thêm gay gắt.

Bước sang năm 1974, địch đẩy mạnh hoạt động quân sự nhưng chủ yếu nhằm đối phó với các cuộc tiến công của ta, tập trung vào những vùng trọng điểm như Trị Thiên, đồng bằng Khu 5, Kon Tum, Pleiku, xung quanh Sài Gòn-Gia Định và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long… Từ giữa năm 1974 trở đi, quân độ Sài Gòn hầu như không còn tiến hành được các cuộc hành quân lấn chiếm nào quy mô đáng kể. Hơn nữa, sau những chiến thắng của chủ lực Quân giải phóng ở Thượng Đức, Minh Long, Tánh Linh, Măng Đen, Giá Vụt, Đắk Pét, Ya Súp, Măng Búc… quân đội Sài Gòn thậm chí đã không thể tái chiếm những vùng vừa bị mất; phần lớn các hoạt động nặng về chống đỡ, mang tính chất phòng ngự hòng duy trì và giữ vững những vùng thuộc quyền kiểm soát của họ.

Tuy được Mỹ trao lại vũ khí, trang bị và toàn bộ hệ thống căn cứ quân sự Mỹ sau khi quân Mỹ rút; cộng với số vũ khí và phương tiện chiến tranh mà Mỹ tuồn vào trước ngày ký kết Hiệp định Paris, đảm bảo cho quân đội Sài Gòn một khối lượng dự trữ chiến tranh, nhưng việc viện trợ quân sự, kinh tế Mỹ dành cho Sài Gòn giảm mạnh, khiến cho tinh thần và khả năng chiến đấu của quân đội Sài Gòn ngày càng thêm sa sút; kế hoạch hiện đại hóa quân đội không thực hiện được.

Trước sức tiến công liên tục, rộng khắp của quân và dân ta trên khắp chiến trường, địch tiếp tục lùi dần vào thế phòng ngự, lực lượng quân đội Sài Gòn bị căng ra, phân tán, bộc lộ nhiều chỗ yếu và sơ hở.

Thất bại trên chiến trường, cộng với nguồn viện trợ kinh tế, quân sự của Mỹ giảm khiến cho khủng hoảng kinh tế-xã hội của chế độ Sài Gòn ngày càng trầm trọng.

Sau những thắng lợi quan trọng cả về quân sự, chính trị từ nửa sau năm 1973, so sánh lực lượng và thế bố trí chiến lược của cách mạng miền Nam chuyển biến tích cực. Trong năm 1974, các chiến trường đẩy mạnh hoạt động tiến công và phản công, giành những kết quả quan trọng về tiêu diệt sinh lực địch và phương tiện chiến tranh, giành đất, giành dân, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng. Các binh đoàn chủ lực được tổ chức, đứng chân trên những địa bàn chiến lược Đông Nam Bộ, Trị Thiên, Tây Nguyên. Mạng đường chiến lược nhanh chóng được mở rộng và kéo dài, đáp ứng vận chuyển chi viện từ miền Bắc vào miền Nam và tới các chiến trường, các mặt trận. Hệ thống đường ống xăng dầu vươn sâu tới miền Đông Nam Bộ. Trên miền Bắc, công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, ổn định tình hình kinh tế và đời sống nhân dân, củng cố quốc phòng-an ninh, thu được những kết quả quan trọng. Kết quả ấy thể hiện nổi bật sức sống mãnh liệt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đánh dấu những cố gắng lớn lao và khả năng tiềm tàng to lớn của quân dân ta, tạo cơ sở để ta tiếp tục tiến lên trong những năm tới.

Hội nghị lịch sử

Theo dõi diễn biến tình hình trên chiến trường, trong nước và trên thế giới; nhận rõ âm mưu và hành động phá hoại của chính quyền, quân đội Sài Gòn, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21 khẳng định con đường phát triển của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng; tư tưởng chỉ đạo là nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công, phương hướng chiến lược của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới là phải mạnh trên cả ba mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao để buộc địch thi hành Hiệp định, đồng thời chủ động chuẩn bị sẵn sàng cho trường hợp phải tiến hành chiến tranh cách mạng trên khắp chiến trường miền Nam để giành thắng lợi hoàn toàn.

Sau Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 21, các cơ quan chiến lược tập trung giúp Quân ủy Trung ương chuẩn bị chủ trương và những giải pháp lớn về quân sự mà trọng tâm là xây dựng Kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam.

Để giúp Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh khởi thảo kế hoạch chiến lược trình Bộ Chính trị, ngay từ tháng 4/1973, một tổ chức mang tên Tổ trung tâm được lập ra, bao gồm các đồng chí: Vũ Lăng - Cục trưởng Cục Tác chiến - Bộ Tổng Tham mưu và các Phó Cục trưởng: Võ Quang Hồ, Lê Hữu Đức, do đồng chí Lê Trọng Tấn - Phó Tổng Tham mưu trưởng trực tiếp phụ trách.

Trong vòng 1 năm (từ tháng 4/1973 đến tháng 5/1974), kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam được soạn thảo, chỉnh lý, bổ sung qua nhiều lần. Đó là cả một quá trình nắm bắt kịp thời mọi diễn biến chiến trường, trong nước và trên thế giới, trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan tới cuộc chiến tranh; là quá trình bàn bạc, tính toán, cân nhắc, chọn lựa các giải pháp giữa cơ quan chỉ đạo chiến lược với lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường. Trong suốt quá trình đó, nhiều vấn đề lớn được đặt ra, đòi hỏi bộ não chỉ đạo cách mạng Việt Nam phải tập trung suy nghĩ: “Làm thế nào để tạo được thời cơ. Cần làm gì để chớp thời cơ, không được để lỡ? Hướng chiến lược là đâu? Đánh như thế nào để tiêu diệt chiến đoàn và sư đoàn quân ngụy? Khả năng can thiệp hoặc trở lại của Mỹ nếu ta đánh lớn?…”.

Quân ủy Trung ương và Tổng hành dinh đã có nhiều cuộc họp bàn, đặc biệt là vấn đề chọn hướng tiến công chiến lược. Theo ý kiến của các đồng chí soạn thảo kế hoạch chiến lược và một số đồng chí trong Quân ủy Trung ương, nếu ta đánh Tây Nguyên sẽ gây chấn động lớn, địch sẽ tập trung lực lượng phòng giữ Sài Gòn và đồng bằng Nam Bộ và chính điều đó khiến cho ta gặp khó khăn sau này. Do vậy, những người ủng hộ ý kiến này cho rằng, nên chọn đồng bằng Nam Bộ là hướng tiến công chính, còn đối với Tây Nguyên chỉ nên đánh mục tiêu Đức Lập nhằm khai thông đường cơ động chiến lược vào đồng bằng Nam Bộ.

Khác với ý kiến trên đây, một số đồng chí cho rằng, nên chọn Tây Nguyên làm hướng tiến công chính, bởi đây là địa bàn thuận lợi để ta thực hiện ý định đánh tiêu diệt quân địch, tạo bước ngoặt thay đổi cục diện chiến tranh. Các đồng chí Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, cùng Tổ trung tâm được Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ tiếp tục suy nghĩ, phân tích, đánh giá thêm về thế và lực của cả ta và địch trên từng chiến trường làm cơ sở cho việc hạ quyết tâm chiến lược chính xác khi thời cơ đến.

Căn cứ vào thực tế chiến trường, ý kiến chỉ đạo của các đồng chí trong Bộ Chính trị, Bộ Quốc phòng và lắng nghe ý kiến của các tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp trong quân đội trên những cương vị khác nhau, Tổ trung tâm tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh bản đề cương kế hoạch chiến lược; bản đề cương này được hoàn thành ngày 26/8/1974, mang tên Kế hoạch giành thắng lợi lớn ở miền Nam. Đề cương chỉ rõ, chiến thắng Thượng Đức có ý nghĩa chiến lược, chứng tỏ thế và lực ta đã hơn hẳn địch; thời cơ lớn của cách mạng miền Nam đã xuất hiện, cho phép ta thực hiện các đòn tiến công chiến lược trên cả ba vùng, trong đó đô thị có tầm quan trọng quyết định, đặc biệt là Sài Gòn-Gia Định và Đà Nẵng; hướng tiến công chủ yếu là Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ.

Kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam dự định thực hiện theo hai bước: Bước một, năm 1975, là cuộc tiến công rộng khắp ba vùng, đánh bại về cơ bản chương trình bình định của địch, diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng chủ lực quân đội Sài Gòn. Bước hai, năm 1976, thực hiện tổng công kích-tổng khởi nghĩa giải phóng hoàn toàn miền Nam, hoàn thành sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Sau khi nghe báo cáo của Bộ Tổng tham mưu, Bộ Chính trị tập trung thảo luận những nội dung quan trọng liên quan tới quyết tâm chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam: Về đánh giá tình hình, về so sánh lực lượng, về thời cơ chiến lược, về khả năng can thiệp của đế quốc Mỹ.

Bộ Chính trị cho rằng, hiện nay, ta đã mạnh hơn hẳn địch; với tương quan lực lượng so sánh như vậy, thì Mỹ dù có can thiệp đến mức nào, cũng không cứu vãn nổi sự sụp đổ của quân đội và chính quyền Sài Gòn. Do vậy, về kế hoạch chiến lược, Bộ Chính trị nhận định, 2 năm 1975 và 1976 đều có vị trí quan trọng, nhưng năm 1975 là năm bản lề - tạo điều kiện cho năm 1976 giành thắng lợi cuối cùng; phải thực hiện tốt kế hoạch năm 1975 để đón năm 1976, phải tạo được yếu tố bất ngờ có thể dẫn đến những bước phát triển nhảy vọt và trong bất kỳ tình huống nào cũng không được để lỡ khi thời cơ chiến lược xuất hiện. Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức thống nhất đất nước trong năm 1975.

Để chủ động đón thời cơ chiến lược, lực lượng chủ lực cơ động phải chuẩn bị sẵn sàng tác chiến trên cả hai hướng chiến lược Tây Nguyên, trọng điểm là hướng chiến lược quan trọng Nam Tây Nguyên; miền Đông Nam Bộ là hướng quyết định cuối cùng, trong đó Tây Nguyên được chọn làm chiến trường chủ yếu trong cuộc tiến công lớn và rộng khắp năm 1975.

Về phương thức tác chiến chiến lược, chiến dịch, Bộ Chính trị yêu cầu, cần kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và binh vận, đánh trên cả ba vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị); bộ đội chủ lực cơ động phải đánh những trận quyết chiến chiến lược, đánh tiêu hao tiêu diệt lớn trên khắp chiến trường rừng núi, phối hợp với các chiến dịch tổng hợp ở đồng bằng sông Cửu Long và Khu 5.

Chủ trương chiến lược và kế hoạch giải phóng miền Nam

Sau 9 ngày làm việc với tinh thần hết sức khẩn trương, ngày 8/10/1974, hội nghị tạm dừng, chờ một số đồng chí ở chiến trường ra.

Phát biểu kết thúc phiên họp lần thứ nhất, sáng ngày 8/10/1974, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn khẳng định: “Hơn một tuần làm việc, Bộ Chính trị chúng ta đã nhất trí hạ quyết tâm hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Đây là một sự kiện vô cùng trọng đại, để tiến tới kết thúc cuộc chiến tranh cách mạng kéo dài gần 30 năm, kể từ khi chúng ta giành được chính quyền, để hoàn thành trọn vẹn trách nhiệm vẻ vang đối với dân tộc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế lớn lao đối với thời đại.

Đây là một quyết định rất dũng cảm, có thể nói là táo bạo. Song, quyết định này là kết quả của trí tuệ tập thể của Bộ Chính trị, là kết quả của những suy nghĩ đã nung nấu từ lâu, của sự cân nhắc chín chắn xuất phát từ kinh nghiệm được tích lũy qua mấy mươi năm chiến đấu, xuất phát từ thực tiễn cách mạng trên chiến trường, từ lực lượng so sánh trong nước và trên thế giới”.

Phân tích toàn bộ những vấn đề liên quan tới cuộc chiến tranh, đánh giá tương quan lực lượng so sánh giữa ta và địch, đồng chí Lê Duẩn chỉ rõ: “Lúc này, chúng ta đang có thời cơ. Hai mươi năm chiến đấu mới tạo được thời cơ này”, cần phải kịp thời nắm lấy để “hoàn toàn giải phóng miền Nam, giành thắng lợi trọn vẹn cho cách mạng dân tộc dân chủ, đồng thời giúp Lào và Campuchia hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ngoài thời cơ này không có thời cơ nào khác. Nếu để chậm mươi, mười lăm năm nữa, bọn ngụy gượng dậy được, các thế lực xâm lược được phục hồi… thì tình hình sẽ phức tạp vô cùng”.

Do vậy, nhiệm vụ cấp bách lúc này là: “Động viên những nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ở cả hai miền, mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy cuối cùng, đưa chiến tranh cách mạng phát triển đến mức cao nhất, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân ngụy, đánh chiếm Sài Gòn, sào huyệt trung tâm của địch cũng như tất cả các thành thị khác, đánh đổ ngụy quyền ở trung ương và các cấp, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân, giải phóng hoàn toàn miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thống nhất nước nhà. Ngay từ bây giờ, phải tiến hành mọi công việc chuẩn bị thật khẩn trương, tạo điều kiện và cơ sở vật chất đầy đủ nhất để đánh mạnh, đánh nhanh, thắng gọn và thắng triệt để trong 2 năm 1975-1976”.

Trên cương vị Tổng Tư lệnh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đồng chí Võ Nguyên Giáp khẳng định quyết tâm: Toàn quân kiên quyết thực hiện bằng được nhiệm vụ lịch sử mà đồng chí Bí thư thứ nhất thay mặt Đảng trao cho quân đội.

Sau Hội nghị Bộ Chính trị, các cơ quan thuộc Tổng hành dinh khẩn trương hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến chiến lược, đồng thời, lập tức truyền đạt nhiệm vụ và kế hoạch quân sự tới các chiến trường.

Nắm bắt và thực hiện chủ trương chiến lược của Hội nghị Bộ Chính trị tháng 10/1974, quân và dân ta trên cả hai miền Nam, Bắc bước vào giai đoạn chuẩn bị mới với nhịp độ khẩn trương hơn và quy mô rộng lớn hơn, nhằm đáp ứng đòi hỏi của tình hình chiến trường miền Nam đang diễn biến rất mau lẹ.

Phương Liên
(ghi theo Thiếu tướng Vũ Quang Đạo, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự)