(Chinhphu.vn) – Thông cáo báo chí của VPCP về chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Quy định việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí

Nghị định 09/2017/NĐ-CP quy định chi tiết việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính nhà nước vừa được Chính phủ ban hành.

Nghị định này quy định về người phát ngôn, chế độ phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính nhà nước.

Trong đó, người thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; tổng cục thuộc bộ, cơ quan ngang bộ; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, gồm: Người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước; người được người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước giao nhiệm vụ phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí thường xuyên (người phát ngôn); người có trách nhiệm thuộc cơ quan hành chính nhà nước được người đứng đầu ủy quyền thực hiện phát ngôn (người được uỷ quyền phát ngôn) hoặc giao nhiệm vụ phối hợp cùng người phát ngôn thực hiện phát ngôn hoặc cung cấp thông tin cho báo chí về những vấn đề cụ thể được giao.

Người thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cục, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các tổ chức cấp tỉnh thuộc cơ quan trung ương được tổ chức theo ngành dọc đặt tại địa phương, gồm: Người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước; trường hợp người đứng đầu cơ quan hành chính không thể thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí thì ủy quyền cho cấp phó là người được giao phụ trách cơ quan thực hiện việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí.

Người thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã, gồm: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã; trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân không thể thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí thì uỷ quyền cho cấp phó của mình thực hiện việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí.

Họ tên, chức vụ, số điện thoại và địa chỉ e-mail của người phát ngôn phải được công bố bằng văn bản cho cơ quan quản lý nhà nước về báo chí và phải được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của cơ quan hành chính nhà nước.

Các cá nhân của cơ quan hành chính nhà nước không là người được giao nhiệm vụ phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí được cung cấp thông tin cho báo chí theo quy định pháp luật nhưng không được nhân danh cơ quan hành chính nhà nước để phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin đã cung cấp.

6 hình thức phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí

Theo Nghị định, có 6 hình thức phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí: 1- Tổ chức họp báo; 2- Đăng tải nội dung phát ngôn và cung cấp thông tin trên Cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử hoặc trang mạng xã hội chính thức của cơ quan hành chính nhà nước; 3- Phát ngôn trực tiếp hoặc trả lời phỏng vấn của nhà báo, phóng viên; 4- Gửi thông cáo báo chí, nội dung trả lời cho cơ quan báo chí, nhà báo, phóng viên bằng văn bản hoặc qua thư điện tử; 5- Cung cấp thông tin qua trao đổi trực tiếp hoặc tại các cuộc giao ban báo chí do trung ương, địa phương tổ chức khi được yêu cầu; 6- Ban hành văn bản đề nghị cơ quan báo chí đăng, phát phản hồi, cải chính, xin lỗi nội dung thông tin trên báo chí.

Phát ngôn và cung cấp thông tin định kỳ

Nghị định cũng nêu rõ, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức cung cấp thông tin cho báo chí theo định kỳ 1 tháng một lần về hoạt động và công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ bằng hình thức họp báo, cung cấp thông cáo báo chí và đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ.

Cổng thông tin điện tử của Chính phủ có trách nhiệm cập nhật thông tin theo các quy định hiện hành để cung cấp kịp thời, chính xác thông tin chính thống cho các cơ quan báo chí trong cả nước.

Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức cung cấp thông tin định kỳ cho báo chí về hoạt động của cơ quan mình, về lĩnh vực, địa bàn thuộc phạm vi quản lý của mình, thông qua các hình thức sau: Hằng tháng cung cấp thông tin định kỳ cho báo chí và cập nhật thông tin trên Cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan mình theo quy định của Chính phủ về cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước; ít nhất 3 tháng một lần tổ chức họp báo để cung cấp thông tin định kỳ cho báo chí; trường hợp cần thiết, cơ quan hành chính nhà nước tổ chức cung cấp thông tin định kỳ cho báo chí bằng văn bản hoặc thông tin trực tiếp tại các cuộc giao ban báo chí hàng tuần do Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông và Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức; cung cấp thông tin kịp thời, chính xác cho Cổng thông tin điện tử của Chính phủ theo quy định hiện hành.

Tổng cục, cục, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các tổ chức cấp tỉnh thuộc cơ quan Trung ương được tổ chức theo ngành dọc đặt tại địa phương và Ủy ban nhân dân cấp huyện cung cấp thông tin định kỳ cho báo chí và cập nhật thông tin trên Cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan mình theo quy định của Chính phủ về cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước; cử người phát ngôn cung cấp thông tin tại họp báo của bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khi có yêu cầu; cung cấp thông tin kịp thời, chính xác cho Cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định hiện hành; trường hợp cần thiết, cơ quan hành chính nhà nước tổ chức cung cấp thông tin định kỳ cho báo chí bằng văn bản.

Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; các tổ chức cấp tỉnh thuộc cơ quan trung ương được tổ chức theo ngành dọc đặt tại địa phương và Ủy ban nhân dân cấp huyện có thể thông tin trực tiếp tại các cuộc giao ban báo chí do Ban Tuyên giáo, Sở Thông tin và Truyền thông và Hội Nhà báo tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức.

Ủy ban nhân dân cấp xã cung cấp thông tin kịp thời, chính xác cho Cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp huyện; trường hợp cần thiết, Ủy ban nhân dân cấp xã cung cấp thông tin định kỳ cho báo chí bằng văn bản hoặc các hình thức quy định nêu trên.

Nghị định cũng quy định về phát ngôn và cung cấp thông tin trong trường hợp đột xuất, bất thường.

Quy chế quản lý tài chính của EVN

Chính phủ vừa ra Nghị định số 10/2017/NĐ-CP ban hành quy chế quản lý tài chính của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).

Không huy động vốn để đầu tư vào chứng khoán, ngân hàng

Nghị định quy định vốn vủa EVN bao gồm vốn do Nhà nước đầu tư tại EVN, vốn do EVN tự huy động và các loại vốn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

EVN được quyền chủ động sử dụng số vốn nhà nước đầu tư, các loại vốn khác, các quỹ do EVN quản lý vào hoạt động sản xuất kinh doanh của EVN theo quy định; quản lý sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn có hiệu quả; báo cáo theo đúng quy định cho chủ sở hữu, Bộ Tài chính về việc doanh nghiệp hoạt động thua lỗ, không đảm bảo khả năng thanh toán, không hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ do chủ sở hữu giao hoặc trường hợp sai phạm khác để thực hiện giám sát theo quy định.

EVN được quyền huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật để đáp ứng nhu cầu vốn của EVN và tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn huy động, hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi vay cho chủ nợ mà EVN đã cam kết.

Việc huy động vốn của EVN phải bảo đảm hệ số nợ phải trả (bao gồm cả các khoản bảo lãnh vay vốn đối với công ty con của EVN) trên vốn chủ sở hữu được ghi trên báo cáo tài chính quý hoặc báo cáo tài chính năm của EVN tại thời điểm gần nhất với thời điểm huy động vốn không vượt quá 3 lần.

Hình thức huy động vốn của EVN gồm: Phát hành trái phiếu doanh nghiệp; vay vốn của các tổ chức tín dụng, các tổ chức tài chính khác, của cá nhân, tổ chức ngoài doanh nghiệp; vay vốn của người lao động và các hình thức huy động vốn khác theo quy định của pháp luật.

Nghị định nêu rõ EVN không được huy động vốn để đầu tư vào các lĩnh vực chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm, quỹ đầu tư, bất động sản, tài chính.

EVN không được nhận góp vốn từ doanh nghiệp cấp II, III

Nghị định cũng nêu rõ: EVN được quyền sử dụng vốn của EVN để đầu tư ra ngoài EVN thuộc các ngành nghề kinh doanh được quy định trong Điều lệ tổ chức hoạt động của EVN. Việc đầu tư vốn ra ngoài EVN phải tuân thủ các quy định của pháp luật và đảm bảo nguyên tắc có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn, tăng thu nhập và không làm thay đổi mục tiêu hoạt động của EVN.

EVN không được nhận đầu tư, góp vốn từ các công ty con của EVN (doanh nghiệp cấp II), từ các công ty con của doanh nghiệp cấp II (doanh nghiệp cấp III).

Về đầu tư ra nước ngoài, Nghị định yêu cầu việc sử dụng vốn, tài sản của EVN để đầu tư ra nước ngoài phải tuân thủ quy định của Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp, quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về quản lý ngoại hối và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Xây sân golf 27 lỗ tại Cam Ranh, Khánh Hòa

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chấp thuận chủ trương đầu tư Dự án Câu lạc bộ sân golf The Lotus Cam Ranh tại phường Cam Nghĩa, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.

Mục tiêu của dự án là đầu tư xây dựng, kinh doanh và quản lý sân golf với quy mô tổng diện tích là 90 ha (sân golf 27 lỗ); vốn đầu tư 600 tỷ đồng, trong đó: vốn chủ sở hữu 300 tỷ đồng, vốn huy động 300 tỷ đồng.

Công ty trách nhiệm hữu hạn KN Cam Ranh là nhà đầu tư dự án.

Dự án được chia làm 3 giai đoạn thực hiện. Giai đoạn 1 (năm 2017): Đầu tư hoàn chỉnh sân golf 9 lỗ, sân tập golf và các công trình phục vụ golf, nhà câu lạc bộ, nhà điều hành và văn phòng. Giai đoạn 2 (năm 2018) đầu tư hoàn chỉnh 9 lỗ tiếp theo, xây dựng cảnh quan và mua sắm các thiết bị. Giai đoạn 3 (năm 2019 – tháng 4/2020) đầu tư hoàn chỉnh 9 lỗ tiếp theo, xây dựng cảnh quan và hoàn chỉnh các thiết bị.

Thời hạn hoạt động của Dự án là 50 năm kể từ ngày được chấp thuận chủ trương đầu tư.

Trong quá trình đầu tư, quản lý và khai thác Dự án Câu lạc bộ sân golf The Lotus Cam Ranh, nhà đầu tư không được liên doanh, liên kết, chuyển nhượng Dự án, chuyển nhượng phần vốn góp hoặc cổ phần tham gia vào Dự án cho đối tác nước ngoài kể cả người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi chưa có ý kiến chấp thuận của Bộ Quốc phòng.

Thủ tướng Chính phủ giao UBND tỉnh Khánh Hòa thực hiện thủ tục bổ sung Dự án vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch xây dựng và các quy hoạch khác của địa phương theo quy định; chỉ đạo và giám sát Nhà đầu tư thực hiện các quy định pháp luật về đầu tư, xây dựng, kinh doanh, môi trường và việc liên doanh, liên kết, chuyển nhượng Dự án, chuyển nhượng phần vốn góp hoặc cổ phần tham gia vào Dự án.

UBND tỉnh Khánh Hòa rà soát, điều chỉnh lại nội dung đảm bảo phù hợp với chủ trương đầu tư Dự án Câu lạc bộ sân golf The Lotus Cam Ranh được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận.

Chức năng, cơ cấu tổ chức của Ủy ban Dân tộc

Ủy ban Dân tộc là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Ủy ban Dân tộc theo quy định của pháp luật.

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 13/2017/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Dân tộc.

Theo đó, Ủy ban Dân tộc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 1/9/2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ và một số nhiệm vụ cụ thể.

Trong đó, Ủy ban Dân tộc có nhiệm vụ chủ trì hoặc phối hợp với các bộ, cơ quan có liên quan trình cấp có thẩm quyền ban hành chính sách phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi; chính sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số, nâng cao dân trí ở vùng dân tộc thiểu số; chính sách để đồng bào các dân tộc thiểu số thực hiện quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình; chính sách đầu tư, phát triển các cơ sở giáo dục đào tạo đáp ứng về cơ sở vật chất để phục vụ công tác giáo dục, đào tạo cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Bên cạnh đó, Ủy ban Dân tộc có nhiệm vụ tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phát huy những phong tục, tập quán và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc; theo dõi, kiểm tra, tổng hợp tình hình vùng dân tộc thiểu số, tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác dân tộc ở các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các địa phương, đề xuất, kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết các vấn đề liên quan đến công tác dân tộc và đồng bào dân tộc thiểu số...

Ủy ban Dân tộc có 18 đơn vị chức năng gồm: Vụ Kế hoạch - Tài chính; Vụ Tổ chức cán bộ; Vụ Pháp chế; Vụ Hợp tác quốc tế; Thanh tra; Văn phòng; Vụ Tổng hợp; Vụ Chính sách dân tộc; Vụ Tuyên truyền; Vụ Dân tộc thiểu số; Vụ Địa phương I; Vụ Địa phương II; Vụ Địa phương III; Học viện Dân tộc; Trung tâm Thông tin; Báo Dân tộc và Phát triển; Tạp chí Dân tộc; Nhà khách Dân tộc.

Dịch vụ sự nghiệp công sử dụng NSNN lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Danh mục Dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách Nhà nước (NSNN) thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo.

Theo đó, Dịch vụ sự nghiệp công sử dụng NSNN thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo gồm có: 1- Dịch vụ giáo dục mầm non và phổ thông; 2 - Dịch vụ giáo dục trung cấp sư phạm và cao đẳng sư phạm; 3- Dịch vụ giáo dục đại học; 4- Dịch vụ giáo dục thường xuyên; 5- Nhóm dịch vụ khác.

Trong đó, hoạt động giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật trong nhà trường cấp giáo dục mầm non; hoạt động dạy học các môn học bắt buộc và tự chọn trong Chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành cấp giáo dục phổ thông được NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí thực hiện.

Các hoạt động giáo dục trong trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú, dự bị cũng được NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí thực hiện.

Những dịch vụ giáo dục đại học được NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí thực hiện gồm: 1- Đào tạo trình độ đại học đối với các ngành sư phạm, chuyên ngành Marx-Lenin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, các chuyên ngành: Lao, Phong, Tâm thần, Giám định pháp y, Pháp y tâm thần và Giải phẫu bệnh, những ngành khó tuyển, ngành trong lĩnh vực an ninh quốc phòng, ngành khoa học cơ bản; 2- Đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ đối với các chuyên ngành: Lao, Phong, Tâm thần, Giám định pháp y, Pháp y tâm thần và Giải phẫu bệnh, những ngành khó tuyển, ngành trong lĩnh vực an ninh quốc phòng, ngành khoa học cơ bản.

Ngoài ra, hoạt động giảng dạy lý thuyết và thực hành ở trên lớp và tổ chức thực tập, nghiên cứu khoa học thuộc trình độ trung cấp sư phạm và cao đẳng sư phạm; chương trình xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ thuộc giáo dục thường xuyên... cũng được NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí thực hiện.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm bảo đảm đủ ngân sách để thực hiện các dịch vụ sự nghiệp công quy định theo phân cấp quản lý ngân sách hiện hành.

Hỗ trợ DN phân phối bán lẻ trong nước phát triển

Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với cơ quan liên quan nghiên cứu, có giải pháp khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp phân phối bán lẻ trong nước phát triển; chấn chỉnh các địa phương tuân thủ theo đúng quy định liên quan của pháp luật trong cấp phép, quản lý hoạt động phân phối, bán lẻ cho doanh nghiệp FDI; đồng thời, tăng cường đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện.

Đó là nội dung tại Thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng tại cuộc họp về tình hình, giải pháp quản lý, phát triển thị trường bán lẻ và dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 23/2007/NĐ-CP.

Kết luận nêu rõ, thị trường phân phối bán buôn, bán lẻ Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ, có nhiều tiềm năng, được các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đặc biệt quan tâm; có vai trò rất quan trọng trong việc điều tiết, định hướng lĩnh vực sản xuất. Trong quá trình đàm phán gia nhập các điều ước quốc tế, mở cửa thị trường, lĩnh vực phân phối, bán lẻ luôn là lĩnh vực nhạy cảm và được mở cửa theo lộ trình và Việt Nam đã giữ được một số biện pháp quản lý, kiểm soát nhất định.

Thực tế công tác quản lý đối với thị trường phân phối bán buôn, bán lẻ trong nước vừa qua cho thấy nhận thức của các Bộ, ngành và địa phương về việc mở cửa thị trường còn chưa thực sự thống nhất; việc thực hiện thủ tục kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT) ở nhiều địa phương còn mang tính hình thức, chưa đánh giá kỹ lưỡng, thận trọng; việc kiểm soát chấp hành pháp luật trong hoạt động của doanh nghiệp phân phối có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chưa hiệu quả, chưa có các biện pháp hỗ trợ hợp lý để doanh nghiệp trong nước phát triển, mở rộng hệ thống phân phối trong nước.

Trong thời gian tới, các Bộ, ngành, địa phương cần rà soát, sửa đổi các quy định pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này; đồng thời, đôn đốc, kiểm soát chặt chẽ việc triển khai thực hiện, nhất là đối với việc mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, bảo đảm phù hợp với quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, tuân thủ Luật Đầu tư và lộ trình, cam kết quốc tế; tăng cường kiểm tra việc chấp hành pháp luật của các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực phân phối, bán lẻ.

Trong đó, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với cơ quan liên quan nghiên cứu, có giải pháp khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp phân phối bán lẻ trong nước phát triển; chấn chỉnh các địa phương tuân thủ theo đúng quy định liên quan của pháp luật trong cấp phép, quản lý hoạt động phân phối, bán lẻ cho doanh nghiệp FDI; đồng thời, tăng cường đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện.

Bộ Tài chính tăng cường thanh tra, kiểm tra hoạt động của các cơ sở bán buôn, bán lẻ của nhà đầu tư, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài về thuế, giá để ngăn chặn các hành vi chuyển giá, trốn thuế và thực hiện truy thu thuế theo đúng quy định; chia sẻ kết quả thanh tra, kiểm tra để các Bộ, ngành, địa phương làm cơ sở xem xét, cấp phép doanh nghiệp FDI thành lập cơ sở bán lẻ mới.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương nghiên cứu sửa đổi, bổ sung khái niệm “nhà đầu tư nước ngoài" và "tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài" quy định tại Luật Đầu tư để quản lý được các nhà đầu tư, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tham gia thị trường bán lẻ Việt Nam.

Bộ Tài chính nghiên cứu, xử lý đề nghị của Bộ Công Thương về việc xây dựng quy định cho phép doanh nghiệp trong nước được giãn tiến độ nộp tiền thuê đất trong trường hợp thuê đất để đầu tư xây dựng, kinh doanh trung tâm thương mại, siêu thị.

Các địa phương liên quan quán triệt chủ trương hỗ trợ phát triển doanh nghiệp và mạng lưới phân phối bán lẻ trong nước thông qua việc bố trí quỹ đất, mặt bằng dành cho hoạt động phân phối, nhất là đối với doanh nghiệp trong nước; quản lý chặt chẽ việc phát triển mạng lưới bán lẻ của doanh nghiệp FDI theo đúng quy định của pháp luật, đặc biệt là việc áp dụng thủ tục kiểm tra nhu cầu kinh tế.

Hoàn chỉnh dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 23/2007/NĐ-CP

Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, cơ quan liên quan tổng hợp, tiếp thu ý kiến các đại biểu dự họp để rà soát, hoàn chỉnh dự thảo Nghị định định về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (Nghị định thay thế Nghị định 23/2007/NĐ-CP), báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong quý I/2017, trong đó nghiên cứu việc sửa đổi, bổ sung và giải trình làm rõ một số nội dung.

Cụ thể, bổ sung nguyên tắc xem xét, cấp phép cho nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài để thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa hoặc hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa, thực hiện quyền phân phối bán lẻ tại Việt Nam trong trường hợp chưa cam kết hoặc mở rộng hơn, nhanh hơn so với cam kết quốc tế theo hướng không nới lỏng hơn các điều kiện, mở rộng hơn, sớm hơn cam kết quốc tế; chỉ xem xét, cho phép vượt cam kết đối với trường hợp thật sự mang lại lợi ích đáng kể cho ta và quy định cụ thể các tiêu chí để đánh giá lợi ích này (như về việc làm, thu nhập cho người lao động, không tạo bất lợi đối với doanh nghiệp trong nước…).

Hạn chế tối đa việc xem xét, cấp phép cho cơ sở bán lẻ của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được bán lẻ những mặt hàng ta không cam kết. Việc xem xét, cấp phép cần gắn với việc nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có cam kết hỗ trợ phát triển sản xuất, tiêu thụ hàng hóa sản xuất trong nước.

Bổ sung quy định kiểm soát đối với trường hợp nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tham gia thành lập, góp vốn, mua lại các tổ chức kinh tế hoạt động bán lẻ tại thị trường trong nước; bổ sung quy định về quản lý, thành lập cơ sở bán buôn hàng tiêu dùng.

Ngoài ra, làm rõ trách nhiệm của Bộ Công Thương trong quản lý cấp Giấy phép mua bán hàng hóa, Giấy phép lập cơ sở bán lẻ của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (quy định rõ cơ sở để Bộ Công Thương xem xét chấp thuận hay không chấp thuận; quy định cụ thể trách nhiệm quản lý của Bộ Công Thương trong thanh tra, kiểm tra hoạt động của các cơ sở bán lẻ của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam); bổ sung cơ chế phối hợp quản lý giữa các cơ quan trong quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ sở bán buôn, bán lẻ nước ngoài tại Việt Nam.

Không cấp phép đầu tư dự án nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao

Kiên quyết không cấp phép đầu tư xây dựng các dự án nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao, không đảm bảo các yêu cầu về xử lý môi trường. Các dự án chỉ được đưa vào vận hành khi có hệ thống xử lý nước thải, chất thải bảo đảm các yêu cầu bảo vệ môi trường.

Đó là yêu cầu trong thông báo ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng tại Hội nghị trực tuyến tổng kết công tác năm 2016 và triển khai nhiệm vụ năm 2017 của ngành tài nguyên và môi trường.

Phó Thủ tướng yêu cầu ngành tài nguyên và môi trường tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật: rà soát, điều chỉnh bổ sung kịp thời các quy định pháp luật trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường để người dân, doanh nghiệp tiếp cận nguồn tài nguyên một cách bình đẳng, theo yêu cầu của thực tiễn nhằm tạo động lực, môi trường thuận lợi để huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển. Đặc biệt là nghiên cứu điều chỉnh, bổ sung quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, về đất đai để khuyến khích việc tập trung tích tụ đất đai, thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá; tăng cường các công cụ kinh tế trong quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu phù hợp với thể chế kinh tế thị trường và hội nhập.

Đồng thời rà soát các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, đặc biệt liên quan đến tài nguyên đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản, tài nguyên biển, xử lý chất thải, khí khải; gắn xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch với việc ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu và tái cấu trúc các ngành kinh tế, các lĩnh vực sản xuất; tăng cường quản lý, kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện quy hoạch, khắc phục tình trạng đầu tư tự phát, phong trào, sử dụng lãng phí đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản không theo quy hoạch, kế hoạch. Nâng cao chất lượng, hiệu quả của các dự án khai thác tài nguyên.

Bên cạnh đó nâng cao chất lượng thẩm định, đánh giá tác động môi trường và tăng cường kiểm tra giám sát việc thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường của các dự án đầu tư xây dựng, đặc biệt là công tác hậu kiểm; kiên quyết không cấp phép đầu tư xây dựng các dự án nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao, không đảm bảo các yêu cầu về xử lý môi trường. Các dự án chỉ được đưa vào vận hành khi có hệ thống xử lý nước thải, chất thải bảo đảm các yêu cầu bảo vệ môi trường.

Đối với dự án của Formosa, Bộ Tài nguyên Môi trường cần tiếp tục giám sát, kiểm soát chặt chẽ công nghệ sản xuất, công nghệ xử lý môi trường và công tác quản lý môi trường, đảm bảo đáp ứng hoàn toàn các yêu cầu mới cho vận hành theo thiết kế.

Xử lý triệt để cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cũng yêu cầu ngành tài nguyên và môi trường đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực tài nguyên môi trường, nhất là thanh tra, kiểm tra trong các lĩnh vực đất đai, môi trường, tài nguyên nước; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, gây thất thoát, sử dụng lãng phí tài nguyên; xử lý triệt để cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; xử lý nghiêm các cán bộ, công chức gây phiền hà, nhũng nhiễu người dân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, công tác thanh tra, kiểm tra phải có kế hoạch, không gây ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp, người dân, tránh bố trí các đoàn chồng chéo nhau.

Tiến hành điều tra, rà soát phân loại các nguồn thải gây ô nhiễm sông, biển, các vùng kinh tế, đô thị lớn; kiểm soát chặt chẽ việc xả thải vào nguồn nước, nâng cao chất lượng nguồn nước; tập trung cải tạo, phục hồi các khu vực ô nhiễm.

Ngành tài nguyên và môi trường cần tiếp tục nâng cao năng lực, chất lượng dự báo khí tượng thủy văn, nhất là dự báo xa; dự báo, cảnh báo kịp thời các hiện tượng thời tiết cực đoan, nguy hiểm phục vụ phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai, vận hành hồ chứa; tập trung đầu tư phát triển mạng lưới trạm quan trắc theo hướng tự động hoá, đồng bộ tích hợp với các lĩnh vực khác.

Phó Thủ tướng giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có liên quan khẩn trương xây dựng Đề án chống ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn, đặc biệt đối với Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh./.