(Chinhphu.vn) - Thông cáo báo chí về thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội có 23 đơn vị trực thuộc

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 14/2017/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. Theo Nghị định, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội có 23 đơn vị trực thuộc.

23 đơn vị gồm: Vụ Bảo hiểm xã hội; Vụ Bình đẳng giới; Vụ Pháp chế; Vụ Hợp tác quốc tế; Vụ Tổ chức cán bộ; Vụ Kế hoạch - Tài chính; Thanh tra; Văn phòng; Cục Việc làm; Cục Quan hệ lao động và Tiền lương; Cục Quản lý Lao động ngoài nước; Cục An toàn lao động; Cục Người có công; Cục Trẻ em; Cục Bảo trợ xã hội; Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội; Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp; Viện Khoa học Lao động và Xã hội; Trung tâm Thông tin; Tạp chí Lao động và Xã hội; Tạp chí Gia đình và Trẻ em; Báo Lao động và Xã hội; Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức lao động - xã hội.

Nghị định quy định Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực: Lao động, tiền lương; việc làm; giáo dục nghề nghiệp; bảo hiểm xã hội; an toàn, vệ sinh lao động; người có công; bảo trợ xã hội; trẻ em; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn xã hội trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ sự nghiệp công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.

Trong lĩnh vực lao động, tiền lương, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội có nhiệm vụ hướng dẫn và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về hợp đồng lao động, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất, đối thoại tại nơi làm việc, thương lượng tập thể, thỏa ước lao động tập thể, giải quyết tranh chấp lao động và đình công; hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật về tiền lương tối thiểu, định mức lao động, thang lương, bảng lương...

Về lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp (trừ sư phạm), Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành điều lệ trường cao đẳng, trường trung cấp và trung tâm giáo dục nghề nghiệp; quy chế tuyển sinh đào tạo; quy chế kiểm tra, thi, xét công nhận tốt nghiệp; quy định khối lượng kiến thức tối thiểu ở mỗi trình độ đào tạo; quản lý và tổ chức thực hiện việc kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp...

Đối với lĩnh vực người có công, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hướng dẫn và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về ưu đãi đối với người có công với cách mạng; quy định chế độ, định mức, phương thức trang cấp dụng cụ chỉnh hình và phương tiện trợ giúp cho người có công với cách mạng...

Nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Bộ Thông tin và Truyền thông

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 17/2017/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Thông tin và Truyền thông.

Theo đó, Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về báo chí; xuất bản, in, phát hành; bưu chính; viễn thông; tần số vô tuyến điện; công nghệ thông tin, điện tử; phát thanh và truyền hình, thông tin điện tử, thông tấn, thông tin đối ngoại, thông tin cơ sở và quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ.

Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ và những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể.

Trong đó, về ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng Chính phủ điện tử, Bộ Thông tin và Truyền thông có nhiệm vụ hướng dẫn, tổ chức và kiểm tra thực hiện chương trình, kế hoạch, đề án, dự án, cơ chế, chính sách, các quy định về ứng dụng công nghệ thông tin; quy chế quản lý đầu tư, đánh giá hiệu quả đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng vốn nhà nước; hỗ trợ doanh nghiệp và cộng đồng ứng dụng công nghệ thông tin.

Thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về Chính phủ điện tử; xây dựng, duy trì, cập nhật, tổ chức thực hiện Khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam; hướng dẫn xây dựng, thẩm định đề án, dự án ứng dụng công nghệ thông tin, dự án, đề án xây dựng Chính phủ điện tử theo thẩm quyền, kiến trúc Chính phủ điện tử cấp bộ, kiến trúc chính quyền điện tử cấp tỉnh; hướng dẫn xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ thông tin các cấp.

Bên cạnh đó, xây dựng hệ thống thông tin đầu mối kết nối, hỗ trợ truy nhập thuận tiện các cơ sở dữ liệu quốc gia; hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá việc tuân thủ các quy định của pháp luật liên quan đến cơ sở dữ liệu quốc gia; ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện các quy định về kết nối liên thông, tích hợp, chia sẻ thông tin, dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương; công bố theo thẩm quyền hoặc trình Thủ tướng Chính phủ công bố danh mục thông tin, dữ liệu chia sẻ, dùng chung.

Đồng thời, tổ chức xây dựng, quản lý và vận hành hạ tầng ứng dụng công nghệ thông tin, hạ tầng khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam và các hệ thống thông tin, dữ liệu dùng chung do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao; hướng dẫn các địa phương triển khai ứng dụng công nghệ thông tin để phát triển, cung cấp các dịch vụ thành phố thông minh.

Về an toàn thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông có nhiệm vụ quản lý về an toàn thông tin; bảo đảm an toàn thông tin cho các hệ thống thông tin, các hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin; phòng, chống thư rác; bảo đảm an toàn thông tin cá nhân trên mạng; tổ chức thực hiện chức năng quản lý, điều phối các hoạt động ứng cứu sự cố an toàn thông tin mạng trên toàn quốc; chủ trì điều phối ứng cứu khẩn cấp bảo đảm an toàn thông tin mạng quốc gia, theo quy định của pháp luật.

Quản lý các hoạt động sản xuất, kinh doanh sản phẩm và dịch vụ an toàn thông tin; tổ chức kiểm định, đánh giá, cấp chứng nhận về an toàn thông tin; cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, tạm đình chỉ, đình chỉ, thu hồi giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an toàn thông tin mạng trừ sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự; xây dựng và tổ chức vận hành các hệ thống đảm bảo an toàn thông tin; thẩm định về an toàn thông tin mạng trong hồ sơ thiết kế hệ thống thông tin, cấp độ an toàn hệ thống thông tin; quản lý công tác giám sát an toàn thông tin theo quy định của pháp luật.

Quy định về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số theo thẩm quyền; chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Ban Cơ yếu Chính phủ trong việc quản lý các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số; tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số quốc gia theo quy định của pháp luật; phối hợp với Bộ Công an bảo đảm an ninh, an toàn các công trình trọng điểm liên quan đến an ninh quốc gia trong lĩnh vực viễn thông và công nghệ thông tin.

Cơ cấu tổ chức

Bộ Thông tin và Truyền thông có 28 đơn vị gồm: 1- Vụ Bưu chính; 2- Vụ Công nghệ thông tin; 3- Vụ Khoa học và Công nghệ; 4- Vụ Kế hoạch - Tài chính; 5- Vụ Quản lý doanh nghiệp; 6- Vụ Hợp tác quốc tế; 7- Vụ Pháp chế; 8- Vụ Thi đua - Khen thưởng; 9- Vụ Tổ chức cán bộ; 10- Thanh tra Bộ; 11- Văn phòng Bộ; 12- Cục Báo chí; 13- Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử; 14- Cục Xuất bản, In và Phát hành; 15- Cục Thông tin cơ sở; 16- Cục Thông tin đối ngoại; 17- Cục Viễn thông; 18- Cục Tần số vô tuyến điện; 19- Cục Tin học hóa; 20- Cục An toàn thông tin; 21- Cục Bưu điện Trung ương; 22- Viện Chiến lược Thông tin và Truyền thông; 23- Trung tâm Thông tin; 24- Báo Bưu điện Việt Nam; 25- Báo điện tử Vietnamnet; 26- Tạp chí Thông tin và Truyền thông; 27- Học viện Công nghệ bưu chính, viễn thông; 28- Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin và Truyền thông.

Các đơn vị quy định từ (1) đến (21) nêu trên là các tổ chức giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước; các đơn vị quy định từ (22) đến (28) nêu trên là các tổ chức sự nghiệp thuộc bộ. Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức các đơn vị trực thuộc theo quy định của pháp luật.

Thủ tướng bổ nhiệm lại 2 Thứ trưởng

Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định bổ nhiệm lại 2 Thứ trưởng Bộ Công an và Bộ Quốc phòng.

Cụ thể, tại Quyết định 245/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm lại đồng chí Thượng tướng Lê Quý Vương, Ủy viên Trung ương Đảng, giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Công an.

Tại Quyết định 249/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm lại đồng chí Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Quy hoạch Khu du lịch quốc gia Mẫu Sơn

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn đến năm 2030.

Theo quy hoạch, Khu du lịch Mẫu Sơn thuộc địa bàn các xã: Mẫu Sơn (huyện Lộc Bình), Mẫu Sơn và Công Sơn (huyện Cao Lộc). Diện tích vùng lõi tập trung phát triển khu du lịch quốc gia là 1.500 ha (không bao gồm 4 điểm du lịch ở khu vực có đường tuần tra biên giới thuộc địa bàn xã Xuất Lễ và xã Mẫu Sơn, huyện Cao Lộc).

Khu du lịch Mẫu Sơn phát triển trên cơ sở phát huy tối đa lợi thế về khí hậu, cảnh quan thiên nhiên, gắn với bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, đặc biệt là văn hóa tâm linh và văn hóa tộc người; bảo đảm an ninh, quốc phòng, ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai và bảo vệ môi trường góp phần xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới.

Phát triển Khu du lịch Mẫu Sơn theo hướng đẩy mạnh xã hội hóa, tăng cường huy động các nguồn lực đầu tư; chú trọng kết nối với các khu, điểm có tiềm năng phát triển du lịch trong tỉnh và các vùng lân cận để tạo tuyến du lịch liên hoàn, đa dạng hóa sản phẩm du lịch, khắc phục tính thời vụ trong hoạt động du lịch.

Khu du lịch Mẫu Sơn sẽ tập trung đầu tư khai thác thế mạnh đặc trưng về cảnh quan thiên nhiên, địa hình, bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số (Nùng, Dao...) để phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn theo hướng bền vững, chuyên nghiệp, nâng cao chất lượng dịch vụ, khẳng định thương hiệu du lịch Mẫu Sơn.

Mục tiêu quy hoạch phấn đấu đến năm 2030, Khu du lịch Mẫu Sơn đáp ứng được các tiêu chí và trở thành Khu du lịch quốc gia với sản phẩm du lịch đặc trưng là du lịch nghỉ dưỡng núi, du lịch văn hóa tâm linh và du lịch sinh thái của vùng Trung du miền núi Bắc Bộ và cả nước.

Khu du lịch Mẫu Sơn phấn đấu đến năm 2025 đón khoảng 800 ngàn lượt khách; đến năm 2030 đón trên 1,0 triệu lượt khách du lịch, trong đó trên 50 ngàn lượt khách quốc tế. Tổng thu từ khách du lịch đến năm 2030 đạt trên 3.400 tỷ đồng.

Phấn đấu đến 2025 xuất khẩu tôm đạt 10 tỷ USD

Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại Hội nghị phát triển ngành tôm Việt Nam.

Thông báo kết luận nêu rõ, là một trong những thế mạnh của nông nghiệp Việt Nam, ngành tôm đã lớn lên cùng sự nghiệp Đổi mới của đất nước, đã rất năng động, sáng tạo vượt qua khó khăn, thách thức để trở thành một ngành hàng mũi nhọn.

Xác định rõ mục tiêu đưa ngành tôm Việt Nam tiến lên thành ngành công nghiệp sản xuất lớn, hiệu quả, có khả năng cạnh tranh cao và phát triển bền vững; mang lại lợi ích cho người dân, doanh nghiệp, nền kinh tế Việt Nam. Phấn đấu đưa Việt Nam trở thành công xưởng sản xuất tôm của thế giới, trong đó Đồng bằng sông Cửu Long là thủ phủ của nuôi trồng, chế biến tôm chất lượng cao. Cần xây dựng nhiều thương hiệu toàn cầu về tôm.

Ngành tôm phải là tấm gương tiêu biểu trong việc đi tắt, đón đầu trên con đường xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, giá trị gia tăng cao; trở thành điểm sáng của thế giới về ứng dụng các thành quả của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, áp dụng công nghệ sinh học, tự động hóa, điện tử, tin học v.v.. vào sản xuất con giống, thức ăn, nuôi trồng, chế biến tôm. Phấn đấu đến năm 2025 đưa kim ngạch xuất khẩu tôm đạt 10 tỷ USD.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu phát triển ngành tôm phải theo tư duy hệ thống, tập trung trên cơ sở tổ chức lại sản xuất theo hướng hợp tác và liên kết theo chuỗi giá trị từ cung ứng vật tư đầu vào đến nuôi, chế biến, phân phối, tiêu thụ tôm trong đó doanh ngiệp đóng vai trò đầu tàu và động lực; các hộ nuôi nhỏ lẻ phải được tổ chức thành hợp tác xã hoặc tổ hợp tác, liên kết với doanh nghiệp nhằm giảm các chi phí trung gian, nâng cao sức cạnh tranh của tôm Việt Nam.

Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu tôm

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các cơ quan nhà nước cần chú trọng công tác thông tin cho người dân về tình hình cung cầu, giá cả thị trường để người dân, doanh nghiệp chủ động cân đối kế hoạch nuôi tôm hợp lý, tránh đưa tin thất thiệt, gây ảnh hưởng đến lợi ích chung của ngành tôm Việt Nam.

Cần chủ động mở rộng thị trường tiêu thụ, cụ thể là đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, tránh tập trung phụ thuộc quá lớn vào một thị trường. Bộ Công Thương cần chủ động tuyên truyền về các hiệp định tự do thương mại mà Việt Nam tham gia, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kịp thời thông tin về các rào cản thương mại, đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường cho ngành tôm, đấu tranh, xử lý các vụ kiện chống bán phá giá, các rào cản kỹ thuật bất hợp lý, không để bị động về thị trường.

Về chống bán phá giá, các cơ quan Nhà nước cần phải phối hợp với các hiệp hội, đồng hành, có trách nhiệm và sẵn sàng cao nhất bảo vệ quyền lợi chính đáng của các doanh nghiệp Việt Nam chân chính. Huy động khi cần thiết các lực lượng chuyên gia, đội ngũ luật sư giỏi trong và ngoài nước để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các doanh nghiệp tôm, ngành tôm Việt Nam.

Kiên quyết xử lý hành vi bơm tạp chất vào tôm

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu kiên quyết xử lý thích đáng các hành vi bơm tạp chất cho vào tôm để trục lợi bất chính. Chính phủ và toàn thể xã hội tuyên chiến với những hành vi này. Các Bộ ngành và địa phương chỉ đạo quyết liệt và thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng; các cơ quan liên quan cần tập huấn thông tin cho người dân, doanh nghiệp nhằm nâng cao nhận thức về tình trạng này.

Các doanh nghiệp, người dân tham gia nuôi, chế biến tôm phải nêu cao tinh thần đoàn kết, hỗ trợ, giúp đỡ nhau về kinh nghiệm, thông tin trong sản xuất, kinh doanh, cùng nhau hướng tới sự phát triển chung của ngành tôm, lợi ích quốc gia. Các hiệp hội trong ngành hàng tôm cần phát huy vai trò của mình trong công tác này.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, các Bộ, ngành, địa phương tăng cường các biện pháp giám sát, kiểm soát bệnh dịch trên tôm nước lợ; tăng cường kiểm soát và quản lý tốt chất lượng con giống, vật tư đầu vào; đẩy mạnh thanh, kiểm tra các cơ sở sản xuất, kinh doanh, sử dụng vật tư nông nghiệp trong nuôi trồng thủy sản, các cơ sở thu gom, chế biến tôm, ngăn chặn nạn bơm chích tạp chất vào tôm; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Đặc biệt, trước mắt triển khai có kết quả Đề án kiểm soát, ngăn chặn hành vi đưa tạp chất vào tôm nguyên liệu đối với 4 tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang.

Tiếp tục thực hiện bảo hiểm đối với tôm nuôi

Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức triển khai chính sách về bảo hiểm nông nghiệp, trong đó tiếp tục thực hiện bảo hiểm đối với tôm nuôi. Phối hợp với Bộ Kế hoạch và đầu tư bố trí dòng vốn ngân sách cho các dự án đầu tư hạ tầng vùng nuôi và sản xuất giống tập trung, các nhiệm vụ khoa học ưu tiên.

Thủ tướng Chính phủ giao Ngân hàng nhà nước Việt Nam nghiên cứu, chỉ đạo các Ngân hàng thương mại nhà nước, các tổ chức tín dụng có cơ chế cho vay vốn ưu đãi cho các doanh nghiệp/hộ nuôi tôm, trong đó lưu ý về cơ chế bảo đảm tiền vay không cần thế chấp hoặc thế chấp bằng tài sản là ao/đầm nuôi và tôm nuôi.

UBND các tỉnh nuôi tôm, đặc biệt là các tỉnh nuôi tôm trọng điểm khuyến khích, thu hút doanh nghiệp tư nhân, phát triển các mô hình hợp tác xã đầu tư vào nuôi, chế biến tôm; có kế hoạch liên kết vùng để phát huy lợi thế sản xuất, kinh doanh tôm, hình thành trung tâm sản xuất tập trung công nghệ cao nhằm thu hút nguồn lực; phát triển các mô hình sản xuất sinh thái, hữu cơ.

Tháo gỡ khó khăn xây dựng Cơ sở dữ liệu quản lý dân cư

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình vừa chỉ đạo các bộ, ngành liên quan tháo gỡ khó khăn trong quá trình xây dựng Cơ sở dữ liệu liên quan đến quản lý dân cư.

Cụ thể, Phó Thủ tướng giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng (Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel) xử lý kịp thời, dứt điểm những vướng mắc trong thực hiện các thủ tục liên quan đến việc bố trí nguồn vốn và giải ngân trong xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Bộ Công an và Bộ Tư pháp phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện, phát huy, mở rộng số lượng địa phương được triển khai cấp số định danh cá nhân, bảo đảm các thông tin của công dân được thu thập chính xác, số định danh cá nhân được cấp theo quy trình khoa học và đúng quy định.

Phó Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Công an căn cứ vào nhu cầu của các bộ, ngành, địa phương, xác định quyền truy cập của các bộ, ngành, địa phương trong việc khai thác, sử dụng thông tin tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Thông tin và truyền thông nghiên cứu, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ các giải pháp tháo gỡ khó khăn trong quá trình xây dựng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, bảo đảm sự kết nối và đồng bộ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Các bộ, ngành nghiên cứu tiếp thu các ý kiến rà soát độc lập của Văn phòng Ban Chỉ đạo để bảo đảm chất lượng rà soát, xây dựng dự thảo Nghị quyết đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân theo Đề án 896 và trình Chính phủ. Trong quá trình thực thi phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân, cần dự liệu những vướng mắc phát sinh trong việc cấp số định danh cá nhân cho những người ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, kiều bào ta ở nước ngoài, bảo đảm mọi công dân Việt Nam đều được cấp số định danh cá nhân và được hưởng đầy đủ các chính sách như học tập, chăm sóc sức khỏe, quyền về cư trú và quyền về tài sản…

Ngoài ra, Phó Thủ tướng cũng giao Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Bộ Tư pháp nghiên cứu, trình Thủ tướng Chính phủ sửa đổi các nội dung liên quan đến tổ chức của Ban Chỉ đạo Ban Chỉ đạo thực hiện Đề án tổng thể đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân và các cơ sở dữ liệu liên quan đến quản lý dân cư giai đoạn 2013 - 2020 (Ban Chỉ đạo) và Văn phòng Ban Chỉ đạo được giao tại Quyết định số 896/QĐ-TTg.

Cùng với đó, Văn phòng Ban Chỉ đạo nghiên cứu, hoàn thiện và sớm trình Ban Chỉ đạo ban hành văn bản hướng dẫn việc thành lập Ban Chỉ đạo tại các địa phương để làm cơ sở cho địa phương thực hiện một cách đồng bộ./.