(Chinhphu.vn) - Thông cáo báo chí của VPCP về thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Điều kiện đầu tư xây dựng và kinh doanh sân gôn

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 52/2020/NĐ-CP về đầu tư xây dựng và kinh doanh sân gôn. Trong đó, Nghị định quy định cụ thể về điều kiện đầu tư xây dựng và kinh doanh sân gôn.

Cụ thể, sân gôn được xây dựng tại địa điểm đáp ứng các điều kiện sau: Phù hợp với nguyên tắc quy định và đáp ứng điều kiện về sử dụng đất theo quy định; phù hợp với định hướng phát triển, sắp xếp không gian và phân bổ nguồn lực cho các hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường theo quy hoạch tỉnh, quy hoạch sử dụng đất cấp huyện và quy hoạch có liên quan; đáp ứng điều kiện xây dựng công trình cảnh quan, hạ tầng kỹ thuật kết nối trong và ngoài khu vực sân gôn; phù hợp với yêu cầu lập hành lang bảo vệ nguồn nước, phòng, chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước theo quy định của pháp luật về tài nguyên nước và các yêu cầu theo quy định của pháp luật về đê điều, phòng chống thiên tai, tài nguyên môi trường biển, hải đảo.

Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý về quy hoạch, đất đai có trách nhiệm công bố công khai và cung cấp thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật về quy hoạch và  đất đai làm cơ sở để xác định địa điểm xây dựng sân gôn.

Việc lựa chọn nhà đầu tư thực hiện Dự án sân gôn theo quy định của pháp luật về  đấu thầu, pháp luật về đất đai và pháp luật có liên quan.

Điều kiện sử dụng đất để thực hiện Dự án sân gôn

Nghị định quy định điều kiện sử dụng đất để thực hiện Dự án sân gôn gồm:

1- Các loại đất không được sử dụng để xây dựng sân gôn và công trình phụ trợ phục vụ cho hoạt động kinh doanh sân gôn: Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất rừng, đất trồng lúa, trừ trường hợp quy định; đất thuộc các khu vực có yếu tố gốc cấu thành di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng, di tích thuộc danh mục kiểm kê của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, trừ trường hợp quy định; đất xây dựng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu công nghệ thông tin tập trung, khu công nghệ cao; đất thuộc phạm vi bảo vệ đê điều và hành lang bảo vệ bờ biển theo quy định của Luật Đê điều, Luật Tài nguyên, môi trường và hải đảo.

2- Dự án sân gôn ở vùng trung du, miền núi được sử dụng tối đa không quá 5 ha đất trồng lúa một vụ, phân tán tại địa điểm xây dựng và phải đáp ứng điều kiện về bảo vệ, phát triển đất trồng lúa, điều kiện thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

3- Dự án sân gôn sử dụng đất rừng sản xuất không phải là rừng tự nhiên phải đáp ứng điều kiện cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng rừng và trồng rừng thay thế theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật về lâm nghiệp.

4- Việc sử dụng đất tại vùng bao quanh hoặc tiếp giáp khu vực có yếu tố gốc cấu thành di tích để xây dựng sân gôn không được làm ảnh hưởng đến yếu tố gốc cấu thành di tích, cảnh quan thiên nhiên và môi trường - sinh thái của di tích và phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật di sản văn hóa.

Điều kiện xây dựng, mở rộng sân gôn và công trình phụ trợ

Nghị định cũng quy định cụ thể  điều kiện xây dựng, mở rộng sân gôn và công trình phụ trợ phục vụ cho hoạt động kinh doanh sân gôn:

1- Diện tích sân gôn tiêu chuẩn (18 lỗ) không quá 90 ha (bình quân không quá 5 ha trên một lỗ gôn); diện tích Dự án sân gôn xây dựng lần đầu không được quá 270 ha (54 lỗ gôn).

2- Mật độ xây dựng gộp của khu đất xây dựng sân gôn và công trình phụ trợ phục vụ cho hoạt động kinh doanh sân gôn thực hiện theo Quy chuẩn kỹ  thuật Quốc gia về Quy hoạch xây dựng do Bộ Xây dựng ban hành.

3- Nhà đầu tư phải hoàn thành xây dựng sân gôn trong thời hạn không quá 36 tháng (đối với sân gôn 18 lỗ) hoặc không quá 48 tháng (đối với sân gôn khác) kể từ ngày được quyết định cho thuê đất.

4- Việc mở rộng Dự án sân gôn đã được quyết định chủ trương đầu tư chỉ được xem xét sau khi Dự án đó đã hoàn thành xây dựng, đưa vào hoạt động và đáp ứng các điều kiện quy định.

5- Trường hợp nhà đầu tư đề xuất các Dự án sân gôn khác nhau trên cùng địa giới hành chính của một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì đề xuất Dự án sân gôn kế tiếp của nhà đầu tư đó chỉ được xem xét sau khi Dự án sân gôn đã được quyết định chủ trương đầu tư trước đó hoàn thành xây dựng và đưa vào hoạt động.

Nhà đầu tư thực hiện Dự án sân gôn phải đáp ứng 3 điều kiện

Ngoài ra, Nghị định quy định nhà  đầu tư thực hiện Dự án sân gôn phải đáp ứng 3 điều kiện:

1- Đáp ứng điều kiện về năng lực tài chính và các điều kiện cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện Dự án sân gôn theo quy định của pháp luật về đất đai; ký quỹ bảo đảm thực hiện dự án (đối với trường hợp phải ký quỹ) theo quy định của pháp luật về đầu tư.

2- Có giải pháp, kế hoạch và cam kết hỗ trợ tái định cư, đào tạo, sử dụng lao động phù hợp cho người đang sử dụng khu đất dự kiến thực hiện Dự án sân gôn và người lao động tại địa phương.

3- Tự bảo đảm các yêu cầu, điều kiện cần thiết về kết cấu hạ tầng giao thông, điện, nước; xử lý nước thải và bảo vệ môi trường.

Việc cung cấp dịch vụ chơi gôn, kinh doanh hoạt động tập luyện, thi đấu gôn và các dịch vụ có liên quan phải đáp ứng các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn tài chính và nhân lực theo quy định của pháp luật về thể dục, thể thao.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 15/6/2020.

* Những hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động đầu tư xây dựng và kinh doanh sân gôn: Xây dựng và kinh doanh sân gôn khi chưa đáp ứng điều kiện, thủ tục quy định tại Nghị định này và pháp luật có liên quan; lợi dụng kinh doanh sân gôn để tổ chức hoạt động cá cược, đánh bạc, gá bạc trái phép; cản trở hoặc không chấp hành công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; không cung cấp thông tin hoặc không báo cáo khi cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền yêu cầu theo quy định của pháp luật.

Xem xét kiến nghị của Bamboo Airways về giới hạn số lượng tàu bay

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng vừa có ý kiến về việc tháo gỡ bất cập liên quan đến giới hạn số lượng tàu bay của Công ty cổ phần hàng không Tre Việt (Bamboo Airways).

Xét báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc tháo gỡ bất cập liên quan đến giới hạn số lượng tàu bay của Bamboo Airways, Phó Thủ tướng giao Bộ Giao thông vận tải, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện chức năng quản lý nhà nước, phối hợp chặt chẽ trong công tác quản lý hoạt động của các hãng hàng không Việt Nam, xem xét các kiến nghị của Bamboo Airways theo đúng quy định của pháp luật, báo cáo Thủ tướng Chính phủ những vấn đề vượt thẩm quyền.

Trước đó, Cục Hàng không Việt Nam đã có văn bản gửi Bộ Giao thông vận tải liên quan đến việc tháo gỡ bất cập giới hạn về số lượng máy bay của Bamboo Airways.

Theo các quy định của pháp luật về ngành hàng không (Luật Hàng không dân dụng, Nghị định 92/2016/NĐ-CP, Nghị định 89/2019/NĐ-CP và Nghị định 30/2013/NĐ-CP) đều không hạn chế về số lượng máy bay của các hãng hàng không. Các hãng hàng không có thể phát triển đội máy bay theo mục đích kinh doanh, nhu cầu của thị trường, miễn là đáp ứng được các điều kiện về quy hoạch ngành và mức vốn tối thiểu.

Cục Hàng không Việt Nam nêu rõ trong văn bản “về mặt pháp luật hàng không, Công ty Tre Việt có thể phát triển đội máy bay với quy mô trên 30 chiếc, và số lượng cụ thể sẽ được xem xét trên cơ sở đảm bảo an toàn, an ninh và phù hợp với hạ tầng hàng không”.

Cục Hàng không cho rằng, việc quy định rõ số lượng, chủng loại tàu bay có thể gây khó khăn cho hãng hàng không trong hoạt động sản xuất kinh doanh khi không cho phép hãng hàng không linh hoạt trong việc xây dựng định hướng kinh doanh dài hạn và vị thế đàm phán các hợp đồng mua, thuê tàu bay. Đồng thời, hãng hàng không sẽ phải trải qua thủ tục xin phê duyệt, điều chỉnh chủ trương đầu tư theo hệ thống Luật Đầu tư khi muốn mở rộng quy mô đội tàu bay, hãng hàng không.

Sau hơn một năm kể từ thời điểm thực hiện chuyến bay thương mại đầu tiên đến nay, Bamboo Airways đang khai thác 41 đường bay nội địa và quốc tế và đang nhanh chóng mở rộng mạng bay./.