(Chinhphu.vn) - Thông cáo báo chí của VPCP về thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Thủ tướng chỉ thị thúc đẩy phát triển vận tải thủy nội địa

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Chỉ thị số 37/CT-TTg về thúc đẩy phát triển vận tải thủy nội địa và vận tải ven biển bằng phương tiện thủy nội địa.

Để tiếp tục phát huy thế mạnh vận tải đường thủy nội địa và vận tải ven biển bằng phương tiện thủy nội địa, sớm khắc phục ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, đảm bảo đạt được các mục tiêu của vận tải đường thủy nội địa đã đặt ra trong thời gian tới, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các tổ chức, doanh nghiệp liên quan tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ và giải pháp.

7 nhóm nhiệm vụ chính

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành và địa phương, theo chức năng và nhiệm vụ được giao có kế hoạch cụ thể tổ chức triển khai thực hiện 7 nhóm nhiệm vụ chính sau đây:

1- Tiếp tục tập trung triển khai Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 04/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, đảm bảo an sinh xã hội, ứng phó với dịch COVID-19 đối với lĩnh vực vận tải đường thủy nội địa và vận tải ven biển bằng phương tiện thủy nội địa.

2- Nghiên cứu, rà soát, đề xuất hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách theo hướng tạo điều kiện và hỗ trợ hơn nữa đối với vận tải thủy nội địa; tiếp tục thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 theo Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ nhằm đẩy mạnh cải cách, đơn giản thủ tục hành chính đảm bảo hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước trong lĩnh vực vận tải thủy nội địa.

3- Tập trung nâng cao chất lượng công tác lập và tổ chức thực hiện các quy hoạch ngành quốc gia, vùng, tỉnh và các quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành có liên quan đến vận tải thủy nội địa, trong đó lưu ý tăng cường kết nối đường thủy nội địa với các phương thức vận tải khác, phát triển hợp lý các phương thức vận tải, dịch vụ hỗ trợ vận tải, vận tải đa phương thức, nâng cao chất lượng dịch vụ logistics.

4.-Quản lý và sử dụng hiệu quả vốn trong đầu tư xây dựng, bảo trì kết cấu hạ tầng đường thủy nội địa; khuyến khích, thu hút các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước để đầu tư xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, đặc biệt ưu tiên các dự án giao thông kết nối với các cảng, bến thủy nội địa quy mô lớn tại các vùng kinh tế trọng điểm.

5- Thu hút đầu tư phát triển cơ sở đóng mới, hoán cải, sửa chữa phương tiện thủy nội địa nhằm phát triển đội tàu vận tải với chất lượng ngày càng cao, cơ cấu hợp lý, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và tiết kiệm năng lượng.

6- Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý, khai thác vận tải thủy nội địa và vận tải ven biển; nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa và vận tải ven biển bằng phương tiện thủy nội địa.

7- Tiếp tục quan tâm hỗ trợ phát triển doanh nghiệp kinh doanh vận tải thủy nội địa, vận tải ven biển bằng phương tiện thủy nội địa, song song với việc tổ chức, triển khai hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm đối với công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa, vừa đảm bảo hiệu lực, hiệu quả việc tuân thủ quy định pháp luật của các chủ thể liên quan đến vận tải thủy nội địa, vừa đảm bảo không ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp...

Tăng cường kết nối, phát triển hợp lý các phương thức vận tải

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Giao thông vận tải hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách; đẩy mạnh cải cách hành chính; cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh vận tải thủy nội địa và vận tải ven biển bằng phương tiện thủy nội địa,

Bên cạnh đó, tập trung chỉ đạo rà soát, cập nhật, điều chỉnh, bổ sung, nâng cao chất lượng công tác lập, tổ chức thực hiện các quy hoạch lĩnh vực giao thông vận tải đảm bảo tính đồng bộ kết nối của hạ tầng giao thông và dịch vụ vận tải với mục tiêu phát triển vận tải thủy nội địa và vận tải ven biển bằng phương tiện thủy nội địa; phù hợp với chiến lược, quy hoạch quốc gia, các quy hoạch vùng, tỉnh, quy hoạch có tính chất kỹ thuật chuyên ngành liên quan nhằm gắn kết tốt với trung tâm logistics, cảng cạn.

Đồng thời, tăng cường kết nối, phát triển hợp lý các phương thức vận tải, phát huy tối đa vận tải đa phương thức và dịch vụ logistics. Cụ thể, kêu gọi đầu tư phát triển các cảng thủy nội địa khai thác hàng công-ten-nơ có chức năng đầu mối tại khu vực phía Bắc và đồng bằng sông Cửu Long với cơ sở vật chất, trang thiết bị bốc xếp đồng bộ, hiện đại nhằm gia tăng nhanh thị phần vận tải công-ten-nơ bằng đường thủy nội địa.

Ưu tiên kết nối đường thủy nội địa với cảng biển trên cơ sở đầu tư xây dựng bến thủy nội địa, bến phao neo trong vùng nước cảng biển (Hải Phòng, Nghi Sơn; Bà Rịa - Vũng Tàu; Thành phố Hồ Chí Minh …) nhằm khai thác hiệu quả hạ tầng cảng biển tại khu vực, giảm thiểu tình trạng phương tiện thủy nội địa phải chờ làm hàng, bốc xếp hàng hóa do thiếu cảng, bến; từ đó tạo điều kiện kết nối tốt các cảng biển với các khu vực hậu phương, vùng sản xuất hàng hóa tập trung trong nội địa bằng đường thủy nội địa.

Đẩy mạnh phát triển hệ thống cảng cạn theo quy hoạch được duyệt, trong đó ưu tiên đầu tư các cảng cạn kết nối với đường thủy nội địa ở khu vực phía nam, các cảng cạn kết nối với đường thủy nội địa, đường sắt ở khu vực phía bắc làm đầu mối kết nối các phương thức vận tải kết hợp cung cấp các dịch vụ logistics; tăng cường kết nối các phương thức vận tải, giảm chi phí, nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải.

Khuyến khích các doanh nghiệp vận tải và chủ hàng sử dụng sàn giao dịch vận tải để tối ưu hóa vận tải hai chiều hàng hóa thông thường và hàng container tiếp tục tăng cường hoạt động của tuyến vận tải ven biển bằng phương tiện thủy nội địa; phối hợp với các bộ, ngành, địa phương liên quan để thực hiện thủ tục thay đổi thời gian làm việc tại cửa khẩu đường thủy Vĩnh Xương - An Giang và Thường Phước - Đồng Tháp đến 22h00 hằng ngày, tiến tới thực hiện thủ tục 24/24 nhằm tạo điều kiện thuận lợi phát triển vận tải thủy qua biên giới Việt Nam - Campuchia.

Nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn đầu tư 

Giải pháp trọng tâm khác là Bộ Giao thông vận tải nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn đầu tư trong xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông vận tải thủy nội địa. Cụ thể, xây dựng kế hoạch trung hạn và hằng năm để đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đường thủy nội địa đảm bảo phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước và của từng địa phương theo từng giai đoạn cân đối, bố trí các nguồn vốn đầu tư, nguồn vốn ngân sách, vốn ODA cho các dự án nhằm tăng cường khả năng kết nối giữa các phương thức vận tải, ưu tiên tập trung đầu tư xây dựng, nâng cấp các công trình tại các nút thắt hạ tầng có tính quan trọng, cấp bách. Đẩy mạnh đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) đối với các dự án phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường thủy.

Sớm triển khai nâng cấp các tuyến vận tải thủy huyết mạch như: tuyến kênh Chợ Gạo (giai đoạn 2), tuyến Cà Mau - Rạch Giá - Hà Tiên, sông Hàm Luông…; triển khai thực hiện theo Hiệp định đã ký kết đối với Cụm công trình kênh nối Đáy - Ninh Cơ; cân đối đủ vốn đối ứng để triển khai dự án phát triển các hành lang đường thủy và logistics khu vực phía Nam từ nguồn vốn tài trợ của Ngân hàng Thế giới để nâng cao năng lực thông qua, rút ngắn thời gian vận chuyển trên toàn hành lang;

Từng bước giải quyết các nút thắt, điểm nghẽn về tĩnh không các cầu trên các hành lang vận tải thủy chính (Quảng Ninh - Hải Phòng - Hà Nội, Hải Phòng - Ninh Bình, Hồ Chí Minh - Cà Mau, tuyến vận tải thủy kết nối Campuchia), trong đó đặc biệt ưu tiên nâng tĩnh không các cầu: cầu Đuống, cầu Đồng Nai cũ, cầu Bình Triệu, cầu Phước Long, cầu Măng Thít, cầu Nàng Hai, cầu Rạch Ông, cầu An Long…;

Tiếp tục tổ chức khai thác, bảo trì có hiệu quả kết cấu hạ tầng giao thông đường thủy nội địa hiện có; chú trọng hoàn thiện hệ thống phao tiêu báo hiệu, công trình hỗ trợ phục vụ vận tải thủy nội địa.

Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ

Ngoài ra, Bộ Giao thông vận tải đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý, khai thác kinh doanh vận tải thủy nội địa, vận tải ven biển bằng phương tiện thủy nội địa: từ công tác quản lý thực hiện thủ tục vào, rời cảng, bến thủy nội địa; điều hành, khai thác vận tải, quản lý vận tải đa phương thức, dịch vụ logistics; phát triển sàn giao dịch vận tải; xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử quản lý phương tiện, thuyền viên, dữ liệu về chứng chỉ, giấy chứng nhận khả năng chuyên môn, chứng chỉ chuyên môn của thuyền viên…

Tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/1/2020 của Chính phủ. Tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp vận tải thủy nội địa; tối thiểu 01 lần/quý, tổ chức đối thoại, gặp mặt, lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong lĩnh vực giao thông vận tải thủy về những khó khăn, vướng mắc để xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định theo quy định.

Phối hợp với các bộ, ngành có liên quan tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động vận tải thủy nội địa, vận tải ven biển bằng phương tiện thủy nội địa để kiểm soát tải trọng, thuyền viên, người lái phương tiện để đảm bảo an toàn giao thông đường thủy nội địa.

Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao để phát triển vận tải thủy nội địa

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu, rà soát phối hợp với các bộ, ngành có liên quan chỉ  đạo các cơ sở giáo dục đại học triển khai đào tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp, có trình độ cao đáp ứng nhu cầu thực tế để phát triển vận tải thủy nội địa và vận tải ven biển bằng phương tiện thủy nội địa. Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội nghiên cứu, rà soát phối hợp với các bộ, ngành có liên quan chỉ  đạo các cơ sở giáo dục nghề nghiệp triển khai đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề cao đáp ứng nhu cầu thực tế để phát triển vận tải thủy nội địa và vận tải ven biển bằng phương tiện thủy nội địa.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, căn cứ theo đề xuất của Bộ Giao thông vận tải tổng hợp và xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn đối với các dự  án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đường thủy nội địa, trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định theo quy định. Bộ Tài chính nghiên cứu cân đối, bố trí nguồn kinh phí sự nghiệp thực hiện tổng điều tra phương tiện thủy nội địa, doanh nghiệp kinh doanh vận tải thủy nội địa theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước;

Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu, rà soát sửa đổi các văn bản có liên quan theo hướng ưu tiên quỹ đất và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư xây dựng cảng thủy nội địa bốc xếp container tại khu vực phía Bắc và khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghiên cứu, rà soát các quy định để ưu tiên xây dựng công trình xếp, dỡ, vận chuyển hàng hóa của các cảng thủy nội địa ở ngoài đê, không ảnh hưởng đến việc tiêu thoát lũ, an toàn đê điều.

Tạo điều kiện thuận lợi đầu tư xây dựng cảng thủy nội địa theo quy hoạch

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nghiên cứu, rà soát, ưu tiên quỹ đất, quan tâm tạo điều kiện thuận lợi đầu tư xây dựng cảng thủy nội địa theo quy hoạch (đặc biệt sớm triển khai xây dựng các cảng thủy nội địa bốc xếp container tại khu vực Phù Đổng, các cảng thủy nội địa tại Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, khu vực đồng bằng sông Cửu Long); nâng cấp, mở rộng, phát triển cơ sở đóng mới, hoán cải, sửa chữa phương tiện thủy nội địa; quy hoạch bãi đổ chất nạo vét luồng lạch và giải toả khu vực lấn chiếm về hành lang an toàn giao thông đường thuỷ nội địa.

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam, Hiệp hội Chủ hàng Việt Nam, các hiệp hội ngành hàng chủ động tuyên truyền đến doanh nghiệp, hội viên lựa chọn phương thức vận tải hàng hóa bằng đường thủy nội địa để nâng cao thị phần của phương thức này; khuyến khích doanh nghiệp, các hội viên đầu tư phát triển vận tải thủy nội địa và vận tải ven biển bằng phương tiện thủy nội địa, tham gia phát triển kết cấu hạ tầng vận tải thủy nội địa; tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại để nâng cao sức cạnh tranh, nâng cao chất lượng dịch vụ và giảm giá các dịch vụ trong hoạt động vận tải thủy nội địa và vận tải ven biển bằng phương tiện thủy nội địa.

Phạt đến 200 triệu đồng VPHC trong lĩnh vực y tế 

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 117/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) trong lĩnh vực y tế.

Nghị định này quy định về hành vi VPHC, hình thức, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi VPHC, thẩm quyền lập biên bản, thẩm quyền xử phạt VPHC theo từng chức danh đối với hành vi VPHC trong lĩnh vực y tế.

Theo Nghị định, hình thức xử phạt chính là cảnh cáo và phạt tiền. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân có hành vi VPHC có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung: a- Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn từ 1-24 tháng đối với: giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược; giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh; giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn an toàn sinh học cấp III; giấy chứng nhận đủ điều kiện xét nghiệm HIV; giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm; giấy phép kinh doanh rượu, bia; giấy phép hoạt động Ngân hàng mô; chứng chỉ hành nghề dược; chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh; b- Tịch thu tang vật, phương tiện VPHC trong lĩnh vực y tế; c- Đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 1-24 tháng; d- Trục xuất.

Ngoài hình thức xử phạt chính, hình thức xử phạt bổ sung, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức VPHC trong lĩnh vực y tế có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả được quy định tại Luật Xử lý VPHC.

Nghị định quy định, mức phạt tiền tối đa đối với hành vi VPHC về dân số là 30 triệu đồng đối với cá nhân và 60 triệu đồng đối với tổ chức.

Mức phạt tiền tối đa đối với hành vi VPHC về y tế dự phòng và phòng, chống HIV/AIDS là 50 triệu đồng đối với cá nhân và 100 triệu đồng đối với tổ chức.

Mức phạt tiền tối đa đối với hành vi VPHC về bảo hiểm y tế là 75 triệu đồng đối với cá nhân và 150 triệu đồng đối với tổ chức.

Mức phạt tiền tối đa đối với hành vi VPHC về khám bệnh, chữa bệnh, dược, mỹ phẩm và trang thiết bị y tế là 100 triệu đồng đối với cá nhân và 200 triệu đồng đối với tổ chức.

Tập trung đông người tại vùng dịch bị phạt tới 40 triệu đồng

Theo Nghị định, phạt tiền từ 10-20 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Không thực hiện quyết định áp dụng biện pháp tạm đình chỉ hoạt động của cơ sở dịch vụ  ăn uống công cộng có nguy cơ làm lây truyền bệnh dịch tại vùng có dịch; không thực hiện quyết định áp dụng biện pháp cấm kinh doanh, sử dụng loại thực phẩm là trung gian truyền bệnh; không thực hiện quyết định áp dụng biện pháp hạn chế tập trung đông người hoặc tạm đình chỉ hoạt động kinh doanh, dịch vụ tại nơi công cộng.

Bên cạnh đó, phạt tiền từ 20-30 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Không thực hiện quyết định kiểm tra, giám sát, xử lý y tế trước khi ra vào vùng có dịch thuộc nhóm A; đưa ra khỏi vùng có dịch thuộc nhóm A những vật phẩm, động vật, thực vật, thực phẩm và hàng hóa khác có khả năng lây truyền bệnh dịch; không thực hiện quyết định buộc tiêu hủy động vật, thực phẩm, thực vật và các vật khác là trung gian truyền bệnh thuộc nhóm A.

Ngoài ra, phạt tiền từ 30-40 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Không thực hiện yêu cầu kiểm tra và xử lý y tế  đối với phương tiện vận tải trước khi ra khỏi vùng có dịch trong tình trạng khẩn cấp về dịch; không thực hiện quyết định cấm tập trung đông người tại vùng đã được ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch; đưa người, phương tiện không có nhiệm vụ vào ổ dịch tại vùng đã được ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch; không thực hiện quyết định buộc tiêu hủy động vật, thực phẩm, thực vật và các vật khác có nguy cơ làm lây lan bệnh dịch sang người tại vùng đã được ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/11/2020.

Sửa đổi Quy chế tiếp nhận, giải quyết kiến nghị của cử tri do Quốc hội chuyển

Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 30/2020/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế tiếp nhận, giải quyết và trả lời kiến nghị của cử tri do Quốc hội chuyển đến ban hành kèm theo Quyết định số 33/2017/QĐ-TTg ngày 25/7/2017.

Cụ thể, Quyết định số 30/2020/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 12 Quy chế, quy định về thời hạn giải quyết và trả lời kiến nghị của các bộ, cơ quan, địa phương.

Theo quy định mới, trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị của cử tri, cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền có trách nhiệm nghiên cứu, giải quyết và trả lời cử tri; gửi văn bản trả lời cử tri đến Đoàn đại biểu Quốc hội địa phương nơi cử tri kiến nghị và cơ quan, đại biểu Quốc hội đã chuyển kiến nghị của cử tri.

Trước đây, khoản 1 Điều 12 Quy chế quy định đối với những kiến nghị có nội dung liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ, cơ quan ở trung ương thì trong thời hạn 40 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị, các bộ, cơ quan, địa phương phải có trách nhiệm giải quyết, trả lời. Kết quả giải quyết được trả lời, thông báo bằng văn bản đến cử tri và các cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định.

Khoản 2 Điều 12 quy định đối với những kiến nghị thuộc thẩm quyền giải quyết của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và những kiến nghị có nội dung liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương thì trong thời hạn 50 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị, bộ, cơ quan, địa phương được giao chủ trì phải có văn bản thông báo kết quả giải quyết kiến nghị đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định .

Đồng thời, Quyết định số 30/2020/QĐ-TTg cũng bãi bỏ Điều 14 Xây dựng Hệ thống quản lý việc giải quyết kiến nghị của cử tri và sửa đổi Điều 15 Triển khai thực hiện Quy chế thành Điều 14.

Quy định trên có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10/2020.

Tăng cường thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Kế hoạch triển khai, thực hiện Nghị quyết số 121/2020/QH14 ngày 19/6/2020 của Quốc hội về việc tiếp tục tăng cường hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em.

Mục đích của Kế hoạch nhằm cụ thể hóa đầy đủ các nội dung đã được xác định trong Nghị quyết số 121/2020/QH14 ngày 19/6/2020 của Quốc hội khóa XIV về việc tiếp tục tăng cường hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em, làm cơ sở  để các bộ, ngành, địa phương quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết, tạo sự chuyển biến rõ nét trong công tác phòng, chống xâm hại trẻ em.

Kế hoạch đề ra 6 nhiệm vụ, giải pháp gồm: 1- Rà soát, kịp thời sửa đổi, bổ sung, ban hành mới theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành chính sách, pháp luật có liên quan đến trẻ em, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, phù hợp với điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên; 2- Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về bảo vệ trẻ em, kiến thức, kỹ năng phòng, chống xâm hại trẻ em; 3- Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra liên ngành về phòng, chống xâm hại trẻ em; 4- Đẩy mạnh thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến bảo vệ trẻ em, phòng, chống xâm hại trẻ em; 5- Bảo đảm nguồn lực phù hợp cho công tác bảo vệ trẻ em, phòng, chống xâm hại trẻ em; 6- UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện và chỉ đạo UBND các cấp triển khai thực hiện.

Trong đó, về rà soát, kịp thời sửa đổi, bổ sung, ban hành mới theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành chính sách, pháp luật có liên quan đến trẻ em, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, phù hợp với điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 144/2013/NĐ-CP ngày 29/10/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo trợ, cứu trợ xã hội và bảo vệ, chăm sóc trẻ em (hoàn thành trong quý IV/2020).

Đồng thời, ban hành Bộ chỉ tiêu thống kê về tình hình trẻ em và tình hình xâm hại trẻ em, trong đó có các chỉ tiêu thống kê về tình hình xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi xâm hại trẻ em (hoàn thành trong quý II/2021 trên cơ sở quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi).

Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình phòng, chống xâm hại trẻ em trong môi trường giáo dục (hoàn thành trong quý IV/2020).

Về nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra liên ngành về phòng, chống xâm hại trẻ em, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội thanh tra, kiểm tra liên ngành và chuyên đề về phòng, chống xâm hại trẻ em (thực hiện năm 2020 và các năm tiếp theo); chỉ đạo, xử lý nghiêm trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em để xảy ra vụ việc xâm hại trẻ em hoặc vi phạm pháp luật về bảo vệ trẻ em, phòng, chống xâm hại trẻ em mà không có các biện pháp chỉ đạo, xử lý hiệu quả.

Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo, xử lý nghiêm trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở giáo dục để xảy ra vụ việc xâm hại trẻ em hoặc vi phạm pháp luật về bảo vệ trẻ  em, phòng, chống xâm hại trẻ em trong cơ sở giáo dục mà không có các biện pháp chỉ đạo, xử lý hiệu quả (thực hiện năm 2020 và các năm tiếp theo).

Bộ Tư pháp thanh tra, kiểm tra chuyên đề và có biện pháp khắc phục chấm dứt tình trạng nuôi con nuôi trái pháp luật; tăng cường kiểm tra công tác trợ giúp pháp lý cho trẻ em, tập trung vào các vụ việc trợ giúp pháp lý cho trẻ bị xâm hại.

UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện và chỉ đạo UBND các cấp triển khai thực hiện rà soát, kịp thời sửa đổi, bổ sung, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, chỉ  đạo, điều hành, tổ chức triển khai thực hiện các chương trình, đề án, kế hoạch về công tác bảo vệ trẻ em, phòng, chống xâm hại trẻ em được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt giai đoạn 2021-2030 phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương.

Phân công chuẩn bị Phiên họp thứ 49 của UBTVQH

Thủ tướng Chính phủ phân công các bộ liên quan chuẩn bị các nội dung thuộc trách nhiệm để chuẩn bị Phiên họp thứ 49 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (từ ngày 12-14/10/2020).

Theo phân công, Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ chủ trì chuẩn bị: Báo cáo của Chính phủ về kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021; Báo cáo của Chính phủ kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2016 – 2020 và phương hướng kế hoạch 5 năm giai đoạn 2021 – 2025; Báo cáo của Chính phủ kết quả thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế 5 năm giai đoạn 2016 – 2020; Báo cáo của Chính phủ kết quả thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 – 2020 và dự kiến kế hoạch giai đoạn 2021 – 2025; Báo cáo của Chính phủ về kết quả thực hiện Nghị quyết số 100/2015/QH13 phê duyệt chủ trương đầu tư các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016 – 2020.

Bộ Tài chính chủ trì chuẩn bị: Báo cáo của Chính phủ kết quả thực hiện ngân sách nhà nước năm 2020, kế hoạch đầu tư công vốn ngân sách nhà nước năm 2021, dự toán ngân sách nhà nước năm 2021 và phương án phân bổ ngân sách Trung ương năm 2021; Báo cáo của Chính phủ về kết quả thực hiện kế hoạch tài chính quốc gia 5 năm 2016 – 2020 và kế hoạch tài chính 5 năm 2021 – 2025; Tờ trình của Chính phủ về việc điều chỉnh dự toán kinh phí bảo đảm hoạt động năm 2020 của Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan; Tờ trình của Chính phủ về bổ sung dự toán ngân sách nhà nước năm 2020 vốn viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Ailen cho các xã đặc biệt khó khăn thuộc Chương trình 135; Tờ trình của Chính phủ về việc giải thích nội dung điểm a khoản 3 Điều 5 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13.

Bộ Tài nguyên và Môi trường khẩn trương hoàn thiện các thủ tục, hồ sơ trình Quốc hội về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về giải quyết vướng mắc liên quan đến đất quốc phòng, đất an ninh và thí điểm tích tụ, tập trung đất đai; phối hợp chuẩn bị Báo cáo giải trình, tiếp thu chỉnh lý dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi).

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẩn trương hoàn thiện các thủ tục, hồ sơ trình Quốc hội về Báo cáo tình hình thực hiện Dự án hồ chứa nước sông Than, tỉnh Ninh Thuận và xin chủ trương chuyển đổi mục đích sử dụng rừng phòng hộ sang mục đích khác để thực hiện Dự án.

Bộ Y tế chủ trì chuẩn bị Báo cáo của Chính phủ về quản lý và sử dụng Quỹ bảo hiểm y tế năm 2019.

Bộ Công Thương chủ trì chuẩn bị Báo cáo của Chính phủ về việc thực hiện giám sát chuyên đề “Việc thực hiện các Hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam là thành viên”.

Phân công chuẩn bị Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV

Để chuẩn bị cho Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV (dự kiến khai mạc ngày 20/10/2020, bế mạc ngày 17/11/2020), Thủ tướng Chính phủ giao Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ theo chức năng, nhiệm vụ được giao chuẩn bị một số báo cáo, tờ trình, dự án Luật.

Trong đó, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ khẩn trương hoàn thiện các Báo cáo của Chính phủ theo ngành, lĩnh vực của Bộ, cơ quan về kết quả thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về giám sát chuyên đề và chất vấn trong nhiệm kỳ khóa XIV và một số Nghị quyết trong nhiệm kỳ khóa XIII.

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì chuẩn bị các nội dung: Báo cáo về kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021; Báo cáo về kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm giai đoạn 2016 - 2020 và phương hướng kế hoạch 05 năm giai đoạn 2021 -2025; Báo cáo về kết quả thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế 05 năm giai đoạn 2016 - 2020; Báo cáo về kết quả thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020 (trong đó có nội dung báo cáo kết quả phân bổ dự phòng chung vốn ngân sách Trung ương trong nước còn lại của kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 và dự phòng 10% còn lại tại các Bộ ngành, địa phương theo quy định tại điểm a, khoản 9 Điều 1 Nghị quyết số 84/2019/QH14); Báo cáo về kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 - 2025; Báo cáo về  đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư công năm 2020 và dự kiến kế hoạch đầu tư công năm 2021; Báo cáo về kết quả thực hiện Nghị quyết số 100/2015/QH13 phê duyệt chủ trương đầu tư các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016 - 2020; Báo cáo về tình hình thực hiện Dự án hồ nước chứa Ka Pét, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.

Bộ trưởng Bộ Tài chính chủ trì chuẩn bị các nội dung: Báo cáo về đánh giá tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2020, dự toán ngân sách nhà nước năm 2021và phân bổ ngân sách Trung ương năm 2021; Báo cáo về kết quả thực hiện kế hoạch tài chính quốc gia 5 năm giai đoạn 2016 - 2020; Báo cáo về kế hoạch tài chính quốc gia 5 năm giai đoạn 2021 - 2025; Báo cáo về kế hoạch tài chính-ngân sách nhà nước 3 năm giai đoạn 2021-2023 (theo Khoản 1 Điều 47 của Luật Ngân sách nhà nước); Báo cáo về tình hình nợ công năm 2020 và dự kiến năm 2021; Báo cáo về hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong phạm vi toàn quốc năm 2020; Báo cáo về tình hình thực hiện kế hoạch tài chính năm 2020, dự kiến kế hoạch tài chính năm 2021 của các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách do Trung ương quản lý theo Khoản 1 Điều 47 Luật Ngân sách nhà nước; Báo cáo về sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết số 54/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì chuẩn bị Báo cáo về tình hình quốc phòng năm 2020; tờ trình dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hợp quốc (theo quy trình tại một kỳ họp); phối hợp chuẩn bị Báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Biên phòng Việt Nam.

Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì chuẩn bị các nội dung: Dự án Luật Phòng, chống ma túy (sửa đổi); Dự án Luật Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ; Dự án Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở; Báo cáo về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật năm 2020; Báo cáo về tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội năm 2020; Báo cáo về công tác quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2020; phối hợp chuẩn bị Báo cáo giải trình, tiếp thu chỉnh lý dự thảo Luật Cư trú (sửa đổi).

Bộ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì chuẩn bị: Báo cáo về công tác thi hành án năm 2020; Báo cáo về hoạt động tương trợ tư pháp; Báo cáo về kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật theo chuyên đề, lĩnh vực; Báo cáo về tình hình thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội (trong đó có nội dung thuộc trách nhiệm của Chính phủ tại Nghị quyết số 67/2013/QH13 về tăng cường công tác triển khai thi hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành); phối hợp chuẩn bị Báo cáo giải trình, tiếp thu chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì chuẩn bị Báo cáo về hoạt động giáo dục và việc thực hiện ngân sách giáo dục; Báo cáo về việc thực hiện Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông và Nghị quyết số 51/2017/QH14 ngày 21/11/2017 điều chỉnh lộ trình thực hiện chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới theo Nghị quyết số 88/2014/QH13 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông (nội dung này được thể hiện trong Báo cáo của Chính phủ về thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020).

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ chủ trì chuẩn bị Báo cáo về kết quả thực hiện kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2020; dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2021 (do Thủ tướng Chính phủ trình bày tại Phiên khai mạc); Báo cáo tổng hợp về việc thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về giám sát chuyên đề, chất vấn trong nhiệm kỳ khóa XIV và một số Nghị quyết trong nhiệm kỳ khóa XIII (do Lãnh đạo Chính phủ trình bày tại Phiên chất vấn và trả lời chất vấn tại Hội trường).

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ: Tài nguyên và Môi trường; Nông nghiệp và Phát triển nông thôn theo chức năng nhiệm vụ được giao khẩn trương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan hoàn thiện các hồ sơ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét để kịp báo cáo Quốc hội tại kỳ họp thứ 10 đối với các nội dung sau: Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về giải quyết vướng mắc liên quan đến đất quốc phòng, đất an ninh và thí điểm tích tụ, tập trung đất đai; Báo cáo về tình hình thực hiện Dự  án hồ chứa nước sông Than, tỉnh Ninh Thuận và xin chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng phòng hộ sang mục đích khác để thực hiện Dự án./.