(Chinhphu.vn) - Thông cáo báo chí của VPCP về chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 6/6.
Mức đóng Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động

Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp bắt buộc đã được Chính phủ ban hành, trong đó quy định mức đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp của người sử dụng lao động.

Cụ thể, người sử dụng lao động hằng tháng đóng mức 1% trên quỹ tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của người lao động là cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu; người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên và người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 1 tháng đến dưới 3 tháng. Không bao gồm người lao động là người giúp việc gia đình.

Trường hợp người sử dụng lao động là doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp trả lương theo sản phẩm hoặc khoán được thực hiện hằng tháng, 3 tháng hoặc 6 tháng một lần.

Người sử dụng lao động hằng tháng đóng mức 1% trên mức lương cơ sở đối với mỗi người lao động là hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn;  học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí.

Từ ngày 01/1/2018 trở đi, Chính phủ quyết định mức đóng thấp hơn mức đóng quy định nêu trên.

Giám định cho người lao động phát hiện bị bệnh nghề nghiệp khi đã nghỉ hưu

Nghị định cũng quy định chế  độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đối với người lao động giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động quy định tại Khoản 2 Điều 43 Luật An toàn, vệ sinh lao động. Cụ thể, được hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng hoặc một lần được tính trên cơ sở tổng các mức tiền lương làm căn cứ đóng vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp của tất cả các hợp đồng lao động tại thời điểm xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, nhưng không quá mức tối đa theo quy định của pháp luật bảo hiểm xã hội.

Chế độ hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp; khám bệnh, chữa bệnh nghề nghiệp; huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động và phục hồi chức năng lao động quy định tại Nghị định này và các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội. 

Về giám định cho người lao động phát hiện bị bệnh nghề nghiệp khi đã nghỉ hưu hoặc không còn làm việc trong các nghề, công việc có nguy cơ bị bệnh nghề nghiệp, người lao động đã nghỉ hưu hoặc không còn làm việc trong các nghề, công việc có nguy cơ bị bệnh nghề nghiệp mà phát hiện bị bệnh nghề nghiệp do yếu tố tác hại của nghề cũ gây nên trong khoảng thời gian bảo đảm kể từ ngày nghỉ hưu, chuyển việc khác hoặc thôi việc thì được chủ động đi khám phát hiện và giám định mức suy giảm khả năng lao động do mắc bệnh nghề nghiệp.

Người bị bệnh nghề nghiệp nêu trên được Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hỗ trợ kinh phí khám bệnh, chữa bệnh nghề nghiệp theo quy định.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ 1/7/2016.
 
Thủ tướng chỉ thị tăng cường nhiệm vụ tài chính-NSNN năm 2016

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vừa ký ban hành chỉ thị về việc tăng cường chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính - ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2016.

Nhằm chủ động ứng phó với việc giảm thu và nhu cầu chi NSNN phát sinh, nhất là do tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu, đảm bảo điều hành nhiệm vụ thu, chi và giữ vững cân đối NSNN năm 2016 theo dự toán đã được Quốc hội phê duyệt, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương (các bộ, cơ quan), Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo chức năng, nhiệm vụ được giao, tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội, Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 7/01/2016, Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ và các Nghị quyết phiên họp thường kỳ của Chính phủ, các văn bản chỉ đạo, điều hành của Thủ tướng Chính phủ; đồng thời tập trung chỉ đao thực hiện có hiệu quả một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu về tài chính - NSNN.

Điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tập trung cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế; thúc đẩy xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu; khắc phục khó khăn trong hoạt động sản xuất nông nghiệp; phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế 6,7%, góp phần phát triển nguồn thu NSNN ổn định, vững chắc.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiếp tục triển khai đồng bộ, có hiệu quả quy định của các luật liên quan đến đầu tư kinh doanh, nhất là Luật Đầu tư năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2014; đẩy mạnh triển khai các nhóm giải pháp, chương trình hành động phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; hoạt động của Quỹ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; đẩy mạnh triển khai Luật Hợp tác xã.

Đồng thời hướng dẫn, tổng hợp và xử lý các khó khăn, vướng mắc trong việc triển khai thực hiện Nghị định số 16/2016/NĐ-CP ngày 16/3/2016 của Chính phủ về quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn vay ưu đãi nước ngoài. Trường hợp các bộ, cơ quan và địa phương triển khai thực hiện Nghị định này thực sự có các khó khăn, vướng mắc về quy trình, thủ tục cần phải điều chỉnh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp, đánh giá và báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình Chính phủ xem xét, sửa đổi.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì  điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt; phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khoá và các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra, ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Điều hành lãi suất, tỉ giá phù hợp với diễn biến thị trường; duy trì mức tăng trưởng tín dụng hợp lý, gắn với triển khai các biện pháp xử lý nợ xấu và kiểm soát, nâng cao chất lượng tín dụng; tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp; tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu tiếp cận nguồn tín dụng ngoại tệ; chú trọng xử lý nợ xấu thực chất qua Công ty Quản lý tài sản (VAMC).

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đặc biệt trong lĩnh vực thuế, hải quan. Phấn đấu đạt mức ASEAN-4 về cải cách hành chính đối với  3 nhóm chỉ tiêu mới là: Kiểm tra trước hoàn thuế; thực hiện quản lý rủi ro trong thanh tra, kiểm tra thuế; thời gian và kết quả xử lý những khiếu nại về thuế. Tăng cường công tác tuyên truyền, đối thoại, hỗ trợ và tư vấn pháp luật về thuế cho doanh nghiệp và người dân; thực hiện nhất quán chủ trương quản lý giá theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đối với các mặt hàng quan trọng, thiết yếu (điện, khí, than bán cho sản xuất điện, xăng dầu, sữa, dịch vụ công,...) phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2016. Tăng cường kiểm tra, thanh tra, kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giá. Công khai thông tin về giá, điều hành giá để tạo sự đồng thuận trong xã hội.

Bộ Công Thương tăng cường các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu đảm bảo tăng trưởng xuất khẩu bền vững; khai thác tốt những thị trường hiện có; tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng các thị trường tiềm năng; chỉ đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam rà soát các hoạt động sản xuất - kinh doanh, thực hành tiết kiệm, bám sát diễn biến giá dầu thô để có giải pháp kịp thời, xây dựng phương án khai thác dầu thô phù hợp với điều kiện giá thành của từng mỏ/giếng dầu, đảm bảo hiệu quả kinh tế bền vững.

Các bộ, cơ quan và địa phương triển khai thực hiện có hiệu quả các giải pháp về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước, kiểm tra tiêu chuẩn chất lượng, kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm... của hàng hóa nhập khẩu; đồng thời rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Thực hiện tốt các luật thuế và nhiệm vụ thu NSNN

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Tài chính, các bộ, cơ quan và địa phương tổ chức thực hiện tốt các luật thuế và nhiệm vụ thu NSNN; phấn đấu hoàn thành vượt mức nhiệm vụ thu NSNN năm 2016 Quốc hội đã quyết định.

Bộ Tài chính theo dõi chặt chẽ diễn biến tình hình kinh tế và giá dầu thô; phân tích đánh giá tác động và xây dựng các phương án, giải pháp đảm bảo cân đối NSNN; không điều chỉnh chính sách làm giảm thu NSNN. Đánh giá tác động của các hiệp định thương mại tự do (FTAs) đến thu NSNN để có giải pháp chủ động trong điều hành.

Đồng thời chỉ đạo cơ quan Thuế, Hải quan tăng cường quản lý thu, chống thất thu, chống buôn lậu, gian lận thương mại và trốn thuế; tập trung xử lý, thu hồi nợ đọng thuế, phấn đấu số nợ thuế đến ngày 31 tháng 12 năm 2016 không quá 5% so với số thực thu NSNN năm 2016; đôn đốc thu kịp thời các khoản phải thu theo kiến nghị của cơ quan kiểm toán, kết luận của cơ quan thanh tra và các cơ quan bảo vệ pháp luật; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra thuế, thanh tra chuyên đề về chuyển giá, hoạt động giao dịch liên kết, thương mại điện tử và các lĩnh vực ngân hàng, kinh doanh bất động sản, kinh doanh dược phẩm; kiểm tra chặt chẽ giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) của những hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng được hưởng thuế suất ưu đãi theo các FTAs; tăng cường kiểm tra sau thông quan; giám sát đối với hàng tạm nhập tái xuất, chuyển cửa khẩu, hàng hoá ra, vào các khu chế xuất, kho ngoại quan.

Bên cạnh đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công và huy động nguồn lực từ tài sản công cho mục tiêu phát triển; đề xuất các giải pháp đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn, đấu giá công khai tài sản nhà nước; quản lý thu đầy đủ, kịp thời vào NSNN cổ tức được chia cho phần vốn nhà nước tại các công ty cổ phần có vốn góp của nhà nước do bộ, cơ quan, địa phương đại diện chủ sở hữu; quản lý chặt chẽ việc hoàn thuế, bảo đảm đúng đối tượng, chính sách pháp luật thuế của Nhà nước.

Các địa phương chủ động đề ra các giải pháp, chỉ đạo quyết liệt, liên tục, phấn đấu hoàn thành vượt mức dự toán thu NSNN từ hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2016 được giao trên địa bàn và tăng tối thiểu 14-16% so với số thực hiện thu năm 2015.

Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ thực hiện nộp đầy đủ, kịp thời vào NSNN lợi nhuận còn lại sau khi trích lập các quỹ theo quy định của pháp luật, không được giữ lại để bổ sung vốn điều lệ.

Quản lý chi NSNN chặt chẽ, tiết kiệm

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tổ chức điều hành, quản lý chi NSNN chặt chẽ, tiết kiệm, đúng quy định, chống lãng phí; nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN.

Bộ Tài chính chỉ đạo cơ quan tài chính và cơ quan Kho bạc Nhà nước các cấp tăng cường công tác quản lý, kiểm soát chi; kiên quyết từ chối không thanh toán, thu hồi để bổ sung dự phòng ngân sách trung ương và ngân sách địa phương đối với kinh phí thường xuyên đã giao trong dự toán đầu năm của các bộ, cơ quan và địa phương nhưng đến ngày 30 tháng 6 năm 2016 chưa phân bổ, hoặc đã phân bổ nhưng chưa triển khai thực hiện, chưa phê duyệt dự toán, chưa tổ chức đấu thầu, trừ các khoản được phép thực hiện theo quy định của pháp luật và trường hợp được Thủ tướng Chính phủ cho phép thực hiện.

Cân đối nguồn thực hiện điều chỉnh mức lương. Đối với các địa phương nghèo, ngân sách khó khăn, sau khi thực hiện cơ chế tạo nguồn tiền lương theo quy định mà vẫn thiếu nguồn, ngân sách trung ương hỗ trợ kinh phí thực hiện tiền lương tăng thêm năm 2016; quản lý chặt chẽ việc ứng trước và chuyển nguồn chi thường xuyên. Chỉ cho phép chuyển nguồn chi thường xuyên đối với một số khoản chi còn nhiệm vụ và thật sự cần thiết theo đúng quy định của pháp luật.

Các bộ, cơ quan và địa phương quản lý chi ngân sách chặt chẽ trong phạm vi dự toán được giao Tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thi công và giải ngân vốn đầu tư phát triển; thực hiện nghiêm quy định của Luật Đầu tư công và các văn hướng dẫn quy định về quản lý vốn đầu tư, xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản từ nguồn NSNN và vốn trái phiếu Chính phủ. Rà soát, sắp xếp các nhiệm vụ chi; cắt giảm tối đa các khoản chi chưa thực sự cần thiết, cấp bách.

Đảm bảo cân đối ngân sách các cấp

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu điều hành ngân sách chủ  động, tích cực, đảm bảo cân đối ngân sách các cấp, giữ bội chi NSNN trong phạm vi Quốc hội quyết định. Tổ chức điều hành chi NSNN theo nguyên tắc điều hành ngân sách chặt chẽ, triệt để tiết kiệm chi thường xuyên, thực hiện công khai minh bạch hơn tình hình sử dụng ngân sách ở các cấp ngân sách, các đơn vị thụ hưởng ngân sách; triển khai cuộc vận động thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong các cơ quan nhà nước và toàn xã hội.

Quản lý chặt chẽ, trước mắt điều hành sử dụng trong phạm vi 50% nguồn dự phòng ngân sách trung ương đã bố trí trong dự toán để xử lý các nhiệm vụ cấp bách phát sinh như: phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, quốc phòng, an ninh...; tạm giữ lại 50% nguồn dự phòng ngân sách trung ương để chủ động xử lý khi nguồn thu ngân sách trung ương giảm lớn.

Các địa phương chủ động sử dụng dự phòng ngân sách địa phương để chi phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn, dịch bệnh... và các nhiệm vụ chi quan trọng, cấp bách, đột xuất phát sinh theo quy định. Trường hợp dự kiến thu ngân sách địa phương (không kể thu tiền sử dụng đất) giảm so với dự toán, các địa phương trước mắt tạm giữ lại 50% nguồn dự phòng ngân sách để chủ động xử lý khi nguồn thu ngân sách địa phương giảm lớn.

Trong quá trình thực hiện, nếu xảy ra thiếu hụt tạm thời quỹ ngân sách các cấp, phải chủ động giãn tiến độ hoặc tạm dừng thực hiện một số khoản chi chưa thực sự cấp thiết trong dự toán được giao (như: mua sắm ô tô công, tài sản có giá trị lớn chưa thực sự cần thiết,....); đảm bảo các nhiệm vụ chi quan trọng, đặc biệt là chế độ, chính sách cho con người; trường hợp khó khăn phải kịp thời báo cáo cấp trên để xem xét xử lý. Ngân sách trung ương chỉ xem xét hỗ trợ hoặc tạm ứng kinh phí cho địa phương trong trường hợp thực sự cấp bách, vượt quá khả năng đáp ứng của địa phương và địa phương đã sử dụng hết 50% dự phòng ngân sách của mình cho bù giảm thu.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính đến hết quý III/2016, trên cơ sở diễn biến tình hình kinh tế xã hội - ngân sách nhà nước và dự báo giá dầu thô cả năm, tính toán tác động của việc giá dầu giảm đến ngân sách nhà nước, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định theo thẩm quyền hoặc trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội quyết định phương án đảm bảo cân đối ngân sách trung ương và ngân sách các cấp địa phương, bao gồm cả việc sử dụng nguồn 50% dự phòng ngân sách các cấp tạm giữ lại trong quá trình điều hành NSNN năm 2016 nêu trên phù hợp với quy định của Luật Ngân sách nhà nước và tình hình thực tế.
 
Lãi suất cho vay ưu đãi nhà ở xã hội 4,8%/năm

Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định về lãi suất cho vay ưu đãi nhà ở xã hội tại Ngân hàng Chính sách xã hội theo quy định tại Nghị định 100/2015/NĐ-CP của Chính phủ.

Cụ thể, lãi suất cho vay ưu đãi của Ngân hàng Chính sách xã hội đối với các đối tượng quy định tại Nghị định 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội là 4,8%/năm (0,4%/tháng). Lãi suất nợ quá hạn được tính bằng 130% lãi suất khi cho vay.

Quyết định này có hiệu lực đến hết ngày 31/12/2016, áp dụng cho tất cả các khoản vay còn dư nợ trong năm 2016.

Theo Nghị định 100/2015/NĐ-CP, trong các đối tượng được vay ưu đãi nhà ở xã hội, đối tượng được vay vốn ưu đãi để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà để ở gồm: Người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; người thu nhập thấp, hộ nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị; người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghiệp; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân và quân đội nhân dân; cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức.
 
Xuất cấp hóa chất sát trùng cho tỉnh Bình Thuận

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xuất cấp (không thu tiền) 15.000 lít hóa chất sát trùng Benkocid từ nguồn dự trữ quốc gia cho tỉnh Bình Thuận để phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm.

Thủ tướng Chính phủ giao UBND tỉnh Bình Thuận tiếp nhận và sử dụng số hóa chất được cấp nêu trên hỗ trợ kịp thời, đúng đối tượng theo quy định.

Trước đó, Thủ tướng Chính phủ cũng giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xuất cấp (không thu tiền) từ nguồn dự trữ quốc gia 5.000 lít hóa chất sát trùng Han-Iodine và 5.000 lít hóa chất sát trùng Vetvaco-Iodine cho tỉnh Quảng Trị để phòng, chống dịch bệnh tai xanh và 35 tấn hóa chất Chlorine 65% min cho tỉnh Bến Tre để phòng chống dịch bệnh thủy sản.
 
Tăng cường quản lý chất lượng không khí

Tăng cường công tác quản lý chất lượng không khí thông qua kiểm soát nguồn phát sinh khí thải và giám sát chất lượng không khí xung quanh nhằm cải thiện chất lượng môi trường không khí và bảo đảm sức khỏe cộng đồng.

Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý chất lượng không khí đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Mục tiêu cụ thể là kiểm soát tốt các nguồn khí thải, tập trung vào nguồn khí thải công nghiệp, năng lượng lớn và giao thông, đến năm 2020; tăng cường năng lực quốc gia về kiểm soát khí nhà kính, góp phần thực hiện cam kết quốc gia về giảm phát thải khí nhà kính của Việt Nam.

Tăng cường công tác giám sát chất lượng không khí xung quanh thông qua việc tăng số lượng trạm quan trắc không khí xung quanh tự động liên tục tại các đô thị so với năm 2015 theo đúng quy hoạch mạng lưới quan trắc môi trường quốc gia.

Phòng ngừa, giảm thiểu phát thải khí thải

Nhiệm vụ và giải pháp của Kế hoạch là hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về quản lý chất lượng không khí, trong đó, xây dựng và ban hành Nghị định của Chính phủ quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước, đất và không khí; ban hành quy định pháp luật và hướng dẫn về xây dựng và thực hiện Kế hoạch quản lý chất lượng không khí của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; rà soát, bổ sung, sửa đổi và xây dựng các quy chuẩn kỹ thuật môi trường, tiêu chuẩn quốc gia liên quan đến quản lý chất lượng không khí, các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải, mức phát thải khí nhà kính cho các ngành sản xuất....

Nhiệm vụ và giải pháp tiếp theo là phòng ngừa, giảm thiểu phát thải khí thải. Trong đó, tiếp tục triển khai có hiệu quả Đề án “Phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 177/2007/QĐ-TTg ngày 20 tháng 7 năm 2007, tập trung vào nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến kiến thức về nhiên liệu sinh học và đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật đáp ứng sử dụng nhiên liệu sinh học.

Bên cạnh đó, tập trung kiểm soát bụi trong quá trình thi công, vận chuyển nguyên vật liệu, chất thải tại các công trường xây dựng; đầu tư, thực hiện đổi mới công nghệ, quy trình sản xuất, thiết bị sản xuất tại các cơ sở sản xuất công nghiệp nhằm hạn chế phát sinh khí thải; tiếp tục đầu tư xây dựng, lắp đặt, vận hành các hệ thống thiết bị xử lý khí thải phát sinh từ các cơ sở công nghiệp, đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường không khí.

Tiếp tục triển khai các quy định của Quyết định số 49/2011/QĐ-TTg ngày 01/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ về quy định lộ trình áp dụng tiêu chuẩn khí thải đối với xe ô tô, xe mô tô 2 bánh sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu mới; đề xuất lộ trình thắt chặt mức tiêu chuẩn khí thải đối với xe cơ giới đang lưu hành, xe cơ giới nhập khẩu đã qua sử dụng; xây dựng cơ chế chính sách quản lý phương tiện giao thông cơ giới lắp động cơ điện.

Từng bước thực hiện Đề án “Kiểm soát khí thải xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông tại các tỉnh, thành phố” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 909/QĐ-TTg ngày 17/6/2010, chú trọng vào kiểm soát khí thải xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông tại các tỉnh, thành phố.

Đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra về bảo vệ môi trường không khí

Cùng với nhiệm vụ và giải pháp nêu trên là thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường không khí. Cụ thể, đẩy mạnh thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường không khí tại các công trường xây dựng, cơ sở công nghiệp, năng lượng, y tế và giao thông vận tải.

Tăng cường công tác kiểm định khí thải đối với các phương tiện giao thông đường bộ, đảm bảo các phương tiện tham gia giao thông đáp ứng đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật về bảo vệ môi trường; huy động sự tham gia của cộng đồng đối với việc giám sát khí thải phát sinh từ các cơ sở công nghiệp, năng lượng, giao thông, xây dựng và các nguồn khí thải khác.

Công khai thông tin về chất lượng môi trường không khí xung quanh tại các đô thị đặc biệt, đô thị loại I trên các phương tiện thông tin đại chúng; xây dựng và thực hiện các kế hoạch truyền thông, phổ biến thông tin cho cộng đồng về tác hại của ô nhiễm không khí và lợi ích của việc sử dụng các phương tiện công cộng đối với môi trường không khí.
 
Thành lập Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại, Du lịch Hải Phòng

Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định thành lập Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại, Du lịch thành phố Hải Phòng trên cơ sở tổ chức lại 4 tổ chức, gồm: Trung tâm Xúc tiến đầu tư thuộc Ban Quản lý KKT Hải Phòng; Trung tâm Thông tin, Tư vấn và Xúc tiến đầu tư trực thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư; Trung tâm Xúc tiến du lịch trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Trung tâm Xúc tiến thương mại trực thuộc Sở Công Thương.

Trung tâm đặt trụ sở chính tại số 18, Hoàng Diệu, phường Minh Khai, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại, Du lịch thành phố Hải Phòng trực thuộc UBND thành phố Hải Phòng là đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi phí thường xuyên, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và ngân hàng để hoạt động theo quy định của pháp luật.

Thủ tướng Chính phủ giao Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại, Du lịch thành phố Hải Phòng theo quy định của pháp luật.
 
Làm rõ thông tin móng cột điện không bảo đảm chất lượng

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng yêu cầu Bộ Công Thương làm rõ những thông tin báo phản ánh về thi công móng cột điện thuộc Dự án đường dây 220 kV Trực Ninh - Rẽ Nam Định - Ninh Bình không bảo đảm chất lượng.

Trước đó, trên mạng thông tin điện tử có phản ánh thông tin về thi công móng cột điện thuộc Dự án đường dây 220 kV Trực Ninh - Rẽ Nam Định - Ninh Bình (trên địa bàn xã Đại An, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định) không bảo đảm chất lượng.

Về vấn đề này, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Công Thương làm rõ những thông tin báo nêu trên, báo cáo Thủ tướng Chính phủ; nếu có vi phạm, phải xác định rõ trách nhiệm của các cá nhân và tổ chức liên quan, xử lý nghiêm theo đúng quy định của pháp luật.

Bộ Xây dựng và các Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành tăng cường công tác quản lý chất lượng công trình theo quy định của pháp luật, đặc biệt là quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình bảo đảm an toàn, chất lượng và hiệu quả.
 
Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải đồng bộ

Bộ Giao thông vận tải xây dựng các cơ chế, chính sách còn thiếu, trong đó tập trung xây dựng các cơ chế, chính sách để huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển hạ tầng giao thông, ưu tiên đầu tư theo hình thức PPP, trong đó chú trọng các chính sách huy động vốn từ nước ngoài.

Đây là một trong những nhiệm vụ được nêu tại Thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng về tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác giai đoạn 2011 - 2015 và phương hướng công tác giai đoạn 2016 - 2020 của Bộ Giao thông vận tải.

Phó Thủ tướng giao Bộ Giao thông vận tải tiếp tục rà soát chiến lược, quy hoạch gắn với Đề án tái cơ cấu ngành, hướng tới phát triển hài hòa, kết nối hiệu quả giữa các phương thức vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy..., kết nối các cảng biển, nhà ga, các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, các cửa khẩu, phù hợp với đặc điểm của từng vùng, từng địa phương; tổ chức rà soát, hoàn thiện Quy hoạch tổng thể phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường thủy nội địa, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Đồng thời tăng cường công tác quản lý nhà nước trong đầu tư xây dựng, nâng cao chất lượng dự án từ thiết kế, thi công, giám sát... tránh thất thoát, lãng phí (đối với cả dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước và đầu tư theo hình thức PPP); rà soát, đề xuất danh mục các dự án ưu tiên đầu tư phù hợp với khả năng cân đối nguồn lực.

Bên cạnh đó, cân đối tổng thể nguồn lực để đề ra các giải pháp huy động vốn đầu tư hạ tầng giao thông. Tập trung huy động các nguồn vốn ngân sách nhà nước, ODA, PPP... Nghiên cứu một số tuyến đường sắt tốc độ cao để có lộ trình đầu tư phù hợp. Tăng cường vận tải đường thủy nội địa và các tuyến vận tải thủy ven biển.

Đẩy nhanh tiến độ các dự án đang triển khai, rà soát các vướng mắc về thủ tục, giải phóng mặt bằng... để có biện pháp tháo gỡ kịp thời. Rà soát các dự án đã và đang triển khai đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT, khắc phục các hạn chế trong đầu tư, khai thác, sử dụng (mức phí, trạm thu phí, tổng mức đầu tư, chất lượng công trình...), kịp thời thông tin trước dư luận.

Phát triển vận tải đa phương thức

Về công tác quản lý vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng yêu cầu Bộ Giao thông vận tải tiếp tục triển khai thực hiện tái cơ cấu vận tải toàn ngành, hướng tới phát triển hài hòa, hợp lý các phương thức vận tải, tăng cường kết nối các phương thức nhằm giảm áp lực cho vận tải đường bộ; phát triển vận tải đa phương thức, dịch vụ logistics; đẩy mạnh phát triển vận tải hành khách công cộng.

Đẩy mạnh thực hiện quản lý vận tải và duy trì thực hiện kiểm soát tải trọng phương tiện; nghiên cứu nâng chuẩn thiết kế đường bộ, đường sắt, cảng biển để đáp ứng yêu cầu hội nhập, phù hợp với thông lệ quốc tế, giảm chi phí vận tải và thuận lợi trong vận tải đa phương thức.

Bộ Giao thông vận tải tăng cường quản lý trật tự an toàn giao thông, nghiên cứu các biện pháp phù hợp bảo đảm an toàn giao thông, giảm ùn tắc giao thông. Nâng cao năng lực vận tải hành khách công cộng, đặc biệt ở các đô thị lớn nhằm giảm ùn tắc và tai nạn giao thông. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, nâng cao hiệu quả hoạt động và công tác quản trị doanh nghiệp.

Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế; đất nước ta đã hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới (WTO, TPP...), Bộ Giao thông vận tải cần có biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh, mở cửa thị trường; triển khai thực hiện tốt các cam kết quốc tế.
 
Đầu tư Nhà máy nhiệt điện An Khánh - Bắc Giang

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đồng ý việc giao Công ty cổ phần Nhiệt điện An Khánh - Bắc Giang (thuộc Tập đoàn An Khánh) làm chủ đầu tư Dự án nhà máy nhiệt điện Lục Nam công suất 100 MW trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và điều chỉnh tên gọi là Dự án nhà máy nhiệt điện An Khánh - Bắc Giang.

Phó Thủ tướng giao Bộ Công Thương hướng dẫn UBND tỉnh Bắc Giang và Nhà đầu tư triển khai các bước của Dự án theo quy định.

Đồng thời lập hồ sơ đề xuất điều chỉnh nâng công suất của Dự án trên cơ sở cân đối cung cầu hệ thống điện quốc gia, nguồn cung cấp than, tác động môi trường, công nghệ nhà máy, đấu nối vào hệ thống điện, hiệu quả Dự án v.v…; chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thẩm định, báo cáo Thủ tướng Chính phủ./.