(Chinhphu.vn) -  Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) phản ánh đúng tâm trạng xã hội, tâm nguyện của dân và cũng là niềm tin của nhân dân với Đảng của mình.


Ông Nguyễn Đức Hà, Vụ trưởng, Ban Tổ chức Trung ương. Ảnh: VGP/Phương Liên
Nhân dịp kỷ niệm 85 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2015), Báo điện tử Chính phủ đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Đức Hà, Vụ trưởng, Ban Tổ chức Trung ương, thành viên Tổ giúp việc Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 4.

Những vấn đề mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng nêu ra là những vấn đề cấp bách, bức xúc nhất của công tác xây dựng Đảng hiện nay mà toàn Đảng, toàn dân quan tâm. Sau 3 năm thực hiện Nghị quyết, Đảng với dân đã cùng thể hiện quyết tâm, cùng chia sẻ trách nhiệm trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng như thế nào, thưa ông?

Ông Nguyễn Đức Hà: Nghị quyết Trung ương 4 ra đời đã đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và lòng mong đợi của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đến nay chúng ta đã thực hiện Nghị quyết. Trước khi nói về việc thực hiện Nghị quyết, tôi có thể khẳng định rằng, quan điểm của Đảng ta từ xưa đến nay luôn luôn coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, vấn đề có ý nghĩa quan trọng, liên quan đến sự tồn vong của Đảng.

Thực tiễn cho thấy, tất cả các nước trên thế giới nước nào cũng có Đảng lãnh đạo, nếu không phải Đảng lãnh đạo thì cũng là một tổ chức chính trị tương tự như Đảng lãnh đạo để xây dựng và phát triển đất nước. Vấn đề khác nhau là ở nước đó có 1 đảng hay nhiều đảng và đảng cầm quyền là Đảng cộng sản hay không phải Đảng cộng sản. Thực tiễn của cách mạng thế giới trong mấy thập niên qua đã chứng minh rằng: Đảng cầm quyền nếu không thường xuyên đổi mới, không thường xuyên chỉnh đốn để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh thì vai trò cầm quyền của Đảng sẽ bị lu mờ và tự đánh mất vai trò lãnh đạo của mình. Đó đã trở thành một nguyên tắc. Chính vì vậy, Đảng ta luôn quan tâm đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đặc biệt, trong những năm đổi mới, khi chúng ta bước vào kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế thì nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đốn Đảng càng đặt ra bức thiết hơn và với yêu cầu cao hơn. Chính vì vậy, có thể nói từ Đại hội VI của Đảng đến nay không có nhiệm kỳ nào mà Trung ương Đảng không có nghị quyết về xây dựng Đảng, về đổi mới chỉnh đốn Đảng. Mặc dù chúng ta đã tiến hành nhiều cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, nhiều lần Trung ương đã có nghị quyết, nhưng kết quả đạt được vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu như mong muốn.

Nghị quyết Trung ương 4 lần này không đề cập toàn diện về công tác xây dựng Đảng, chỉ tập trung vào 3 vấn đề cấp bách nhất. Thứ nhất, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thứ hai, xây dựng đội ngũ lãnh đạo cán bộ quản lý các cấp, nhất là cấp Trung ương, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thời kỳ công nghiệp hóa-hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Thứ ba, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị và tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Trung ương đặt ra 3 vấn đề cấp bách đó, đồng thời cũng đề ra 4 nhóm giải pháp đồng bộ để thực hiện nhằm tạo sự chuyển biến cụ thể, thiết thực trong công tác xây dựng Đảng.

Vì vậy, việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 không chỉ là công việc trong nội bộ Đảng, mà còn có sự tham gia tích cực của nhân dân, của cả hệ thống chính trị.

Nghị quyết đánh giá đúng thực trạng, có thể nói là sự dũng cảm và trung thực chính trị của Đảng. Đảng không ngần ngại, không né tránh, tự phê phán, tự chỉ ra những yếu kém, bất cập của mình, nhất là những suy thoái nghiêm trọng, phổ biến đang diễn ra trong Đảng. Và chúng ta đã đạt được những kết quả gì, thưa ông?

Ông Nguyễn Đức Hà: Trong 3 năm thực hiện Nghị quyết cho thấy: Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ đạothực hiện với quyết tâm chính trị cao và có những chủ trương, giải pháp rất cụ thể. Đây là một trong những nghị quyết về xây dựng Đảng được Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ đạo chặt chẽ, cụ thể và rất quyết liệt. Nếu so với yêu cầu và lòng mong đợi của cán bộ, đảng viên và nhân dân thì vẫn thấy có gì đó chưa thật hài lòng và chưa đạt được như mong đợi. Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận là trong 3 năm qua, việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 đã tạo một số chuyển biến tích cực và đạt được một số kết quả bước đầu rất quan trọng.

Thứ nhất, qua học tập, quán triệt Nghị quyết, qua tự phê bình và phê bình, qua lấy ý kiến góp ý của cán bộ, đảng viên thì rõ ràng, nhận thức trong các cấp ủy, tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên được nâng lên về tính cấp thiết phải chỉnh đốn Đảng, thấy rõ yêu cầu đặt ra là nếu không chỉnh đốn Đảng thì sẽ là nguy cơ đối với Đảng. Đây cũng là dịp để mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên nhìn nhận mình, soi xét bản thân mình, nâng cao ý thức trách nhiệm, tự giác trong việc thực hiện Nghị quyết.

Thứ hai, đợt tự phê bình và phê bình của tập thể, cá nhân theo Nghị quyết Trung ương 4 đã trở thành một đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong Đảng, từ Bộ Chính trị, Ban Bí thư đến từng cấp ủy, đảng viên đều tự nhìn nhận, soi xét lại mình, thấy mình có ưu điểm gì để tiếp tục phát huy; thấy mình còn tồn tại, khuyết điểm gì, thấy mình có biểu hiện gì của sự suy thoái để sửa chữa, khắc phục. Đặc biệt, qua đợt tự phê bình và phê bình cuối năm 2012, tất cả các cấp ủy và tổ chức Đảng, cũng như cán bộ, đảng viên đều đề ra kế hoạch tự sửa chữa, khắc phục khuyết điểm và hiện nay vẫn đang tiếp tục thực hiện việc sửa chữa, khắc phục những khuyết điểm đã được kết luận sau tự phê bình và phê bình.

Thứ ba, qua tự phê bình và phê bình, qua đấu tranh và qua cả thanh tra, kiểm tra, giám sát trong Đảng cũng như của Nhà nước, trong 3 năm vừa qua, chúng ta đã xử lý, kỷ luật một bộ phận đảng viên vi phạm. Năm 2012, chúng ta kỷ luật gần 16.000 đảng viên, năm 2013, chúng ta kỷ luật hơn 21.000 đảng viên, năm 2014 chúng ta kỷ luật hơn 17.000 đảng viên. Như vậy, ba năm vừa qua, riêng kỷ luật bằng các hình thức, chúng ta đã xử lý trên 50.000 đảng viên ở tất cả các cấp, từ cấp Trung ương, đến cấp tỉnh, cấp huyện và cơ sở, điều đó chứng minh rằng Nghị quyết Trung ương 4 chỉ ra: Một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên suy  thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống là hoàn toàn chính xác. Mà sự suy thoái này có ở tất cả các cấp.

Như vậy, rõ ràng qua thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, chúng ta đã góp phần đấu tranh ngăn chặn được một bước rất quan trọng về tình trạng suy thoái trong Đảng, góp phần làm cho Đảng trong sạch hơn, vững mạnh hơn.

Thứ năm, sau khi được kiện toàn tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động, Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống tham nhũng đã chỉ đạo rất quyết liệt. Vì vậy, trong thời gian gần đây, nhiều vụ án tham nhũng lớn, phức tạp kéo dài đã được điều tra, khởi tố, truy tố, xét xử công khai và với những bản án hết sức nghiêm khắc, góp phần đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Tuy đạt được một số kết quả nhưng nếu so với yêu cầu đề ra và so với mong đợi của cán bộ, đảng viên thì cũng chưa thật sự đáp ứng như mong muốn. Bên cạnh mặt tích cực, cũng thấy rằng trong Đảng hiện nay, tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn khá nặng nên nhiều khi kiểm điểm nhưng mới nói ưu điểm nhiều, khuyết điểm thì nói ít hoặc không dám nói, hoặc thể hiện ở mức độ nhẹ nhàng… Bên cạnh đó, tính hình thức, bệnh thành tích còn đang khá nặng ở tất cả các cấp, một số cán bộ, đảng viên nhận thức chưa thật sự đầy đủ, sâu sắc về vấn đề này, nên trong tự phê bình và phê bình vẫn còn nể nang, né tránh, hình thức và thậm chí còn ca ngợi lẫn nhau. Những điều này đã làm ảnh hưởng đến kết quả việc thực hiện Nghị quyết.

Thứ tư, trong quá trình thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, chúng ta đã gắn và kết hợp chặt chẽ với cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Do đó, đã tạo nên các phong trào thi đua, nhiều cơ quan, địa phương, đơn vị đã có những hành động tốt, người tốt, việc tốt và đem lại hiệu quả thiết thực. Nhưng cũng không ít nơi vẫn còn hình thức, chỉ nói thôi chứ những hành động cụ thể chưa nhiều. Vì vậy, cần phải khắc phục cho được bệnh thành tích và tính hình thức.

Nhìn lại tổng quát, trong 3 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 chúng ta đã góp phần đấu tranh, ngăn chặn được một bước tình trạng suy thoái trong Đảng và nhân dân nhưng vẫn chưa đáp ứng được lòng mong đợi của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI vừa qua đã khẳng định cần tăng cường công tác tổ chức và cán bộ, có cơ chế, chính sách phát hiện, thu hút, sử dụng nhân tài. Xin ông cho biết Đảng ta đã có những giải pháp cần thiết nào để nâng cao chất lượng cán bộ, đảng viên các cấp?

Ông Nguyễn Đức Hà: Một trong ba vấn đề cấp bách mà Nghị quyết Trung ương 4 đề ra là phải xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp Trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Đây là lần đầu tiên Trung ương đặt ra nhiệm vụ này. Cái gì cũng vậy, lần đầu tiên mới làm thì bao giờ cũng khó cả về lý luận và thực tiễn. Nhưng có thể nói, lần này Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quan tâm và chỉ đạo rất quyết liệt. Nghị quyết Trung ương 4 đặt ra và chỉ trong 1 năm, Ban Tổ chức Trung ương đã xây dựng xong đề án. Hội nghị Trung ương 6 đã thảo luận và thông qua đề án quy hoạch cán bộ cấp chiến lược. Đây cũng là lần đầu tiên Ban chấp hành Trung ương thảo luận dân chủ, chi tiết về vấn đề quy hoạch cán bộ cấp chiến lược, thống nhất mục tiêu, yêu cầu, đối tượng, tiêu chuẩn và tuổi tác của cán bộ cấp chiến lược. Sau đó, Trung ương đã giới thiệu quy hoạch cán bộ cấp Trung ương khóa XII và các khóa tiếp theo. Từ đó, Bộ Chính trị đã quyết định tổ chức các lớp bồi dưỡng dự nguồn cán bộ cao cấp. Đến nay, đã tổ chức được 5 lớp, ra ngoài Tết tổ chức lớp thứ 6. Như vậy sẽ tổ chức 6 lớp bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ dự nguồn, mỗi lớp học trong 4 tháng. Đây là việc rất mới mà Đảng ta đang làm.

Học tập kinh nghiệm của Trung ương, vừa qua các địa phương cũng tổ chức các lớp bồi dưỡng cán bộ dự nguồn của Tỉnh ủy, Thành ủy. Mặt khác, năm nay chúng ta cũng tổ chức những lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới theo chức danh cho các đồng chí Ủy viên Trung ương và các đồng chí Bí thư cấp ủy cấp huyện, giúp cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp nâng thêm kiến thức cũng như kỹ năng lãnh đạo. Ngoài ra, cũng phải thấy rằng: Suốt từ Hội nghị Trung ương 6 đến Hội nghị Trung ương 9, vừa  rồi là Hội nghị Trung ương 10, ở hội nghị nào Trung ương cũng dành những thời gian thỏa đáng cho việc quy hoạch cán bộ cấp chiến lược, chuẩn bị cho Đại hội XII của Đảng. Đó là những việc làm rất rõ, cụ thể, quyết liệt.

Trân trọng cảm ơn ông!

Phương Liên (thực hiện)