(Chinhphu.vn) – Bà Lê Hoa Lan (TP. Hà Nội) là công nhân của Công ty May 40 (cũ), đã đóng BHXH được 18 năm. Khi công ty cổ phần, bà Lan nghỉ việc theo chế độ quy định tại Nghị định số 41/2002/NĐ-CP, nhưng chưa thanh toán BHXH.

Sau đó bà Lan tiếp tục làm việc tại công ty tư nhân khác và đóng tiếp BHXH được 8 năm theo mức lương quy định, tổng thời gian đóng BHXH là 26 năm. Năm nay bà Lan 42 tuổi, sức khỏe yếu. Bà Lan hỏi, bà có được hưởng chế độ nghỉ hưu do suy giảm khả năng lao động (tỷ lệ 61%) không? Nếu được thì đến năm nào bà sẽ được nghỉ hưu và khi nghỉ hưu có được hưởng trợ cấp thất nghiệp không? Chế độ nghỉ hưu sớm được tính như thế nào?

BHXH Việt Nam trả lời bà Lan như sau:

Về chế độ hưu trí, tại Khoản 1, Điều 51 Luật BHXH hiện hành quy định: Người lao động đã đóng BHXH đủ 20 năm trở lên, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, hưởng lương hưu với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng lương hưu quy định của Luật BHXH khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: “Nam đủ năm mươi tuổi, nữ đủ bốn mươi lăm tuổi trở lên”. Đối chiếu quy định nêu trên đến thời điểm hiện tại bà Lan (42 tuổi) chưa đủ điều kiện về tuổi đời để được hưởng lương hưu.

Trường hợp của bà Lan có thể nghỉ hưu căn cứ theo quy định tại Luật BHXH số 58/2014/QH13 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2016 với điều kiện về tuổi đời, mức suy giảm khả năng lao động và mức hưởng như sau: Tại Khoản 1, Điều 55 quy định: Người lao động khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng BHXH bắt buộc trở lên được hưởng lương hưu với mức thấp hơn nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Từ ngày 1/1/2016, nam đủ 51 tuổi, nữ đủ 46 tuổi và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động. Sau đó mỗi năm tăng thêm một tuổi cho đến năm 2020 trở đi, nam đủ 55 tuổi và nữ đủ 50 tuổi thì mới đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên;

- Nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi và bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;

- Bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên và có đủ 15 năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành.

Tại Điều 56 quy định về mức lương hưu hằng tháng như sau: Từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành cho đến trước ngày 1/1/2018, mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 54 của Luật này được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH quy định tại Điều 62 của Luật này tương ứng với 15 năm đóng BHXH, sau đó cứ thêm mỗi năm thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%.

Từ ngày 1/1/2018, mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 54 của Luật này được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH quy định tại Điều 62 của Luật này và tương ứng với số năm đóng BHXH như sau:

- Lao động nam nghỉ hưu vào năm 2018 là 16 năm, năm 2019 là 17 năm, năm 2020 là 18 năm, năm 2021 là 19 năm, từ năm 2022 trở đi là 20 năm;

- Lao động nữ nghỉ hưu từ năm 2018 trở đi là 15 năm.

Sau đó cứ thêm mỗi năm, người lao động quy định tại điểm a và điểm b khoản này được tính thêm 2%; mức tối đa bằng 75%.

Mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 55 của Luật này được tính như quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này, sau đó cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 2%.

Trường hợp tuổi nghỉ hưu có thời gian lẻ đến đủ 6 tháng thì mức giảm là 1%, từ trên 6 tháng thì không giảm tỷ lệ phần trăm do nghỉ hưu trước tuổi.

Mức lương hưu hằng tháng của lao động nữ đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định tại Khoản 3 Điều 54 được tính theo số năm đóng BHXH và mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH như sau: đủ 15 năm đóng BHXH tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH quy định tại Điều 62 của Luật này. Từ đủ 16 năm đến dưới 20 năm đóng BHXH, cứ mỗi năm đóng tính thêm 2%.

Mức lương hưu hằng tháng thấp nhất của người lao động tham gia BHXH bắt buộc đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 54 và Điều 55 của Luật này bằng mức lương cơ sở.

Về quyền lợi về bảo hiểm thất nghiệp, tại Điểm d, Khoản 1, Điều 53 Luật Việc làm quy định: Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp khi được hưởng lương hưu hằng tháng. Như vậy, trường hợp bà Lan không được hưởng bảo hiểm thất nghiệp khi hưởng lương hưu.

 Chinhphu.vn

Từ khóa: Luật Bảo hiểm xã hội , nghỉ hưu , trước tuổi , chế độ , suy giảm , khả năng lao động , thất nghiệp , trợ cấp , tuổi nghỉ hưu