(Chinhphu.vn) – Gia đình bà Nguyễn Minh Ngọc cho hàng xóm vay 400 triệu đồng trong thời hạn 3 năm, có giấy vay tiền và chữ ký của người vay. Tuy nhiên đến nay đã 11 năm, gia đình bà nhiều lần yêu cầu người hàng xóm trả số tiền vay nhưng người hàng xóm cho rằng không vay tiền, chữ ký trong giấy vay tiền là giả mạo.

Bà Ngọc hỏi, nếu kết quả giám định chữ ký trên giấy vay tiền đúng là của người hàng xóm thì người đó có bị xử lý theo tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không? Việc giám định chữ ký tại đâu, thủ tục như thế nào?

Về vấn đề này, Bộ Công an trả lời như sau:

Hợp đồng vay tiền là một trong những hợp đồng dân sự phổ biến hiện nay, tồn tại rất nhiều trong đời sống xã hội cho dù là thành thị hay ở nông thôn.

Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.

Như vậy, đầu tiên cần khẳng định rằng hành vi vay tiền nhưng không trả là hành vi vi phạm pháp luật. Điều này được thể hiện rõ tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau:

“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;

2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý…”.

Khi đến hạn mà người vay không trả tiền, ngoài các trường hợp vi phạm nghĩa vụ dân sự thông thường nêu trên thì có thể liên quan đến trách nhiệm hình sự khi người vay thực hiện một số hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, cụ thể như sau:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 5 năm đến 12 năm.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Trong câu hỏi, bà Nguyễn Minh Ngọc không nêu rõ bà đã có đơn tố giác tội phạm gửi đến Cơ quan điều tra để trình báo vụ việc hay chưa? Do vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, căn cứ các Điều 144, 145 và 146 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bà cần làm đơn tố giác tội phạm gửi đến Cơ quan điều tra cấp huyện nơi bà cư trú kèm theo các đồ vật, tài liệu có liên quan trực tiếp đến việc giải quyết tố giác về tội phạm như: Giấy vay tiền có chữ ký của người vay, bản ghi âm cuộc giao dịch vay tiền, nội dung tin nhắn vay tiền hay nội dung email, người làm chứng xác nhận có vay tiền…; đề nghị Cơ quan điều tra tiến hành điều tra làm rõ vụ việc.

Sau khi tiếp nhận đơn của bà, Cơ quan điều tra sẽ tiến hành kiểm tra, xác minh và tiến hành các hoạt động điều tra như: Thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; trưng cầu giám định… Nếu người vay tiền của bà khai không vay tiền của bà và chữ ký trên giấy vay tiền là giả mạo nhưng kết quả trưng cầu giám định cho thấy chữ ký trên giấy vay tiền là đúng của người hàng xóm của bà thì Cơ quan điều tra sẽ xem xét, đánh giá những tài liệu đã xác minh, thu thập nhằm làm rõ người này có “thủ đoạn gian dối” hoặc thực hiện một trong các hành vi được quy định tại Khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự để chiếm đoạt tài sản của bà hay không?

Nếu có đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh thì Cơ quan điều tra sẽ ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” để tiến hành điều tra theo luật định.

Nếu có một trong các căn cứ quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự thì Cơ quan điều tra sẽ ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Khi đó, để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bà có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bà cư trú.

Trình tự, thủ tục khởi kiện vụ án tranh chấp hợp đồng dân sự về vay tài sản tại Tòa án nhân dân bà có thể tham khảo tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Chinhphu.vn