(Chinhphu.vn) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam hướng dẫn về cách xác định thời điểm hưởng lương hưu và việc giải quyết hưởng lương hưu đối với các trường hợp nộp hồ sơ chậm.

Thời điểm đủ điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu là ngày 1 tháng liền kề sau tháng sinh của năm mà người lao động đủ điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu. Trường hợp hồ sơ người lao động không ghi ngày sinh, tháng sinh (chỉ ghi năm sinh) thì thời điểm đủ điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu là ngày 1/1 của năm liền kề sau năm người lao động đủ điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu.

Thời điểm đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động đối với người có đủ điều kiện về tuổi đời và thời gian đóng bảo hiểm xã hội được tính từ ngày 1 tháng liền kề sau tháng có kết luận bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.

(Trích Khoản 4 Điều 1 Thông tư số 23/2012/TT-BLĐTBXH)

Theo đó, người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu quy định tại Điểm 9a, 9b Khoản 6 Thông tư số 19/2008/TT-BLĐTBXH ngày 23/9/2008 được sửa đổi tại Khoản 4 Điều 1 Thông tư số 23/2012/TT-BLĐTBXH, được hưởng lương hưu theo thời điểm hưởng lương hưu ghi trong quyết định nghỉ việc do người sử dụng lao động lập hoặc trong đơn đề nghị của người lao động.

Trường hợp thời điểm hưởng lương hưu trong quyết định nghỉ việc hoặc trong đơn đề nghị ghi trước thời điểm người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu (kể cả trường hợp đơn đề nghị của người lao động không ghi thời điểm hưởng lương hưu), thì thời điểm hưởng lương hưu là thời điểm người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định.

Đối với người chấp hành xong hình phạt tù giam, người xuất cảnh trái phép trở về nước định cư hợp pháp, người được Tòa án tuyên bố mất tích trở về đã đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định thì thời gian chấp hành hình phạt tù giam hoặc thời gian bị Tòa án tuyên bố là mất tích hoặc thời gian xuất cảnh trái phép không được hưởng lương hưu.

Hưởng lương hưu với trường hợp nộp hồ sơ chậm

Trường hợp nộp hồ sơ chậm so với quy định thì cần có thêm văn bản giải trình của người sử dụng lao động (đối với người lao động đang đóng BHXH bắt buộc) hoặc của người lao động (đối với người tự đóng BHXH bắt buộc, người bảo lưu thời gian đóng BHXH và người đang tham gia BHXH tự nguyện).

Nội dung văn bản giải trình cần nêu rõ trong thời gian nộp hồ sơ chậm người lao động cư trú ở đâu, có bị phạt tù giam hoặc xuất cảnh trái phép hoặc bị Tòa án tuyên bố là mất tích không; đồng thời cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung giải trình.

Trường hợp nộp hồ sơ chậm do người lao động phải thi hành án tù giam hoặc xuất cảnh trái phép hoặc bị Tòa án tuyên bố là mất tích thì cần bổ sung hồ sơ theo quy định tại Khoản 2, Điều 22 Quy định về hồ sơ và quy trình giải quyết hưởng các chế độ BHXH ban hành kèm theo Quyết định số 777/QĐ-BHXH ngày 17/5/2010 của BHXH Việt Nam để làm căn cứ xác định thời điểm hưởng lương hưu.

Lương hưu của người lao động trong thời gian nộp hồ sơ chậm được giải quyết truy lĩnh theo mức quy định của chính sách từng thời kỳ, không bao gồm tiền lãi.

Phòng Thông tin phản ánh của tổ chức, công dân

Phong TTPA