(Chinhphu.vn) - Thông cáo báo chí của VPCP về thông tin chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Quy định nội dung chỉ tiêu thống kê thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia

 Nghị định 97/2016/NĐ-CP quy định nội dung chỉ tiêu thống kê thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia vừa được Chính phủ ban hành.

Theo đó, chỉ tiêu thống kê quốc gia gồm các nhóm chỉ tiêu: 1- Đất đai, dân số; 2- Lao động, việc làm và bình đẳng giới; 3- Doanh nghiệp, cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp; 4- Đầu tư và xây dựng; 5- Tài khoản quốc gia; 6- Tài chính công; 7- Tiền tệ và bảo hiểm; 8- Nông, lâm nghiệp và thủy sản; 9- Công nghiệp; 10- Thương mại, dịch vụ; 11- Giá cả; 12- Giao thông vận tải; 13- Công nghệ thông tin và truyền thông; 14- Khoa học và công nghệ; 15- Giáo dục; 16- Y tế và chăm sóc sức khỏe; 17- Văn hóa, thể thao và du lịch; 18- Mức sống dân cư; 19- Trật tự an toàn xã hội và tư pháp; 20- Bảo vệ môi trường.   

Trong mỗi nhóm chỉ tiêu thống kê nêu trên gồm một số chỉ tiêu thống kê. Nội dung mỗi chỉ tiêu thống kê gồm: Khái niệm, phương pháp tính; phân tổ chủ yếu; kỳ công bố; nguồn số liệu; cơ quan chịu trách nhiệm thu thập, tổng hợp.

Trong đó, tài khoản quốc gia gồm các chỉ tiêu thống kê: Tổng sản phẩm trong nước (GDP); cơ cấu tổng sản phẩm trong nước; tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước; tổng sản phẩm trong nước (GDP xanh); tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người tính bằng đồng Việt Nam (VND), đô la Mỹ (USD)...

Về chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước (GDP), Nghị định quy định rõ, tổng sản phẩm trong nước là giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng được tạo ra của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (quý, năm). Điều này có nghĩa trong GDP không tính các giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ đã sử dụng ở các khâu trung gian trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm. GDP biểu thị kết quả sản xuất do các đơn vị thường trú tạo ra trong lãnh thổ kinh tế của một quốc gia.

Nội dung tổng quát của GDP được xét dưới các góc độ khác nhau. Cụ thể, xét dưới góc độ sử dụng (chi tiêu), GDP là tổng cầu của nền kinh tế gồm tiêu dùng cuối cùng của hộ dân cư, tiêu dùng cuối cùng của Nhà nước, tích lũy tài sản và chênh lệch xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ; xét dưới góc độ thu nhập, GDP gồm thu nhập của người lao động từ sản xuất, thuế sản xuất, khấu hao tài sản cố định dùng cho sản xuất và giá trị thặng dư sản xuất trong kỳ; xét dưới góc độ sản xuất, GDP bằng giá trị sản xuất trừ đi chi phí trung gian.

Tổng cục Thống kê là cơ quan chịu trách nhiệm thu thập, tổng hợp tổng sản phẩm trong nước (GDP). Kỳ công bố chỉ tiêu này là quý, 6 tháng, 9 tháng, năm.

Về giá cả gồm chỉ tiêu thống kê: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI); chỉ số giá vàng, chỉ số giá đô la Mỹ; chỉ số lạm phát cơ bản; chỉ số giá sinh hoạt theo không gian; chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất;...

Trong đó, CPI là chỉ tiêu tương đối (tính bằng %) phản ánh xu hướng và mức độ biến động giá cả chung theo thời gian của các loại hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng hàng ngày của người dân.

Danh mục hàng hóa và dịch vụ đại diện gồm các mặt hàng và dịch vụ chủ yếu, đại diện cho tiêu dùng của dân cư trong một giai đoạn nhất định, được sử dụng để điều tra thu thập giá định kỳ, phục vụ tính CPI.

Quyền số tính CPI là tỷ trọng chi tiêu cho các nhóm hàng hóa và dịch vụ trong tổng chi tiêu của dân cư của năm được chọn làm gốc so sánh. Quyền số này được sử dụng cố định trong 5 năm. Sau mỗi 5 chu kỳ 5 năm, danh mục mặt hàng đại diện, quyền số lại được cập nhật cho phù hợp với thị trường tiêu dùng và cơ cấu chi tiêu cho đời sống hàng ngày của người dân trong thời kỳ hiện tại.

Chỉ số giá tiêu dùng được tính từ kết quả điều tra giá tiêu dùng của từng tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương. Chỉ số giá tiêu dùng được tính bằng phương pháp bình quân nhân gia quyền giữa mức biến động giá của các nhóm mặt hàng với quyền số tương ứng.

Chỉ số giá tiêu dùng của các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương được tính bằng phương pháp bình quân nhân gia quyền giữa chỉ số giá tiêu dùng của mỗi nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng được chọn điều tra với quyền số tương ứng.

Tổng cục Thống kê là cơ quan chịu trách nhiệm thu thập, tổng hợp CPI. Kỳ công bố CPI là tháng.

Điều kiện cấp Giấy chứng nhận kinh doanh thuốc đối với cơ sở bán lẻ thuốc

Nghị định 102/2016/NĐ-CP quy định điều kiện kinh doanh thuốc vừa được Chính phủ ban hành, trong đó quy định điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc đối với cơ sở bán lẻ thuốc.

Cụ thể, cơ sở bán lẻ thuốc được Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc khi đáp ứng các điều kiện:

1- Chủ cơ sở bán lẻ thuốc phải có Chứng chỉ hành nghề dược phù hợp với từng hình thức tổ chức kinh doanh của cơ sở bán lẻ thuốc.

2- Cơ sở bán lẻ thuốc, trừ cơ sở bán lẻ dược liệu, phải đáp ứng các điều kiện:

- Phải có địa điểm cố định, riêng biệt; bố trí ở nơi cao ráo, thoáng mát, an toàn, cách xa nguồn ô nhiễm và có biển hiệu theo quy định.

- Địa điểm bán lẻ phải được xây dựng chắc chắn, có trần chống bụi, tường và nền nhà phải dễ làm vệ sinh, đủ ánh sáng nhưng không để thuốc bị tác động trực tiếp của ánh sáng mặt trời; bảo đảm duy trì điều kiện bảo quản ghi trên nhãn thuốc. 

- Diện tích phù hợp với quy mô kinh doanh, phải có khu vực để trưng bày, bảo quản thuốc và khu vực để người mua thuốc tiếp xúc và trao đổi thông tin về việc sử dụng thuốc với người bán lẻ.

- Phải bố trí thêm diện tích cho những hoạt động khác: Khu vực pha chế theo đơn nếu có tổ chức pha chế theo đơn; khu vực ra lẻ các thuốc không còn bao bì tiếp xúc trực tiếp với thuốc để bán lẻ trực tiếp cho người bệnh; nơi rửa tay cho người bán lẻ và người mua thuốc; khu vực tư vấn riêng cho bệnh nhân và ghế cho người mua thuốc trong thời gian chờ đợi.

- Phải có tủ, giá, kệ bảo quản thuốc đáp ứng yêu cầu về điều kiện bảo quản thuốc, yêu cầu về bảo đảm an ninh, an toàn đối với thuốc.

- Trường hợp kinh doanh thêm mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, dụng cụ y tế thì phải có khu vực riêng, không bày bán cùng với thuốc và không gây ảnh hưởng đến thuốc.

Cơ sở bán buôn thuốc được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc khi đáp ứng các điều kiện:

1- Người quản lý chuyên môn về dược phải có chứng chỉ hành nghề dược phù hợp với từng hình thức tổ chức kinh doanh của cơ sở bán buôn thuốc.

2- Cơ sở bán buôn thuốc phải đáp ứng các điều kiện sau:

- Có số lượng nhân sự, có trình độ và được đánh giá phù hợp với công việc được giao.

- Nhà kho, hệ thống phụ trợ phải được thiết kế, xây dựng, sử dụng và bảo dưỡng phù hợp với mục đích bảo quản và quy mô sử dụng, đảm bảo bảo quản theo đúng điều kiện bảo quản ghi trên nhãn thuốc; có khu vực riêng để bảo quản có trật tự các loại sản phẩm khác nhau; khu vực tiếp nhận, cấp phát phải có khả năng bảo vệ thuốc khỏi các điều kiện thời tiết bất lợi; các khu vực bảo quản liên quan phải có biển hiệu thích hợp, rõ ràng.

-  Thiết bị bảo quản và thiết bị vận chuyển phải được trang bị, bố trí, thiết kế, đánh giá, thẩm định, sử dụng và bảo dưỡng phù hợp với mục đích sử dụng, đảm bảo điều kiện bảo quản và các hoạt động bảo quản;

- Kho bảo quản phải trang bị hệ thống phát điện dự phòng cho hoạt động của kho lạnh.

- Có phương tiện vận chuyển thuốc bảo đảm điều kiện bảo quản, yêu cầu về an ninh, an toàn đối với thuốc do cơ sở kinh doanh.

- Có hệ thống quản lý chất lượng, hồ sơ tài liệu, các hướng dẫn, quy trình bao trùm cho các hoạt động được thực hiện.

Tiêu chuẩn các ngạch Thanh tra viên quốc phòng

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định 31/2016/QĐ-TTg quy định tiêu chuẩn các ngạch Thanh tra viên quốc phòng. Theo đó, có 3 ngạch Thanh tra viên quốc phòng gồm: Thanh tra viên, Thanh tra viên chính và Thanh tra viên cao cấp.

Quyết định nêu rõ, thanh tra viên quốc phòng là Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam được bổ nhiệm vào các ngạch Thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra và các nhiệm vụ khác theo sự phân công của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị.

Thanh tra viên quốc phòng phải có đủ tiêu chuẩn theo Điều 12 Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, các tiêu chuẩn chung quy định tại Khoản 1 Điều 32 Luật Thanh tra và các tiêu chuẩn quy định tại Quyết định này.

Về tiêu chuẩn ngạch Thanh tra viên, Quyết định nêu rõ, thanh tra viên có trách nhiệm tham mưu giúp Thủ trưởng cơ quan, đơn vị thực hiện một số lĩnh vực công tác thanh tra và các nhiệm vụ khác; được giao chủ trì hoặc trực tiếp thanh tra các vụ việc có quy mô và tính chất phức tạp trung bình; khi tiến hành thanh tra phải tuân thủ pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật và Thủ trưởng cơ quan, đơn vị quản lý trực tiếp về nhiệm vụ được giao.

Thanh tra viên phải tốt nghiệp trình độ đại học trở lên phù hợp với chuyên môn thuộc ngành, lĩnh vực đang công tác; có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ ngạch thanh tra viên; có chứng chỉ ngoại ngữ trình độ bậc 1 theo quy định tại Thông tư số 01/2014/TT-BGDĐT hoặc chứng chỉ ngoại ngữ trình độ A trở lên thuộc 01 trong 05 thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc, Đức; hoặc có chứng chỉ hoặc chứng nhận biết tiếng dân tộc thiểu số do cơ quan có thẩm quyền cấp; có chứng chỉ tin học với trình độ đạt chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản theo quy định tại Thông tư số 03/2014/TT-BTTTT; có thời gian ít nhất 02 năm làm công tác thanh tra, trừ trường hợp đã qua cương vị chỉ huy cấp tiểu đoàn và cương vị công tác tương đương hoặc sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật - nghiệp vụ có cấp hàm từ đại úy trở lên chuyển sang cơ quan thanh tra.

Ở ngạch cao hơn, Thanh tra viên chính có trách nhiệm tham mưu giúp Thủ trưởng cơ quan, đơn vị thực hiện công tác thanh tra và các nhiệm vụ khác có tính chất quan trọng; được giao chủ trì hoặc phối hợp tham gia thanh tra các vụ việc có quy mô rộng, tình tiết phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều đơn vị trong và ngoài Quân đội. Khi tiến hành thanh tra phải tuân thủ pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật và Thủ trưởng cơ quan, đơn vị quản lý trực tiếp về nhiệm vụ được giao.

Thanh tra viên chính phải có trình độ đại học trở lên phù hợp với chuyên môn thuộc ngành, lĩnh vực đang công tác; tốt nghiệp đào tạo cán bộ cấp trung, lữ, sư đoàn tại các học viện chuyên ngành quân sự phù hợp với chuyên môn thuộc ngành, lĩnh vực đang công tác; có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ ngạch thanh tra viên chính; có chứng chỉ ngoại ngữ trình độ bậc 2 theo quy định tại Thông tư số 01/2014/TT-BGDĐT hoặc chứng chỉ ngoại ngữ trình độ B trở lên thuộc 01 trong 05 thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc, Đức; hoặc có chứng chỉ hoặc chứng nhận biết tiếng dân tộc thiểu số do cơ quan có thẩm quyền cấp; có chứng chỉ tin học với trình độ đạt chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản theo quy định tại Thông tư số 03/2014/TT-BTTTT; đã được bổ nhiệm ngạch thanh tra viên ít nhất 09 năm, trừ trường hợp đã qua cương vị chỉ huy cấp trung đoàn và cương vị công tác tương đương hoặc sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật - nghiệp vụ đang giữ ngạch tương đương ngạch thanh tra viên chính chuyển sang cơ quan thanh tra.

Thanh tra viên cao cấp có trách nhiệm tham mưu trực tiếp giúp Thủ trưởng cơ quan, đơn vị thực hiện công tác thanh tra và các nhiệm vụ khác; được giao chủ trì hoặc phối hợp thanh tra các vụ việc có quy mô lớn, tình tiết rất phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực, nhiều đơn vị trong và ngoài quân đội; khi tiến hành thanh tra phải tuân thủ pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật và Thủ trưởng cơ quan, đơn vị quản lý trực tiếp về nhiệm vụ được giao.

Thanh tra viên cao cấp phải có trình độ đại học trở lên phù hợp với chuyên môn thuộc ngành, lĩnh vực đang công tác; tốt nghiệp đào tạo cao cấp tham mưu tác chiến chiến dịch - chiến lược tại Học viện Quốc phòng; có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ ngạch thanh tra viên cao cấp; có trình độ cao cấp lý luận chính trị hoặc tương đương; có chứng chỉ ngoại ngữ trình độ bậc 3 theo quy định tại Thông tư số 01/2014/TT-BGDĐT hoặc chứng chỉ ngoại ngữ trình độ C trở lên thuộc 01 trong 05 thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc, Đức; hoặc có chứng chỉ hoặc chứng nhận biết tiếng dân tộc thiểu số do cơ quan có thẩm quyền cấp; có chứng chỉ tin học với trình độ đạt chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản theo quy định tại Thông tư số 03/2014/TT-BTTTT; đã được bổ nhiệm thanh tra viên chính ít nhất 06 năm, trừ trường hợp đã qua cương vị chỉ huy cấp sư đoàn và cương vị công tác tương đương hoặc sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật - nghiệp vụ đang giữ ngạch tương đương ngạch thanh tra viên cao cấp chuyển sang cơ quan thanh tra.

Kiện toàn BCĐ phòng, chống khủng bố quốc gia

Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định kiện toàn Ban Chỉ đạo phòng, chống khủng bố quốc gia (Ban Chỉ đạo). Theo đó, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc làm Trưởng Ban.

Thượng tướng Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Công an làm Phó Trưởng Ban.

Các thành viên gồm: Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh; Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng; Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Trương Quang Nghĩa; Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Trương Minh Tuấn; Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến; Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng; Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Lê Minh Hưng; Trung tướng Phan Văn Giang, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Bùi Văn Nam, Thứ trưởng Bộ Công an phụ trách công tác an ninh (thành viên thường trực).

Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc tổ chức, chỉ đạo hoạt động phòng, chống khủng bố trong phạm vi cả nước; giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tổ chức, triển khai, phối hợp liên ngành thực hiện công tác phòng, chống khủng bố.

Bên cạnh đó, kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn Ban Chỉ đạo phòng, chống khủng bố bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện công tác phòng, chống khủng bố; trình Thủ tướng Chính phủ ban hành phương án xử lý các tình huống, cơ chế chỉ đạo, chỉ huy xử lý các tình huống khủng bố.

Đồng thời, tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo giải quyết các vụ khủng bố trong trường hợp phải ban bố tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội hoặc có nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội nhưng chưa đến mức ban bố tình trạng khẩn cấp.

Bộ Công an là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo phòng, chống khủng bố quốc gia và có cơ quan tham mưu, giúp việc chuyên trách gọi là Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo phòng, chống khủng bố quốc gia.

Chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đồng bào dân tộc

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn giai đoạn 2016 - 2020 và hỗ trợ vụ việc tham gia tố tụng có tính chất phức tạp hoặc điển hình.

Đối tượng thụ hưởng chính sách trợ giúp pháp lý là người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và người được trợ giúp pháp lý khác theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý sinh sống tại: 1- Các huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP; 2- Các xã nghèo không thuộc các huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP gồm xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu và xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo; 3- Thôn, bản đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc miền núi không thuộc các xã nghèo quy định trên.

Đối tượng thụ hưởng và địa bàn áp dụng hỗ trợ vụ việc tham gia tố tụng là người được trợ giúp pháp lý theo pháp luật về trợ giúp pháp lý ở các địa phương chưa tự cân đối ngân sách (ngoài địa bàn huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn).

Theo quy định, hỗ trợ thực hiện vụ việc tham gia tố tụng có tính chất phức tạp hoặc điển hình theo quy định tại Nghị định số 80/2015/NĐ-CP ngày 17/9/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 14/2013/NĐ-CP ngày 5/2/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/1/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý.

Hỗ trợ học phí cho viên chức của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tại các địa phương có huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn có đủ điều kiện tham gia khóa đào tạo nghề luật sư và cam kết làm việc trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý tại địa phương ít nhất 2 năm kể từ khi đi đào tạo về. Mức hỗ trợ theo mức học phí hiện hành của cơ sở đào tạo công lập với số lượng hỗ trợ tối đa 02 người/Trung tâm/năm. Tăng cường năng lực cho người thực hiện trợ giúp pháp lý là 80.000.000 đồng/1 lớp/Trung tâm/năm.

Hỗ trợ truyền thông về trợ giúp pháp lý tại các địa phương có huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn gồm: Hỗ trợ thiết lập đường dây nóng về trợ giúp pháp lý là 20.000.000 đồng/trung tâm; xây dựng, phát chuyên trang, chuyên mục về trợ giúp pháp lý bằng tiếng Việt, tiếng dân tộc trên đài truyền thanh xã với mức hỗ trợ biên soạn nội dung 500.000 đồng/01 số/06 tháng/xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn; chi phí phát thanh 500.000 đồng/xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn/quý (06 lần/quý)...

Dịch vụ vận chuyển, giao nhận hàng thương mại điện tử bao phủ cả nước

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử (TMĐT) giai đoạn 2016-2020. Theo đó, phấn đấu đến 2020, xây dựng mạng lưới dịch vụ vận chuyển, giao nhận và hoàn tất đơn hàng cho thương mại điện tử bao phủ tất cả các tỉnh, thành phố trên cả nước.

Theo Quyết định, đến năm 2020, hoàn thiện hạ tầng pháp lý cho thương mại điện tử với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh một cách toàn diện, theo kịp thực tiễn phát triển của các mô hình và hoạt động thương mại điện tử khác nhau trong xã hội.

Xây dựng và phát triển hệ thống thanh toán thương mại điện tử quốc gia, các tiện ích tích hợp thanh toán điện tử để sử dụng rộng rãi cho các mô hình thương mại điện tử, đặc biệt loại hình thương mại điện tử doanh nghiệp - người tiêu dùng (B2C), doanh nghiệp - doanh nghiệp (B2B), chính phủ - người dân (G2C), chính phủ - doanh nghiệp (G2B).

Xây dựng mạng lưới dịch vụ vận chuyển, giao nhận và hoàn tất đơn hàng cho thương mại điện tử bao phủ tất cả các tỉnh, thành phố trên cả nước; từng bước mở rộng ra khu vực nhằm đẩy mạnh hoạt động thương mại điện tử xuyên biên giới.

Hạ tầng an toàn, an ninh cho thương mại điện tử được phát triển với việc thiết lập các hệ thống quản lý, giám sát giao dịch thương mại điện tử; đánh giá tín nhiệm website thương mại điện tử và chứng thực chứng từ điện tử; các cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trong thương mại điện tử.

Về quy mô thị trường thương mại điện tử, theo quyết định, phấn đấu đến 2020, 30% dân số tham gia mua sắm trực tuyến, với giá trị mua hàng trực tuyến đạt trung bình 350 USD/người. Doanh số thương mại điện tử B2C tăng 20%/năm, đạt 10 tỷ USD, chiếm 5% so với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước.

Thương mại điện tử xuyên biên giới phát triển nhanh, phục vụ thiết thực hoạt động xuất nhập khẩu; giao dịch thương mại điện tử B2B chiếm 30% kim ngạch xuất nhập khẩu vào năm 2020.

Theo Quyết định, đến 2020, 50% doanh nghiệp có trang thông tin điện tử, cập nhật thường xuyên thông tin giới thiệu và bán sản phẩm của doanh nghiệp; 80% doanh nghiệp thực hiện đặt hàng hoặc nhận đơn đặt hàng thông qua các ứng dụng thương mại điện tử; 100% các siêu thị, trung tâm mua sắm và cơ sở phân phối hiện đại có thiết bị chấp nhận thẻ thanh toán (POS) và cho phép người tiêu dùng thanh toán không dùng tiền mặt khi mua hàng.

Đồng thời, 70% các đơn vị cung cấp dịch vụ điện, nước, viễn thông và truyền thông chấp nhận thanh toán hóa đơn của các cá nhân, hộ gia đình qua các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt; 50% cá nhân, hộ gia đình ở các thành phố lớn sử dụng phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt trong mua sắm, tiêu dùng; hình thành một số doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thương mại điện tử lớn có uy tín trong khu vực Đông Nam Á...

Hải Dương cần huy động nhiều nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế

Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Hải Dương.

Trong 6 tháng đầu năm 2016, tỉnh Hải Dương duy trì tốc độ tăng trưởng GDP gần 7,2%; giá trị sản xuất công nghiệp tăng gần 11%, tổng vốn đầu tư phát triển tăng 7,3% so với cùng kỳ; triển khai được 11 mô hình sản xuất vải thiều đủ tiêu chuẩn xuất khẩu đi Mỹ, Australia, EU…

Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong những năm vừa qua là chưa tương xứng so với tiềm năng, lợi thế; một số chỉ tiêu chỉ đạt ở mức trung bình của cả nước như thu nhập bình quân đầu người, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, tỷ lệ lao động qua đào tạo, thu hút khách du lịch…; việc thực hiện tái cơ cấu kinh tế nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp còn chậm.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu tỉnh Hải Dương tập trung cao nhất thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp theo Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015-2020. Trên cơ sở tiềm năng, lợi thế sẵn có của địa phương, tỉnh cần có cách làm năng động, sáng tạo, đột phá với những giải pháp thiết thực, hiệu quả, tháo gỡ vướng mắc về thủ tục để đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, huy động nhiều nguồn lực để đầu tư phát triển kinh tế; hoàn thành vượt mức kế hoạch các chỉ tiêu kinh tế-xã hội năm 2016; phấn đấu năm 2017 tỉnh tự cân đối thu, chi ngân sách và có điều tiết về ngân sách Trung ương.

Đồng thời làm tốt công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch ở cả đô thị và nông thôn, tiếp tục đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông, thủy lợi; chỉ đạo, thực hiện có hiệu quả Chương trình xây dựng nông thôn mới.

Bên cạnh đó, tập trung chỉ đạo tái cơ cấu kinh tế theo hướng không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Đẩy mạnh việc xúc tiến đầu tư, quảng bá du lịch, thúc đẩy phát triển du lịch, dịch vụ và sản xuất công nghiệp. Phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, gắn với công nghiệp chế biến, đồng thời tiếp tục mở rộng, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa. Sử dụng tiết kiệm đất đai và bảo vệ môi trường sinh thái.

Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu tỉnh Hải Dương tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho người dân và doanh nghiệp. Khuyến khích tinh thần khởi nghiệp, phát triển mạnh số lượng, quy mô và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp theo tinh thần Nghị quyết 19 và Nghị quyết 35 của Chính phủ.

Chú trọng phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao, công tác dạy nghề, tạo việc làm cho người lao động; bảo đảm an sinh xã hội; có giải pháp giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo và nâng cao thu nhập cho người dân. Giữ gìn bản sắc văn hóa của Vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Tạo điều kiện để Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam hoạt động tốt

Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại buổi làm việc với Đoàn Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.

Trong thời gian qua, hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã có nhiều đổi mới: Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, tham mưu, đề xuất, giám sát việc thực hiện được triển khai đồng bộ ở tất cả các cấp, nhất là về hôn nhân, gia đình, an sinh xã hội liên quan đến phụ nữ, trẻ em, hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế thông qua các chương trình tài chính vi mô, thực hành tiết kiệm... Cuộc vận động "Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch" (5 không gồm không đói nghèo, không vi phạm pháp luật, tệ nạn xã hội, không có bạo lực gia đình, không sinh con thứ 3 trở lên, không có trẻ suy dinh dưỡng và bỏ học; 3 sạch gồm sạch nhà, sạch bếp, sạch ngõ) do Hội phát động và triển khai đã góp phần thiết thực vào các chương trình xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo, bình đẳng giới.

Để góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kế hoạch năm 2016, công tác phối hợp của Chính phủ và Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cần tập trung vào các nội dung trọng tâm.

Các bộ, ngành, địa phương quan tâm, tạo điều kiện để Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam hoạt động đạt kết quả tốt; chủ động phối hợp chặt chẽ với các cấp Hội trong việc triển khai thực hiện các chương trình, đề án phát triển kinh tế-xã hội, các phong trào thi đua do Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động, vận động xã hội thực hiện bình đẳng giới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tăng cường tham gia giám sát và phản biện xã hội; các bộ, ngành, địa phương phối hợp chặt chẽ với Hội trong xây dựng chính sách pháp luật liên quan đến quyền lợi, lợi ích chính đáng của phụ nữ, gia đình và trẻ em, trong việc xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Tiếp tục quan tâm đến phụ nữ nghèo, phụ nữ người dân tộc, nữ công nhân ở các khu công nghiệp, khu kinh tế và trẻ em gái; bảo vệ quyền lợi và tập hợp phụ nữ Việt Nam ở nước ngoài; chú trọng phụ nữ khởi nghiệp trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, nhất là hỗ trợ phát triển kinh tế, ủy thác, tín chấp, tài chính vi mô, thực hành tiết kiệm, vận động tham gia bảo hiểm y tế.

Về hỗ trợ kinh phí cho Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam xây dựng điển hình, tuyên truyền, biểu dương, khen thưởng phụ nữ, Thủ tướng Chính phủ đồng ý chủ trương, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam xây dựng dự toán gửi Bộ Tài chính thẩm định trong dự toán ngân sách Nhà nước hằng năm của Hội, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định.

Về Đề án "Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp giai đoạn 2017-2027", Thủ tướng Chính phủ đồng ý về chủ trương, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tiếp thu ý kiến các bộ, ngành và lồng ghép nội dung của Đề án này với một số chương trình, đề án khởi nghiệp đang được triển khai, hoàn thiện Đề án, trình duyệt theo quy định.

Đầu tư dự án khu đô thị công nghiệp Dung Quất

Thủ tướng Chính phủ đồng ý chủ trương đầu tư Dự án khu đô thị công nghiệp Dung Quất (trong đó, giai đoạn 1 phát triển khu công nghiệp).

Dự án có quy mô diện tích quy hoạch 319 ha tại xã Bình Thạnh, xã Bình Chánh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Chủ đầu tư Dự án là Công ty cổ phần Hoàng Thịnh Đạt.

Thời gian hoạt động của dự án là 50 năm.

Về tiến độ thực hiện, giai đoạn 1.A được triển khai từ quý III/2016 đến quý II/2018 với quy mô 166 ha; giai đoạn 1.B được triển khai từ quý III/2018 đến quý II/2019 với quy mô 153 ha. Tổng mức đầu tư thực hiện dự án là 2.025 tỷ đồng.

Dự án được ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật hiện hành; miễn tiền thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu tạo tài sản cố định theo quy định tại Nghị định số 87/2010/NĐ-CP ngày 13/8/2010 của Chính phủ; miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước theo quy định tại Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.

Thủ tướng Chính phủ giao UBND tỉnh Quảng Ngãi chỉ đạo chủ đầu tư nghiên cứu, tiếp thu ý kiến thẩm định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thực hiện ký quỹ dự án theo quy định của pháp luật đầu tư.

Đồng thời, chỉ đạo đôn đốc các đơn vị liên quan phối hợp với chủ đầu tư xác định và lựa chọn phương án thực hiện công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, tái định cư; giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất; triển khai các giải pháp liên quan đến đời sống người lao động trong khu công nghiệp và thực hiện cập nhật, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối (2016-2020) theo quy định.

UBND tỉnh Quảng Ngãi yêu cầu chủ đầu tư lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường và trình duyệt theo quy định trước khi triển khai dự án; có các biện pháp giám sát thực hiện các dự án có nguy cơ ảnh hưởng tới môi trường.

Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu UBND tỉnh Quảng Ngãi chỉ đạo các cơ quan liên quan và nhà đầu tư trong quá trình triển khai dự án cần phối hợp chặt chẽ với cơ quan quốc phòng có thẩm quyền để giải quyết các vấn đề cụ thể liên quan đến an ninh quốc phòng trên địa bàn; chỉ đạo các cơ quan liên quan giao đất phù hợp với tiến độ dự án, thực hiện việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo quy định Luật Đất đai./.