(Chinhphu.vn) – Toàn án nhân dân tối cao đang dự thảo Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về các biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Ảnh minh họa

Toàn án nhân dân tối cao cho biết, Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 ngày 25/11/2015 có hiệu lực pháp luật từ ngày 01/7/2016 đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định căn bản, trong đó quy định mới một số biện pháp khẩn cấp tạm thời là: Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ, cấm tiếp xúc với bệnh nhân bạo lực gia đình, tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động có liên quan đến việc đấu thầu, bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án; bổ sung quy định Tòa án phải bồi thường trong trường hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật hoặc không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không có lý do chính đáng… Những quy định mới này đã góp phần giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án.

Thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (vụ án dân sự) thời gian qua cho thấy, việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tại các Tòa án nhân dân về cơ bản đã đảm bảo đúng pháp luật. Tuy nhiên, vẫn còn một số Tòa án nhân dân để xảy ra sai sót, như: Vi phạm về thời hạn ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, thời hạn giải quyết khiếu nại; quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi không có đủ căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nhầm lẫn giữa các biện pháp khẩn cấp tạm thời; áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vượt quá yêu cầu của đương sự;... Một số quy định mới của Bộ luật Tố tụng dân sự liên quan đến biện pháp khẩn cấp tạm thời chưa được hiểu và áp dụng thống nhất, đôi khi dẫn đến việc áp dụng tùy tiện. Một số Tòa án vận dụng tinh thần của Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27/4/2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định tại Chương VIII “Các biện pháp khẩn cấp tạm thời” của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2005, tuy nhiên Nghị quyết này đã hết hiệu lực, đến nay chưa có Nghị quyết thay thế. Do đó, cần xây dựng, ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để đảm bảo áp dụng thống nhất và đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Với các lý do nêu trên, việc ban hành Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về các biện pháp khẩn cấp tạm thời là hết sức cần thiết.

Tại dự thảo, Tòa án nhân dân tối cao đã đề xuất một số hướng dẫn cụ thể như: Về quy định tại khoản 2 Điều 111 Bộ luật Tố tụng dân sự (trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay chứng cứ, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của Bộ luật này đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Tòa án đó), dự thảo đề xuất hướng dẫn cụ thể như sau: Chỉ khi có đầy đủ các điều kiện sau đây, đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện (đơn khởi kiện phải được làm theo đúng quy định tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự) thì cơ quan, tổ chức, cá nhân mới có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự: 1- Do tình thế khẩn cấp, tức là cần được giải quyết ngay, không chậm trễ; 2- Cần bảo vệ ngay chứng cứ trong trường hợp nguồn chứng cứ đang bị tiêu hủy, có nguy cơ bị tiêu hủy hoặc sau này khó có thể thu thập được; 3- Ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra (có thể là hậu quả về vật chất hoặc phi vật chất).

Trường hợp đơn khởi kiện đã có các nội dung để xác định việc thụ lý đơn khởi kiện và giải quyết vụ án là thuộc thẩm quyền của Tòa án nhận đơn nhưng cần phải sửa đổi, bổ sung một số nội dung khác thì Tòa án thụ lý giải quyết đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay theo quy định tại khoản 3 Điều 133 Bộ luật Tố tụng dân sự và hướng dẫn quy định tại khoản 2 Điều 133 Bộ luật Tố tụng dân sự nêu tại dự thảo. Việc yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện và thụ lý vụ án được thực hiện theo quy định tại Điều 193 và Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là Tòa án có thẩm quyền thụ lý đơn khởi kiện và giải quyết vụ án theo quy định tại các điều 35, 36, 37, 38, 39 và 40 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Mời bạn đọc xem toàn văn dự thảo và góp ý tại đây.

Tuệ Văn