(Chinhphu.vn) - Thông cáo báo chí của VPCP về thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Thủ tướng phê chuẩn nhân sự UBND tỉnh Hà Giang

Tại Quyết định 1194/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn việc miễn nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang nhiệm kỳ 2016-2021 đối với ông Nguyễn Minh Tiến, để nhận nhiệm vụ mới.

Trước đó, ngày 1/7, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Giang đã có quyết định phân công ông Nguyễn Minh Tiến, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh giữ chức Trưởng ban Tổ chức – Nội vụ tỉnh kể từ ngày 1/7/2020.

Ngày 10/7, tại kỳ họp thứ 14, HĐND tỉnh Hà Giang khóa XVII, nhiệm kỳ 2016-2020, HĐND tỉnh Hà Giang đã tiến hành thực hiện quy trình miễn nhiệm chức danh Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang khóa XVII, nhiệm kỳ 2016 - 2021 đối với ông Nguyễn Minh Tiến do luân chuyển vị trí công tác.

Thủ tướng chỉ thị tổng kết 12 năm thực hiện Pháp lệnh Công nghiệp quốc phòng

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vừa ký Chỉ thị số 32/CT-TTg về việc tổng kết 12 năm thực hiện Pháp lệnh Công nghiệp quốc phòng (2008-2020).

Pháp lệnh Công nghiệp quốc phòng số 02/2008/UBTVQH12 được Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua ngày 26/01/2008 và Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố ngày 05/02/2008; được sửa đổi, bổ sung tại Pháp lệnh số 01/2018/UBTVQH14 ngày 22/12/2018 và hiện nay là Pháp lệnh Công nghiệp quốc phòng được Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành tại Văn bản hợp nhất số 01/VBHN-VPQH ngày 04/01/2019 của Văn phòng Quốc hội.

Qua 12 năm triển khai thực hiện Pháp lệnh Công nghiệp quốc phòng (Pháp lệnh), Công nghiệp quốc phòng (CNQP) nước ta đã đạt được nhiều kết quả, thành tựu quan trọng: Cơ bản hoàn thiện về tổ chức hoạt động CNQP từ cơ quan quản lý nhà nước đến các cơ sở CNQP nòng cốt và động viên; tổ chức lực lượng CNQP đã từng bước được củng cố theo hướng tập trung, chuyên môn hóa, gắn nghiên cứu thiết kế với sản xuất, sản xuất với sửa chữa; năng lực của CNQP đã được phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, đáp ứng được một phần quan trọng về nhu cầu trang bị mới và sửa chữa, bảo đảm kỹ thuật vũ khí trang bị kỹ thuật (VKTBKT) cho Quân đội, góp phần nâng cao tiềm lực quốc phòng, an ninh quốc gia; CNQP được xây dựng và phát triển, từng bước trở thành một bộ phận quan trọng của công nghiệp quốc gia, đóng góp cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Tuy nhiên, sau 12 năm thực hiện, Pháp lệnh đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập như: Từ khi Pháp lệnh có hiệu lực thi hành đến nay Đảng đã có nhiều chủ trương, đường lối mới về xây dựng và phát triển CNQP, trong đó, có nhiều quan điểm, chủ trương mới chưa được thể chế hóa đầy đủ trong Pháp lệnh; một số quy định tại Pháp lệnh có những điểm bất cập, chưa phù hợp và thống nhất với Hiến pháp năm 2013 về quyền và nghĩa vụ của công dân liên quan đến quốc phòng, an ninh; Luật Quốc phòng năm 2018 và Luật Công an nhân dân năm 2018 về nội dung CNQP, an ninh...

Thực tế hoạt động CNQP đòi hỏi cần thiết phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về xây dựng, phát triển CNQP đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay và những năm tiếp theo, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước theo định hướng, chủ trương của Đảng và Nhà nước.

Từ những vấn đề trên, để triển khai nhiệm vụ tổng kết thực hiện Pháp lệnh, làm cơ sở đề xuất xây dựng Dự án Luật CNQP, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị tổng kết 12 năm thực hiện Pháp lệnh Công nghiệp quốc phòng trong phạm vi toàn quốc (2008-2020) nhằm đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập, làm rõ nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện Pháp lệnh; đề xuất chủ trương, giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả của CNQP trong tình hình mới; hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về CNQP; tiến hành khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện Pháp lệnh.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện về những kết quả đạt được; những hạn chế, bất cập và chồng chéo; làm rõ lý do, nguyên nhân trong quá trình thi hành Pháp lệnh; tổ chức tổng kết đúng kế hoạch, triệt để tiết kiệm, tránh lãng phí.

UBND tỉnh, thành phố thực hiện tổng kết Pháp lệnh có tổ chức hội nghị tổng kết gồm 4 đầu mối: Hà Nội, Thái Nguyên, Đà Nẵng, Đồng Nai. Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh, thành phố lập kế hoạch, tham mưu và đề xuất cho UBND tỉnh, thành phố tổ chức Hội nghị tổng kết Pháp lệnh. Thời gian hoàn thành hội nghị tổng kết và báo cáo về Bộ Quốc phòng trước ngày 15/10/2020.

Các cơ quan, đơn vị Quân đội tổng kết Pháp lệnh ở 32 cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng. Thời gian gửi báo cáo tổng kết Pháp lệnh về Bộ Quốc phòng trước ngày 15/9/2020.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo tổng kết Pháp lệnh; xây dựng kế hoạch hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra thực hiện Chỉ thị; tổ chức tổng kết đạt hiệu quả, thiết thực, tiết kiệm. Tổng hợp các kiến nghị, đề xuất và giải pháp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 31/12/2020.

Thành lập Hội đồng xét tặng danh hiệu “Nhà giáo Nhân dân”, “Nhà giáo Ưu tú”

Thủ tướng Chính phủ vừa ký quyết định thành lập Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng danh hiệu “Nhà giáo Nhân dân”, “Nhà giáo Ưu tú” lần thứ 15.

Thành phần Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng danh hiệu “Nhà giáo Nhân dân”, “Nhà giáo Ưu tú” lần thứ 15 gồm:

Ông Phùng Xuân Nhạ, Giáo sư, Tiến sĩ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo làm Chủ tịch Hội đồng.

Phó Chủ tịch Hội đồng gồm: Ông Phạm Ngọc Thưởng, Tiến sĩ, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (Phó Chủ tịch Thường trực); ông Phạm Huy Giang, Tiến sĩ, Trưởng ban Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương.

Các Ủy viên Hội đồng gồm: Ông Vũ Minh Đức, Tiến sĩ, Chủ tịch Công đoàn Giáo dục Việt Nam; ông Nguyễn Trường Sơn, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Thứ trưởng Bộ Y tế; ông Lương Hồng Quang, Tiến sĩ, Vụ trưởng Vụ Thi đua – Khen thưởng, Văn phòng Chủ tịch nước; ông Trần Hữu Phúc, Giáo sư, Tiến sĩ, Trung tướng, Cục trưởng Cục Nhà trường, Bộ Tổng tham mưu, Bộ Quốc phòng; ông Đỗ Anh Tuấn, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Đại tá, Cục trưởng Cục Đào tạo, Bộ Công an; ông Trịnh Xuân Hiếu, Tiến sĩ, Vụ trưởng Vụ Thi đua – Khen thưởng, Bộ Giáo dục và Đào tạo; ông Trần Thọ Đạt, Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo Nhân dân, Chủ tịch Hội đồng Trường, Trường Đại học Kinh tế quốc dân; ông Nguyễn Vũ Lương, Nhà giáo Nhân dân, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Trường trung học phổ thông chuyên Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội; ông Nguyễn Ngọc Long, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo Ưu tú, Hiệu trưởng Trường Đại học Giao thông vận tải.

Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng danh hiệu “Nhà giáo Nhân dân”, “Nhà giáo Ưu tú” lần thứ 15 (Hội đồng) có nhiệm vụ giúp Thủ tướng Chính phủ xem xét, lựa chọn những cá nhân có đủ tiêu chuẩn, trình Thủ tướng Chính phủ đề nghị Chủ tịch nước quyết định phong tặng danh hiệu “Nhà giáo Nhân dân”, “Nhà giáo Ưu tú” lần thứ 15.

Thành viên và Tổ thư ký Hội đồng làm việc theo chế  độ kiêm nhiệm; Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan thường trực của Hội đồng. Hội đồng có Tổ Thư ký do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định thành lập. Hội đồng tự giải thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Năm 2025 lĩnh vực vật lý Việt Nam xếp nhóm 5 nước đứng đầu ASEAN

Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình phát triển vật lý giai đoạn 2021-2025. Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2025 lĩnh vực vật lý nước ta được xếp vào nhóm 5 nước đứng đầu trong khu vực ASEAN theo xếp hạng của SCOPUS.

Mục tiêu của Chương trình nhằm nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ của Việt Nam trong lĩnh vực vật lý, kết hợp đào tạo chất lượng cao với nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng. Gắn kết nghiên cứu lý thuyết với nghiên cứu thực nghiệm và nghiên cứu ứng dụng.

Nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên vật lý các trường đại học trong cả nước, thu hút và đào tạo các nhà vật lý trẻ tuổi tài năng. Đến năm 2025 tỉ lệ giảng viên vật lý có bằng tiến sĩ ở khoa vật lý của các trường đại học trọng điểm đạt trên 50%.

Đồng thời, nâng cao vị thế của lĩnh vực vật lý của Việt Nam trên thế giới, phấn đấu đến năm 2025 lĩnh vực vật lý nước ta được xếp vào nhóm 5 nước đứng đầu trong khu vực ASEAN theo xếp hạng của SCOPUS và tăng số công trình công bố trên các tạp chí quốc tế uy tín (thuộc danh mục ISI/SCOPUS) bình quân đạt 30%/năm.

Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm

Để đạt được những mục tiêu trên, Nhà nước đặt hàng xây dựng các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia trong lĩnh vực vật lý có định hướng ứng dụng, đa ngành, liên ngành, gắn với một số công nghệ chủ chốt của công nghiệp 4.0.

Đồng thời, khuyến khích giảng viên vật lý ở các trường đại học đẩy mạnh công tác nghiên cứu. Xây dựng và triển khai các chương trình nghiên cứu cho các giảng viên trẻ môn vật lý trong các trường đại học. Tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên khối chuyên vật lý ở phổ thông.

Đẩy mạnh đào tạo sinh viên, thạc sĩ, tiến sĩ ngành vật lý; có chính sách học bổng cho học sinh, sinh viên giỏi vật lý, các học sinh đạt giải quốc gia và quốc tế.

Đầu tư xây dựng, nâng cấp một số phòng thí nghiệm vật lý ở các trường đại học và viện nghiên cứu có đào tạo sau đại học ngành vật lý. Xây dựng và xuất bản các giáo trình đào tạo học sinh chuyên vật lý, xây dựng chương trình, giáo trình giảng dạy vật lý đạt trình độ tiên tiến trên thế giới cho các trường đại học.

Tăng cường hợp tác quốc tế để phát triển ngành vật lý; nâng cao chất lượng, gia tăng số lượng các tạp chí chuyên ngành vật lý của Việt Nam trong danh mục ISI/SCOPUS; tăng cường công tác thông tin, truyền thông cho lĩnh vực vật lý.

Cùng với đó là khuyến khích các nhà khoa học là người Việt Nam ở nước ngoài và các nhà khoa học quốc tế tham gia vào hoạt động nghiên cứu và đào tạo ngành vật lý.

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhiệm vụ lập Quy hoạch tỉnh Đồng Tháp

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt nhiệm vụ lập Quy hoạch tỉnh Đồng Tháp thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 nhằm sớm đưa vị thế phát triển của Đồng Tháp thành một trong những tỉnh dẫn đầu của vùng đồng bằng sông Cửu Long có kết cấu hạ tầng đô thị và nông thôn theo hướng hiện đại, văn minh.

Mục tiêu lập quy hoạch nhằm cung cấp căn cứ pháp lý quan trọng để quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội; làm cơ sở để xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch đầu tư công của Tỉnh; sớm đưa vị thế phát triển của Đồng Tháp thành một trong những tỉnh dẫn đầu của vùng đồng bằng sông Cửu Long có kết cấu hạ tầng đô thị và nông thôn theo hướng hiện đại, văn minh.

Nhằm đánh giá lại các điểm nghẽn trong phát triển để tìm ra các giải pháp trọng tâm, tiếp tục đưa Đồng Tháp phát triển nhanh, bền vững; loại bỏ các quy hoạch chồng chéo, không phù hợp cản trở đầu tư phát triển trên địa bàn; thực hiện cải cách thủ tục hành chính, bảo đảm công khai minh bạch, công bằng trong huy động, tiếp cận, sử dụng mọi nguồn lực trong hoạt động đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.

Theo đó, nội dung lập quy hoạch phải đảm bảo yêu cầu: Định hướng phát triển, sắp xếp không gian và phân bố nguồn lực cho các hoạt động kinh tế, xã hội phải đồng bộ với quy hoạch cấp quốc gia, cấp vùng, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững gắn với bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu; phù hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế, các cam kết trong các điều ước quốc tế.

Đồng thời, bảo đảm tính liên kết, đồng bộ, khai thác và sử dụng hiệu quả hệ thống kết cấu hạ tầng hiện có giữa các ngành và các vùng liên huyện, các địa phương trên địa bàn tỉnh; xác định cụ thể các khu vực sử dụng cho mục đích quốc phòng, an ninh ở cấp tỉnh, liên huyện và định hướng bố trí trên địa bàn cấp huyện.

Xây dựng và cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo về phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm công bằng xã hội, an sinh xã hội, chú trọng thúc đẩy phát triển các khu vực có điều kiện khó khăn, đặc biệt khó khăn và bảo đảm sinh kế bền vững, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân; phân bổ, khai thác và sử dụng hợp lý, hiệu quả đất đai, tài nguyên thiên nhiên gắn với bảo tồn các giá trị lịch sử - văn hóa, di sản thiên nhiên cho các thế hệ hiện tại và tương lai...

Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp tổ chức lập và hoàn thành lập quy hoạch tỉnh không quá 18 tháng kể từ ngày 5/8/2020.

Căn cứ nội dung nhiệm vụ được phê duyệt, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp tổ chức lập Quy hoạch tỉnh Đồng Tháp thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đảm bảo phù hợp quy định của Luật Quy hoạch năm 2017 và các quy định hiện hành, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật.

Công nhận huyện Thạch Hà (Hà Tĩnh) đạt chuẩn NTM năm 2020

Thủ tướng Chính phủ vừa công nhận huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh đạt chuẩn nông thôn mới (NTM) năm 2020.

Thủ tướng Chính phủ giao UBND tỉnh Hà Tĩnh có trách nhiệm công bố và khen thưởng theo quy định, chỉ đạo huyện Thạch Hà tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí, chú trọng các tiêu chí về sản xuất và môi trường để đảm bảo tính bền vững trong xây dựng NTM.

Bước vào thực hiện chương trình xây dựng NTM, huyện Thạch Hà với xuất phát điểm rất thấp, bình quân đạt 3,27 tiêu chí/xã, tỷ lệ hộ nghèo 11,48%, thu nhập bình quân đầu người đạt 14,5 triệu đồng/người/năm.

Đến nay, huyện đã có bước phát triển khá toàn diện, bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc, hạ tầng được đầu tư đồng bộ. Thu nhập bình quân đầu người đạt 36,89 triệu đồng/người/năm (tăng 2,54 lần so với năm 2011), tỷ lệ hộ nghèo còn 2,2% (giảm 9,28% so với năm 2011), tỷ lệ lao động có việc làm đạt gần 99%, thu ngân sách năm 2019 đạt 464,480 tỷ đồng.

Kết quả huy động nguồn lực trong 10 năm thực hiện xây dựng NTM trên địa bàn huyện đạt hơn 7.973,4 tỷ  đồng. Trong đó, nhân dân đóng góp hơn 2.503 tỷ đồng (chiếm 31,4%).

Nhiệm vụ, giải pháp đổi mới công tác tuyên truyền, thông tin đối ngoại

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa phê duyệt mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đổi mới và nâng cao năng lực công tác thông tin tuyên truyền và thông tin đối ngoại góp phần xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

Mục tiêu nhằm tăng cường công tác thông tin tuyên truyền và thông tin đối ngoại nhằm quảng bá hình ảnh Việt Nam tới các nước có chung đường biên giới, góp phần xây dựng biên giới quốc gia hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

Giai đoạn 2020-2025, các Sở Thông tin và Truyền thông, UBND các huyện biên giới, các đồn Biên phòng được cung cấp các tài liệu chính thống, định hướng bằng ngôn ngữ tiếng Việt, tiếng nước ngoài và tiếng dân tộc nhằm phục vụ công tác thông tin đối ngoại; các lực lượng thông tin đối ngoại khu vực biên giới và các đồn Biên phòng được bồi dưỡng nghiệp vụ công tác thông tin tuyên truyền, thông tin đối ngoại; 100% đồn Biên phòng, 50% các xã, huyện biên giới, 100% cửa khẩu quốc tế, 50% cửa khẩu nội địa, lối mở biên giới được đầu tư trang thiết bị để khai thác các cơ sở dữ liệu thông tin đối ngoại.

Giai đoạn 2025-2030, phấn đấu 100% các xã, huyện biên giới; 100% cửa khẩu nội địa, lối mở biên giới được đầu tư trang thiết bị để khai thác cơ sở dữ liệu thông tin đối ngoại.

Một trong những nhiệm vụ và giải pháp thực hiện mục tiêu trên là sản xuất nội dung phục vụ công tác thông tin tuyên truyền và thông tin đối ngoại. Xây dựng và sản xuất các bản tin, video, clip, thư viện điện tử... bằng tiếng Việt, tiếng nước ngoài, tiếng dân tộc với các nội dung tuyên truyền về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các thành tựu của đất nước, quảng bá hình ảnh đất nước, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, đấu tranh phản bác các thông tin sai trái, bịa đặt.

Đồng thời, xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ công tác thông tin đối ngoại khu vực biên giới. Xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin đối ngoại tập trung, thống nhất trong công tác chỉ đạo hoạt động thông tin đối ngoại trên phạm vi cả nước và khu vực biên giới. Lưu trữ và cung cấp dữ liệu thông tin đến các Sở Thông tin và Truyền thông, UBND các huyện biên giới, các đồn Biên phòng.

Bên cạnh đó, đầu tư, nâng cấp trang thiết bị, phương tiện hiện đại cho các đồn Biên phòng trên toàn tuyến biên giới, phát huy thế mạnh của công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng công tác thông tin tuyên truyền và thông tin đối ngoại khu vực biên giới.

Đầu tư trang thiết bị điện đại phục vụ công tác thông tin tuyên truyền, thông tin đối ngoại khu vực cửa khẩu quốc tế đường bộ, đường biển, đường sắt, đường hàng không, cửa khẩu nội địa, lối mở các tỉnh biên giới để khai thác cơ sở dữ liệu thông tin đối ngoại.

Lồng ghép thông tin đối ngoại với các hoạt động giao lưu xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch, giới thiệu về tiềm năng, thế mạnh, nét văn hóa đặc sắc của các tỉnh biên giới góp phần quảng bá hình ảnh đất nước.

Thành lập Khu kinh tế cửa khẩu Hà Tiên

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng vừa ký Quyết định 21/2020/QĐ-TTg thành lập Khu kinh tế cửa khẩu Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.

Khu kinh tế cửa khẩu Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang là khu vực có ranh giới địa lý xác định, thuộc lãnh thổ và chủ quyền quốc gia, có không gian kinh tế riêng biệt. Khu kinh tế (KKT) cửa khẩu Hà Tiên có diện tích 1.600 ha, gồm 5 phường: Pháo Đài, Đông Hồ, Tô Châu, Bình San, Mỹ Đức.

Ranh giới địa lý của KKT, phía Bắc giáp tỉnh Kampot, Vương quốc Campuchia; phía Nam giáp xã Thuận Yên, thành phố Hà Tiên; phía Đông và Đông Nam giáp xã Phú Mỹ, huyện Giang Thành; phía Tây và Tây Nam giáp vịnh Rạch Giá, thành phố Rạch Giá.

KKT cửa khẩu Hà Tiên được tổ chức thành các khu chức năng gồm khu phi thuế quan, khu cửa khẩu quốc tế, khu công nghiệp, khu du lịch, khu hành chính, khu dân cư và các khu chức năng. Quy mô, vị trí từng khu chức năng được xác định trong quy hoạch chung xây dựng và quy hoạch chi tiết KKT cửa khẩu Hà Tiên.

Hoạt động của KKT của khẩu Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang thực hiện theo pháp luật về đầu tư, pháp luật về doanh nghiệp, Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp và KKT và các văn bản pháp luật có liên quan khác.

Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10/2020. Bãi bỏ Quyết định số 158/1998/QĐ-TTg ngày 3/9/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc áp dụng thí điểm một số chính sách tại khu vực cửa khẩu Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang./.

Diệu Hương