(Chinhphu.vn) – Việt Nam có lộ trình 3-5 năm để đáp ứng các điều kiện về lao động theo cam kết trong Hiệp định CPTTP. Bởi lẽ, đây là điều khoản khá khó và mới với Việt Nam, đặc biệt liên quan tới tổ chức đại diện người lao động, cần thời gian nghiên cứu và xây dựng pháp luật, tổ chức bộ máy để thực thi.
Trao đổi về các cam kết lao động trong Hiệp định CPTPP

Đây là thông tin được chia sẻ tại Tọa đàm báo chí về cam kết lao động trong Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) do Bộ LĐ-TB&XH tổ chức ngày 13/11.

Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế Nguyễn Mạnh Cường cho biết, chiều ngày 12/11, với 100% đại biểu Quốc hội có mặt (469 đại biểu) biểu quyết tán thành, Quốc hội chính thức thông qua Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) cùng các văn kiện liên quan. Tọa đàm là cơ hội để chia sẻ các thông tin về các cam kết của Việt Nam trong CPTPP; các nghiên cứu, đánh giá tác động của CPTPP đối với vấn đề lao động việc làm ở Việt Nam.

Thông tin các cam kết chính về lao động của Việt Nam trong CPTPP, Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế Nguyễn Mạnh Cường cho biết, cam kết lao động của Việt Nam trong CPTPP nằm ở Chương Lao động và Thư trao đổi. Trong đó, cam kết chung về lao động của CPTPP được giữ nguyên trong Chương Lao động của TPP; cam kết riêng về lao động của Việt Nam trong CPTPP là thư trao đổi giữa Bộ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh và Bộ trưởng 10 nước CPTPP.

Các cam kết chung được quy định tại Chương Lao động trong CPTPP bao gồm: các bên sẽ thông qua và duy trì trong các đạo luật và quy định cũng như trong thực tiễn những quyền lao động cơ bản được nêu trong Tuyên bố 1998 của ILO: tự do liên kết và thương lượng tập thể; xóa bỏ lao động cưỡng bức; xóa bỏ lao động trẻ em; xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử trong lao động (mức thông qua và duy trì là mức độ cam kết cao nhất trong các FTA trên thế giới); quy định trong luật pháp và thực hiện trong thực tiễn những điều kiện làm việc ở mức chấp nhận được về lương tối thiểu, giờ làm việc và an toàn sức khỏe nghề nghiệp.

Ông Nguyễn Mạnh Cường cho biết, theo cam kết trong Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Việt Nam có thời gian 3-5 năm để đáp ứng các điều kiện về lao động theo cam kết. Chương về lao động trong CPTPP là cam kết cao nhất trong các Hiệp định thương mại tự do (FTA) hiện có trên thế giới. Theo đó, nếu Việt Nam có vi phạm các cam kết chung liên quan tới lao động, các nước không áp dụng các biện pháp cắt giảm ưu đãi thương mại trong thời hạn 3 năm từ ngày hiệp định có hiệu lực. Nếu Việt Nam có vi phạm với quyền tự do lập hội và thương lượng tập thể, các nước không áp dụng biện pháp đình chỉ ưu đãi thương mại trong thời gian 5 năm đầu. Trong thời gian năm thứ 5 đến năm thứ 7 CPTPP có hiệu lực, các bên sẽ rà soát về các vi phạm của Việt Nam (nếu có) về quyền tự do hiệp hội.

“Các nước đồng ý cho Việt Nam có 3 - 5 năm để thực hiện cam kết liên quan tới lao động vì đây là điều khoản khó và mới với Việt Nam. Đặc biệt liên quan tới tổ chức đại diện người lao động, nên cần thời gian nghiên cứu và xây dựng pháp luật, tổ chức bộ máy, tuyên truyền nâng cao nhận thức để thực thi”, ông Nguyễn Mạnh Cường chia sẻ.

Lý giải về việc đưa nội dung cam kết lao động vào các Hiệp định thương mại tự do (FTA), ông Nguyễn Mạnh Cường cho biết: Theo quy định khi đàm phán và gia nhập các hiệp định, các nước không được tạo ra lợi thế cạnh tranh thương mại bằng việc hạ thấp tiêu chuẩn lao động. Việc tuân thủ các điều kiện, cam kết về lao động là xu thế không thể tránh các nước tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA).

Cụ thể, vào năm 1995 mới chỉ có 3 hiệp định FTA có nội dung cam kết về lao động (chiếm 7.3%) thì đến năm 2016 đã có tới 77 trong tổng số 267 FTA được ký kết ở 136 quốc gia có nội dung về lao động (chiếm 28.8%). Trong đó, 62% mang tính thúc đẩy, 38% mang tính điều kiện (rơi vào các hiệp định của Mỹ, Canada và EU).

Đánh giá tác động của CPTPP đối với vấn đề lao động việc làm ở Việt Nam, Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội Đào Quang Vinh cho biết, khi gia nhập CPTPP, các ngành mà Việt Nam có lợi thế như: dệt may, da giày, thủy sản, chế biến gỗ, lắp ráp điện tử… cần chuẩn bị chu đáo về nguồn lực lao động. Cái khó nhất hiện nay là làm cách nào để chúng ta khai thác được các lợi thế về thị trường khi gia nhập CPTPP khi thuế suất giảm. Mấu chốt nằm ở vấn đề đầu tư và nguồn lực lao động, năng suất lao động. “Chất lượng lao động, năng suất là điều kiện để hàng hoá của chúng ta làm ra được các thị trường trong khu vực CPTPP chấp nhận” –  ông Đào Quang Vinh khẳng định.

Thu Cúc