In bài viết

5 vướng mắc đất đai cần tháo gỡ để đẩy nhanh giải phóng mặt bằng

(Chinhphu.vn) - Theo phản ánh của bà Trọng Bảo Yến (Quảng Ninh), qua thực tiễn triển khai các dự án thu hồi đất tại địa phương cho thấy, mặc dù một số dự án đã có quyết định thu hồi đất gần 01 năm nhưng công tác giải phóng mặt bằng vẫn chưa hoàn thành do còn nhiều vướng mắc trong tổ chức thực hiện pháp luật đất đai.

21/09/2026 07:01

Từ thực tiễn nêu trên, bà Yến đề nghị cơ quan có thẩm quyền quan tâm xem xét, chỉ đạo một số nội dung sau:

(1) Đối với đất có nguồn gốc nông, lâm trường

Nghiên cứu, ban hành hoặc hướng dẫn thống nhất trên phạm vi toàn quốc về việc rà soát, xác định nguồn gốc đất có nguồn gốc nông, lâm trường; làm rõ trách nhiệm của UBND cấp xã, cấp huyện, cơ quan chuyên môn và đơn vị có liên quan trong việc xác minh, xác nhận hồ sơ, đối chiếu hiện trạng sử dụng đất với hồ sơ giao đất, giao khoán, quản lý của các công ty nông, lâm nghiệp qua các thời kỳ.

Hướng dẫn cụ thể việc áp dụng Điều 137, Điều 140, Điều 181 Luật Đất đai năm 2024; Điều 26 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP; Nghị định số 151/2025/NĐ-CP đối với các trường hợp có yếu tố: đất giao khoán, đất xây dựng cơ bản, công trình cấp 4, nhà ở hoặc nhà ở kết hợp sản xuất, diện tích khai hoang thực tế, diện tích nhận chuyển, chia tách được đơn vị nông, lâm trường xác nhận trong quá trình quản lý, sử dụng đất.

Đồng thời, cần có cơ chế xử lý thống nhất đối với các trường hợp tồn tại lịch sử về quy hoạch chồng lấn, diện tích hộ dân sử dụng ổn định nhưng vẫn nằm trong hồ sơ quản lý của công ty nông, lâm nghiệp; tránh tình trạng mỗi địa phương hiểu, áp dụng khác nhau hoặc kéo dài việc xác định quyền lợi của người dân do lý do "chưa thu hồi", "chưa rà soát", "đất nhận khoán", "đất lâm nghiệp", "đất cây ăn quả".

(2) Đối với việc xử lý quy hoạch chồng lấn, chưa phù hợp hiện trạng

Đề nghị chỉ đạo rà soát, hoàn thiện cơ chế xử lý đối với các trường hợp quy hoạch chồng lấn, mâu thuẫn, chưa đồng bộ hoặc không còn phù hợp với hiện trạng sử dụng đất; đặc biệt đối với khu vực có nguồn gốc đất nông, lâm trường, đất quy hoạch rừng nhưng thực tế người dân đã quản lý, sử dụng ổn định qua nhiều thời kỳ.

Hướng dẫn thống nhất việc rà soát, điều chỉnh, đồng bộ hóa giữa quy hoạch lâm nghiệp, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và hồ sơ quản lý đất đai; đồng thời có cơ chế xử lý đối với diện tích thực tế không còn do tổ chức nông, lâm nghiệp quản lý nhưng vẫn còn thể hiện trong quy hoạch, hồ sơ quản lý hoặc cơ sở dữ liệu qua nhiều thời kỳ.

Việc xử lý cần bảo đảm phù hợp hiện trạng, thống nhất áp dụng pháp luật, tháo gỡ khó khăn cho địa phương, hạn chế khiếu nại và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.

(3) Đối với việc xác định điều kiện bồi thường về đất khi thực hiện thu hồi đất

Nghiên cứu hướng dẫn thống nhất việc xác định nguồn gốc đất, điều kiện được bồi thường về đất, hỗ trợ, tái định cư đối với các dự án có nhiều loại nguồn gốc đất; đặc biệt tại các địa phương có lịch sử quản lý đất nông, lâm trường phức tạp, có biến động lớn về ranh giới, diện tích và hiện trạng sử dụng đất qua nhiều thời kỳ.

Việc hướng dẫn cần bảo đảm nguyên tắc đánh giá đầy đủ hồ sơ pháp lý, hồ sơ quản lý qua các thời kỳ, hiện trạng sử dụng đất thực tế, nguồn gốc hình thành, quá trình sử dụng ổn định của người dân; hạn chế tình trạng áp dụng cứng nhắc theo tên gọi loại đất hoặc hồ sơ quản lý đơn lẻ, làm phát sinh khiếu nại, ảnh hưởng tiến độ các dự án phát triển kinh tế - xã hội.

(4) Đối với cách xác định "sản lượng vườn cây còn chưa thu hoạch" theo khoản 2 Điều 103 Luật Đất đai năm 2024

Bộ, ngành chuyên môn hướng dẫn rõ, thống nhất nội hàm và phương pháp xác định các cụm từ: "sản lượng vườn cây còn chưa thu hoạch", "đơn giá bồi thường", "số năm còn lại trong chu kỳ thu hoạch" theo khoản 2 Điều 103 Luật Đất đai năm 2024.

Đồng thời làm rõ cơ sở pháp lý, cơ sở chuyên môn và phương pháp xác định giá trị bồi thường đối với cây lâu năm còn đang trong thời kỳ thu hoạch; đặc biệt đối với trường hợp đơn giá cây trồng được xác định theo phương pháp thu nhập theo pháp luật về giá.

Hướng dẫn cụ thể việc có hay không áp dụng phương pháp thu nhập, tỷ suất chiết khấu, nguyên tắc xác định giá trị hiện tại, cũng như phương pháp tính đối với phần giá trị kinh tế của các năm kinh doanh còn lại trong chu kỳ thu hoạch nhằm bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật, phản ánh phù hợp giá trị thực tế của tài sản tại thời điểm thu hồi đất và hạn chế phát sinh tranh chấp, khiếu nại.

(5) Đối với việc áp dụng quy định về chuyển mục đích sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân

Hướng dẫn thống nhất việc áp dụng khoản 6 Điều 116 Luật Đất đai năm 2024, Nghị định số 226/2025/NĐ-CP và các quy định có liên quan đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân đề nghị chuyển mục đích sử dụng đất không thuộc dự án đầu tư, không thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư theo pháp luật về đầu tư.

Đồng thời làm rõ mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, quy hoạch chung, quy hoạch phân khu, yếu tố hiện trạng khu dân cư và các tiêu chí điều kiện khác trong việc xem xét hồ sơ chuyển mục đích sử dụng đất nhằm bảo đảm thống nhất trong áp dụng pháp luật giữa các địa phương.

Bà Yến mong nhận được sự quan tâm xem xét, giải đáp, hướng dẫn hoặc chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền đối với các nội dung nêu trên để làm cơ sở cho việc tổ chức thực hiện thống nhất pháp luật trong thực tiễn; qua đó góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho địa phương, khơi thông nguồn lực đất đai và nguồn lực đầu tư, hạn chế khiếu nại, khiếu kiện kéo dài, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng và triển khai các dự án phát triển kinh tế - xã hội.

5 vướng mắc đất đai cần tháo gỡ để đẩy nhanh giải phóng mặt bằng- Ảnh 1.

Mặc dù một số dự án đã có quyết định thu hồi đất gần 01 năm nhưng công tác giải phóng mặt bằng vẫn chưa hoàn thành do còn nhiều vướng mắc trong tổ chức thực hiện pháp luật đất đai.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời vấn đề này như sau:

Đối với đất có nguồn gốc nông, lâm trường

Tại Điều 181 Luật Đất đai năm 2024 quy định:

"Điều 181. Đất do các công ty nông, lâm nghiệp quản lý, sử dụng

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm sau đây:

a) Tổ chức rà soát hiện trạng sử dụng đất của các công ty nông, lâm nghiệp đang quản lý, sử dụng đất mà có nguồn gốc nông, lâm trường trên địa bàn về vị trí, ranh giới quản lý, sử dụng đất; diện tích đất đang sử dụng đúng mục đích; diện tích đất sử dụng không đúng mục đích; diện tích đất không sử dụng; diện tích đất đang giao, giao khoán, khoán trắng, cho thuê, cho mượn, liên doanh, liên kết, hợp tác đầu tư, bị lấn, bị chiếm, đang có tranh chấp;

b) Tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt phương án sử dụng đất của công ty nông, lâm nghiệp tại địa phương, bao gồm: xác định diện tích đất công ty nông, lâm nghiệp được tiếp tục sử dụng; diện tích đất bàn giao về địa phương để giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất cho các đối tượng quy định tại khoản 2 Điều này và để phát triển kinh tế - xã hội theo quy định của pháp luật;

c) Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với phần diện tích đất công ty nông, lâm nghiệp được tiếp tục sử dụng theo phương án đã được phê duyệt;

d) Tổ chức việc thu hồi đất để giao Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có đất để quản lý phần diện tích đất của các công ty nông, lâm nghiệp bàn giao về địa phương không thuộc điểm c khoản này;

đ) Căn cứ vào nhu cầu sử dụng đất của địa phương và tình hình sử dụng đất của các công ty nông, lâm nghiệp để tiếp tục rà soát, thu hồi phần diện tích đất giữ lại của các công ty nông, lâm nghiệp theo phương án sử dụng đất đã được phê duyệt nhưng không trực tiếp sử dụng mà cho thuê, cho mượn, giao khoán hoặc khoán trắng cho người khác sử dụng trái pháp luật để quản lý theo quy định của pháp luật, thực hiện chính sách hỗ trợ đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số theo quy định tại Điều 16 của Luật này và để phát triển kinh tế - xã hội.

2. Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm tổ chức quản lý, sử dụng quỹ đất do các công ty nông, lâm nghiệp bàn giao về địa phương vào mục đích theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; lập phương án sử dụng đất đối với diện tích đất quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này như sau:

a) Công nhận quyền sử dụng đất cho người đang sử dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp mà có nguồn gốc là đất được giao, giao khoán, khoán trắng, thuê đất, mượn của nông, lâm trường trước ngày 01 tháng 02 năm 2015 theo hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với diện tích đất đang sử dụng nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp cho cá nhân quy định tại Điều 176 của Luật này, thời hạn sử dụng đất tính từ ngày được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; phần diện tích vượt hạn mức (nếu có) thì ưu tiên giao cho đối tượng theo quy định tại các điểm c, d và đ khoản này hoặc phải chuyển sang thuê đất;

b) Công nhận quyền sử dụng đất cho người đang sử dụng đất mà có giấy tờ của nông, lâm trường quốc doanh về việc giao đất để làm nhà ở hoặc làm nhà ở kết hợp với sản xuất nông, lâm nghiệp trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định tại khoản 2 Điều 137 của Luật này;

c) Giao đất, cho thuê đất để thực hiện chính sách đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng, người thuộc hộ nghèo tại địa phương không có đất hoặc thiếu đất sản xuất;

d) Giao đất, cho thuê đất đối với cá nhân ở địa phương không có đất hoặc thiếu đất sản xuất;

đ) Giao đất, cho thuê đất để sử dụng vào mục đích công cộng và các mục đích khác theo quy định của pháp luật;

e) Giao diện tích đất chưa thực hiện theo quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản này cho Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này".

Tại Điều 26 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2024 của Chính phủ (được bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15/8/2025) quy định:

"Điều 26. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường

Căn cứ vào phương án sử dụng đất đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với hộ gia đình, cá nhân được thực hiện như sau:

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 2 Điều 137 của Luật Đất đai thì diện tích, mục đích sử dụng đất khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được thực hiện như sau:

a) Trường hợp đất đã được sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì diện tích đất ở khi công nhận quyền sử dụng đất được xác định theo quy định tại Điều 141 của Luật Đất đai;

b) Trường hợp đất đã được sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà trên giấy tờ về quyền sử dụng đất đã ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó; trường hợp chưa ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức giao đất ở quy định tại khoản 2 Điều 195 và khoản 2 Điều 196 của Luật Đất đai nếu diện tích thửa đất lớn hơn hoặc bằng hạn mức giao đất ở, được xác định là toàn bộ diện tích thửa đất nếu thửa đất có diện tích nhỏ hơn hạn mức giao đất ở.

Trường hợp diện tích đất đã xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức giao đất ở quy định tại điểm này thì diện tích đất ở được công nhận theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống đó; người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích vượt hạn mức giao đất ở quy định tại điểm này;

c) Đối với phần diện tích còn lại của thửa đất (nếu có) sau khi đã xác định diện tích đất ở theo quy định tại điểm a và điểm b khoản này thì được xác định theo hiện trạng sử dụng đất.

Trường hợp hiện trạng sử dụng là đất nông nghiệp thì được công nhận theo hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất; nếu người sử dụng đất có nhu cầu công nhận vào mục đích đất phi nông nghiệp mà phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện hoặc quy hoạch chung hoặc quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch xây dựng hoặc quy hoạch nông thôn thì được công nhận vào mục đích đó và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 139 của Luật Đất đai và người đang sử dụng đất có nguồn gốc được giao, giao khoán, khoán trắng, thuê đất, mượn đất của nông, lâm trường quy định tại điểm a khoản 2 Điều 181 của Luật Đất đai mà đã tự ý làm nhà ở thì diện tích, mục đích sử dụng đất khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được thực hiện như sau:

a) Đất đã được sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 mà tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất có nhà ở, nhà ở và công trình xây dựng phục vụ đời sống thì diện tích đất ở được công nhận là hạn mức công nhận đất ở theo quy định tại khoản 5 Điều 141 của Luật Đất đai.

Trường hợp diện tích đất đã xây dựng nhà ở, nhà ở và các công trình phục vụ đời sống lớn hơn diện tích đất ở được công nhận quy định tại điểm này thì công nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhưng phải thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với phần diện tích vượt hạn mức công nhận quy định tại điểm này;

b) Đất đã được sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất có nhà ở, nhà ở và công trình xây dựng phục vụ đời sống thì diện tích đất ở được công nhận là hạn mức giao đất ở theo quy định tại khoản 2 Điều 195 và khoản 2 Điều 196 của Luật Đất đai.

Trường hợp diện tích đất đã xây dựng nhà ở, nhà ở và các công trình phục vụ đời sống lớn hơn diện tích đất ở được công nhận quy định tại điểm này thì công nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhưng phải thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với phần diện tích vượt hạn mức giao đất ở quy định tại điểm này;

c) Đối với phần diện tích đất còn lại (nếu có) sau khi đã được xác định theo quy định tại điểm a và điểm b khoản này thì được xác định theo hiện trạng đang sử dụng.

Trường hợp hiện trạng sử dụng là đất nông nghiệp thì được công nhận theo hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất; nếu người sử dụng đất có nhu cầu công nhận vào mục đích đất phi nông nghiệp mà phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện hoặc quy hoạch chung hoặc quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch xây dựng hoặc quy hoạch nông thôn thì được công nhận vào mục đích đó và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất quy định tại điểm a khoản 2 Điều 139 của Luật Đất đai mà trong khu vực đất lấn, chiếm không có ban quản lý rừng thì người đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất để sử dụng vào mục đích bảo vệ, phát triển rừng phòng hộ với hạn mức giao đất quy định tại điểm a khoản 3 Điều 176 của Luật Đất đai, theo hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất theo quy định tại khoản 3 Điều 171 của Luật Đất đai; phần diện tích vượt hạn mức (nếu có) thì ưu tiên giao cho đối tượng theo quy định tại các điểm c, d và đ khoản 2 Điều 181 của Luật Đất đai.

4. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đã sử dụng đất trước ngày giao đất, giao rừng cho các nông, lâm trường, ban quản lý rừng, khu bảo tồn, vườn quốc gia, công ty nông, lâm nghiệp thì người đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định tại Điều 138 của Luật Đất đai.

5. Đối với trường hợp đất có nguồn gốc nông, lâm trường mà nông, lâm trường hoặc các công ty nông, lâm nghiệp sử dụng đất trước đó đã giải thể hoặc phá sản không còn trực tiếp quản lý, sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo việc đo đạc, lập hồ sơ địa chính, đăng ký đất đai và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho các đối tượng đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2024 và Nghị định này mà không phải lập phương án sử dụng đất theo quy định tại Điều 181 Luật Đất đai năm 2024 và Nghị định này".

Căn cứ các quy định nêu trên thì pháp luật đất đai năm 2024 đã có quy định về việc giao trách nhiệm cho UBND cấp tỉnh tổ chức rà soát hiện trạng sử dụng đất của các công ty nông, lâm nghiệp đang quản lý, sử dụng đất mà có nguồn gốc nông, lâm trường trên địa bàn về vị trí, ranh giới quản lý, sử dụng đất… từ đó chỉ đạo tổ chức việc lập phương án sử dụng đất để giải quyết đối với từng trường hợp cụ thể.

Hiện nay Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang được giao nhiệm vụ chủ trì xây dựng và trình ban hành Luật Đất đai (sửa đổi) và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục rà soát nghiên cứu báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Việc xử lý quy hoạch chồng lấn, chưa phù hợp hiện trạng

Tại Điều 6 Luật Quy hoạch năm 2025 quy định nguyên tắc xác định quy hoạch phải điều chỉnh và quy hoạch được thực hiện khi có mâu thuẫn giữa các quy hoạch:

"1. Trường hợp quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc gia mâu thuẫn với quy hoạch tổng thể quốc gia thì quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc gia phải điều chỉnh và thực hiện theo quy hoạch tổng thể quốc gia.

2. Trường hợp quy hoạch ngành mâu thuẫn với quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc gia thì quy hoạch ngành phải điều chỉnh và thực hiện theo quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc gia.

3. Trường hợp quy hoạch vùng mâu thuẫn với quy hoạch ngành, Thủ tướng Chính phủ quyết định quy hoạch phải điều chỉnh và quy hoạch được thực hiện.

4. Trường hợp quy hoạch chi tiết ngành mâu thuẫn với quy hoạch mà quy hoạch đó cụ thể hóa thì quy hoạch chi tiết ngành phải điều chỉnh và thực hiện theo quy hoạch mà quy hoạch đó cụ thể hóa.

5. Trường hợp quy hoạch ngành mâu thuẫn với nhau, quy hoạch chi tiết ngành mâu thuẫn với nhau, quy hoạch chi tiết ngành mâu thuẫn với quy hoạch ngành không phải là quy hoạch được cụ thể hóa thì thực hiện như sau:

a) Trường hợp các quy hoạch do một Bộ tổ chức lập, Bộ trưởng quyết định quy hoạch phải điều chỉnh và quy hoạch được thực hiện;

b) Trường hợp các quy hoạch do các Bộ khác nhau tổ chức lập hoặc do Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức lập, cơ quan, tổ chức phát hiện nội dung mâu thuẫn kiến nghị cơ quan tổ chức lập quy hoạch có liên quan xem xét, xử lý theo thẩm quyền; nếu các cơ quan tổ chức lập quy hoạch không đạt được sự thống nhất, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định quy hoạch phải điều chỉnh và quy hoạch được thực hiện;

c) Trường hợp các quy hoạch thuộc thẩm quyền phê duyệt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định quy hoạch phải điều chỉnh và quy hoạch được thực hiện.

6. Trường hợp quy hoạch tỉnh mâu thuẫn với quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng thì quy hoạch tỉnh phải điều chỉnh và thực hiện theo quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng.

7. Trường hợp quy hoạch tỉnh, quy hoạch chi tiết ngành có nội dung mâu thuẫn với nhau thì thực hiện như sau:

a) Trường hợp quy hoạch tỉnh, quy hoạch chi tiết ngành có nội dung mâu thuẫn với nhau trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản này, cơ quan tổ chức lập quy hoạch chi tiết ngành chủ trì, phối hợp cơ quan tổ chức lập quy hoạch tỉnh xem xét, thống nhất quy hoạch phải điều chỉnh và quy hoạch được thực hiện; nếu cơ quan tổ chức lập quy hoạch chi tiết ngành và cơ quan tổ chức lập quy hoạch tỉnh không đạt được sự thống nhất, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định quy hoạch phải điều chỉnh và quy hoạch được thực hiện;

b) Trường hợp quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, quy hoạch khảo cổ mâu thuẫn với quy hoạch tỉnh thì quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, quy hoạch khảo cổ phải điều chỉnh và thực hiện theo quy hoạch tỉnh.

8. Trường hợp quy hoạch đô thị và nông thôn mâu thuẫn với quy hoạch tỉnh thì quy hoạch đô thị và nông thôn phải điều chỉnh và thực hiện theo quy hoạch tỉnh.

9. Việc xử lý trong trường hợp quy hoạch đô thị và nông thôn mâu thuẫn với nhau thì thực hiện theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn.

10. Việc điều chỉnh quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh trong trường hợp quy hoạch có nội dung mâu thuẫn theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6 và điểm a khoản 7 Điều này thực hiện theo trình tự, thủ tục rút gọn quy định tại Điều 54 của Luật này.

11. Chính phủ quy định chi tiết khoản 3, điểm b khoản 5 và điểm a khoản 7 Điều này".

Về nội dung này thuộc chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tài chính, do đó đề nghị bà liên hệ với Bộ Tài chính để được hướng dẫn cụ thể.

Tại Điều 181 Luật Đất đai đã có quy định về đất do các công ty nông, lâm nghiệp quản lý, sử dụng:

"1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm sau đây:

a) Tổ chức rà soát hiện trạng sử dụng đất của các công ty nông, lâm nghiệp đang quản lý, sử dụng đất mà có nguồn gốc nông, lâm trường trên địa bàn về vị trí, ranh giới quản lý, sử dụng đất; diện tích đất đang sử dụng đúng mục đích; diện tích đất sử dụng không đúng mục đích; diện tích đất không sử dụng; diện tích đất đang giao, giao khoán, khoán trắng, cho thuê, cho mượn, liên doanh, liên kết, hợp tác đầu tư, bị lấn, bị chiếm, đang có tranh chấp;

b) Tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt phương án sử dụng đất của công ty nông, lâm nghiệp tại địa phương, bao gồm: xác định diện tích đất công ty nông, lâm nghiệp được tiếp tục sử dụng; diện tích đất bàn giao về địa phương để giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất cho các đối tượng quy định tại khoản 2 Điều này và để phát triển kinh tế - xã hội theo quy định của pháp luật;

c) Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với phần diện tích đất công ty nông, lâm nghiệp được tiếp tục sử dụng theo phương án đã được phê duyệt;

d) Tổ chức việc thu hồi đất để giao Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có đất để quản lý phần diện tích đất của các công ty nông, lâm nghiệp bàn giao về địa phương không thuộc điểm c khoản này;

đ) Căn cứ vào nhu cầu sử dụng đất của địa phương và tình hình sử dụng đất của các công ty nông, lâm nghiệp để tiếp tục rà soát, thu hồi phần diện tích đất giữ lại của các công ty nông, lâm nghiệp theo phương án sử dụng đất đã được phê duyệt nhưng không trực tiếp sử dụng mà cho thuê, cho mượn, giao khoán hoặc khoán trắng cho người khác sử dụng trái pháp luật để quản lý theo quy định của pháp luật, thực hiện chính sách hỗ trợ đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số theo quy định tại Điều 16 của Luật này và để phát triển kinh tế - xã hội.

2. Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm tổ chức quản lý, sử dụng quỹ đất do các công ty nông, lâm nghiệp bàn giao về địa phương vào mục đích theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; lập phương án sử dụng đất đối với diện tích đất quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này như sau:

a) Công nhận quyền sử dụng đất cho người đang sử dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp mà có nguồn gốc là đất được giao, giao khoán, khoán trắng, thuê đất, mượn của nông, lâm trường trước ngày 01 tháng 02 năm 2015 theo hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với diện tích đất đang sử dụng nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp cho cá nhân quy định tại Điều 176 của Luật này, thời hạn sử dụng đất tính từ ngày được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; phần diện tích vượt hạn mức (nếu có) thì ưu tiên giao cho đối tượng theo quy định tại các điểm c, d và đ khoản này hoặc phải chuyển sang thuê đất;

b) Công nhận quyền sử dụng đất cho người đang sử dụng đất mà có giấy tờ của nông, lâm trường quốc doanh về việc giao đất để làm nhà ở hoặc làm nhà ở kết hợp với sản xuất nông, lâm nghiệp trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định tại khoản 2 Điều 137 của Luật này;

c) Giao đất, cho thuê đất để thực hiện chính sách đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng, người thuộc hộ nghèo tại địa phương không có đất hoặc thiếu đất sản xuất;

d) Giao đất, cho thuê đất đối với cá nhân ở địa phương không có đất hoặc thiếu đất sản xuất;

đ) Giao đất, cho thuê đất để sử dụng vào mục đích công cộng và các mục đích khác theo quy định của pháp luật;

e) Giao diện tích đất chưa thực hiện theo quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản này cho Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này".

Đây là vụ việc cụ thể, đề nghị bà Yến có văn bản và hồ sơ, tài liệu kèm theo gửi cơ quan có chức năng quản lý đất đai tại địa phương để được hướng dẫn, giải quyết theo thẩm quyền và quy định của pháp luật.

Xác định điều kiện bồi thường về đất khi thực hiện thu hồi đất

Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng được quy định tại Điều 95 Luật Đất đai năm 2024, Điều 5 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15/7/2024 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (được sửa đổi, bổ sung tại Điều 11 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026 của Chính phủ).

Do nội dung hỏi của bà là trường hợp cụ thể, không có hồ sơ, tài liệu kèm theo nên Cục Quản lý đất đai không có cơ sở trả lời cụ thể. Đề nghị bà nghiên cứu các quy định nêu trên và liên hệ với cơ quan có chức năng quản lý về đất đai tại địa phương để được hướng dẫn, xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Cách xác định "sản lượng vườn cây còn chưa thu hoạch"

Vướng mắc về xác định "sản lượng vườn cây còn chưa thu hoạch" để tính bồi thường thiệt hại cây lâu năm quy định tại khoản 2 Điều 103 Luật Đất đai đã được Bộ Nông nghiệp và Môi trường tham mưu trình Chính phủ bổ sung tại khoản 2 Điều 2 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15/8/2025 (bổ sung Điều 14a vào Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15/7/2024), quy định:

Trường hợp bồi thường đối với cây lâu năm là loại cho thu hoạch nhiều lần mà không xác định được sản lượng vườn cây còn chưa thu hoạch tương ứng với số năm còn lại trong chu kỳ thu hoạch thì mức bồi thường được tính bằng giá trị thiệt hại thực tế của vườn cây.

Trường hợp khi UBND cấp tỉnh xem xét ban hành đơn giá bồi thường thiệt hại về cây trồng, vật nuôi mà chưa có quy trình sản xuất cây trồng, vật nuôi được cấp có thẩm quyền ban hành thì căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương để ban hành.

Áp dụng quy định về chuyển mục đích sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân

Theo quy định tại khoản 5 Điều 116 Luật Đất đai, cơ quan, người có thẩm quyền căn cứ quy hoạch sử dụng đất cấp huyện hoặc quy hoạch chung hoặc quy hoạch phân khu theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt để xem xét, quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp trong khu dân cư, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở sang đất ở hoặc chuyển mục đích sử dụng các loại đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở đối với hộ gia đình, cá nhân.

Theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 12 Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai:

"b)… Các địa phương khi tổ chức lập điều chỉnh quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 phải xác định chỉ tiêu sử dụng đất do quy hoạch sử dụng đất quốc gia phân bổ và chỉ tiêu sử dụng đất theo nhu cầu sử dụng đất của địa phương đến từng đơn vị hành chính cấp xã".

Tại điểm a khoản 1 Điều 121 Luật Đất đai quy định các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép bao gồm: "a) Chuyển đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất sang loại đất khác trong nhóm đất nông nghiệp".

Tại khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 254/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai, trong đó quy định:

"3. Người có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất trồng lúa sang mục đích khác mà không phải trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận".

Tại khoản 1 Điều 14 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai về phân cấp thẩm quyền cho UBND cấp tỉnh thực hiện trong lĩnh vực đất đai quy định:

"1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, điều chỉnh thời hạn sử dụng đất, gia hạn sử dụng đất, chuyển hình thức sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất, chấp thuận về việc thỏa thuận nhận quyền sử dụng đất để thực hiện dự án, chấp thuận, phê duyệt phương án sử dụng đất.

Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Nghị quyết số 190/2025/QH15 của Quốc hội về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước và tình hình thực tế của địa phương, UBND cấp tỉnh quyết định việc phân cấp, ủy quyền cho cơ quan, người có thẩm quyền thực hiện đối với các nhiệm vụ quy định tại khoản này cho phù hợp.

Tại khoản 1 Điều 15 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai về phân cấp thẩm quyền cho UBND cấp tỉnh thực hiện trong lĩnh vực đất đai quy định: UBND cấp tỉnh quy định trình tự, thủ tục hành chính về đất đai.

Đây là các vụ việc cụ thể, đề nghị bà có văn bản và hồ sơ, tài liệu kèm theo gửi cơ quan có chức năng quản lý đất đai tại địa phương để được hướng dẫn, giải quyết theo thẩm quyền và quy định của pháp luật.

Chinhphu.vn