Căn cứ xác định hành vi lấn, chiếm đất
(Chinhphu.vn) - Ông Văn Cương (Quảng Ninh) được thanh lý tài sản (nhà) trên đất cho công nhân năm 2002, nhưng do bản đồ thanh lý sai, cắt mất phần tài sản nằm trên đất 12,8 m2.
Năm 2003, ông Cương phá dỡ để xây dựng lại nhà và ở ổn định từ đó đến nay, không có tranh chấp.
Năm 2005, chính quyền đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có đo đạc lại nhưng không thấy thông báo điều chỉnh gì, lại cấp nguyên trạng theo bản đồ thanh lý sai. Bây giờ đo đạc lại thì đất có số dư lớn hơn là 12,8 m2. Chính quyền đồng ý bổ sung diện tích dư này nhưng lại ghi chú là đất lấn chiếm, yêu cầu xử phạt.
Ông Cương hỏi, xử phạt như vậy có đúng không? Và mức phạt cụ thể là bao nhiêu, theo quy định nào?
Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời vấn đề này như sau:
Nội dung ông kiến nghị là vấn đề cụ thể liên quan đến hồ sơ, giấy tờ lưu trữ tại địa phương nên Bộ không có cơ sở để trả lời cụ thể, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xin trả lời về nguyên tắc như sau:
Khoản 9 và khoản 31 Điều 3 Luật Đất đai quy định:
"9. Chiếm đất là việc sử dụng đất do Nhà nước đã quản lý mà chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc sử dụng đất của người sử dụng đất hợp pháp khác mà chưa được người đó cho phép.
… 31. Lấn đất là việc người sử dụng đất chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất sử dụng mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc không được người sử dụng hợp pháp diện tích đất bị lấn đó cho phép".
Tại khoản 1 Điều 13 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 04/10/2024 của Chính phủ quy định:
"1. Hành vi lấn đất hoặc chiếm đất do cơ quan, tổ chức của Nhà nước đã quản lý, được thể hiện trong hồ sơ địa chính thuộc địa giới hành chính của xã hoặc các văn bản giao đất để quản lý…".
Việc xác định hành vi vi phạm về lấn, chiếm đất hay không đề nghị ông căn cứ các quy định pháp luật đất đai nêu trên và căn cứ vào hồ sơ, quá trình sử dụng đất để xác định hành vi lấn đất, chiếm đất.
Hành vi lấn, chiếm đất sẽ bị xử phạt vi phạm hành trong lĩnh vực đất đai quy định tại Điều 13 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 04/10/2024 của Chính phủ.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị ông nghiên cứu quy định nêu trên và liên hệ với UBND cấp xã nơi có đất để được xem xét, giải quyết theo quy định.
Chinhphu.vn