Cần Thơ: Từ ruộng lúa lãi gần 30 triệu đồng/ha đến vùng nguyên liệu lớn
(Chinhphu.vn) - Từ mô hình lúa mang lại lợi nhuận gần 30 triệu đồng/ha, TP. Cần Thơ đang từng bước chuyển sang xây dựng vùng nguyên liệu chất lượng cao, phát thải thấp ở quy mô lớn. Hợp tác xã, liên kết chuỗi giá trị và quản lý bằng dữ liệu số được xác định là những nền tảng quan trọng để nhân rộng Đề án 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 (Đề án 1 triệu ha).

Các chuyên gia và ông Võ Văn Liêm bên thửa ruộng tham gia Đề án 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 - Ảnh: VGP/LS
Gần 30 triệu đồng lợi nhuận trên mỗi ha
Sáng 4/8, tại xã Vị Thanh 1, thành phố Cần Thơ, Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ phối hợp với Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế và Hiệp hội Ngành hàng Lúa gạo Việt Nam tổ chức hội thảo đầu bờ với chủ đề "Nhân rộng mô hình vùng nguyên liệu sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp theo Đề án 1 triệu héc-ta tại thành phố Cần Thơ".
Hội thảo có sự tham gia của đại diện 4 hợp tác xã cùng khoảng 70 hộ nông dân đăng ký thực hiện mô hình thuộc Đề án 1 triệu héc-ta trên địa bàn thành phố.
Trong khuôn khổ hội thảo, các đại biểu tham quan mô hình sản xuất lúa theo quy trình bón phân hợp lý, quản lý dinh dưỡng chính xác tại Hợp tác xã Nông nghiệp Kiến Thành, xã Vị Thanh 1.
Kết quả vụ Hè Thu cho thấy lượng giống gieo sạ giảm 42%, tương đương tiết kiệm khoảng 59 kg/ha, giúp giảm chi phí giống khoảng 760.000 đồng/ha. Nông dân cũng giảm được hai lần phun thuốc bảo vệ thực vật trong suốt vụ sản xuất.
Mặc dù giảm đáng kể chi phí đầu vào, năng suất mô hình vẫn đạt 7,87 tấn/ha. Nhờ tối ưu các khâu canh tác, tổng chi phí sản xuất giảm khoảng 3,5 triệu đồng/ha, tương đương 14,3%; trong khi lợi nhuận tăng thêm khoảng 7,2 triệu đồng/ha, tương đương 31,6% so với mô hình đối chứng.

Phó Chủ tịch Hiệp hội Ngành hàng Lúa gạo Việt Nam Lê Thanh Tùng trao đổi với nông dân - Ảnh: VGP/LS
Từ mô hình thí điểm đến vùng nguyên liệu tập trung
Sau hơn hai năm triển khai các mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp theo Đề án 1 triệu héc-ta, thành phố Cần Thơ đang từng bước chuyển từ giai đoạn thí điểm sang hình thành các vùng nguyên liệu lúa quy mô lớn.
Lượng giống gieo sạ giảm 40-50%, lượng phân đạm giảm trên 30%, số lần phun thuốc bảo vệ thực vật giảm 2-3 lần, lượng nước tưới giảm 30-40%, lợi nhuận của người sản xuất có thể tăng thêm tới 6,5 triệu đồng/ha.
Bà Nguyễn Thanh Thúy, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật thành phố Cần Thơ, cho biết Cần Thơ là địa phương trọng điểm sản xuất lúa của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Thành phố đang triển khai Đề án 1 triệu héc-ta với hơn 170.000 ha lúa tham gia, cùng sự tham gia của 171 hợp tác xã và tổ hợp tác.
Theo bà Thúy, những kết quả này cho thấy hiệu quả của việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa, chuyển đổi số và tăng cường liên kết sản xuất, đồng thời là nền tảng để thành phố tiếp tục mở rộng vùng nguyên liệu.

Ông Võ Văn Liêm (phải) chia sẻ với các chuyên gia, HTX và nông dân tại Hội thảo - Ảnh: VGP/LS
Hợp tác xã làm hạt nhân, doanh nghiệp nối dài chuỗi giá trị
Theo các chuyên gia, để chuyển từ mô hình thí điểm sang hình thành vùng nguyên liệu quy mô lớn, điều kiện tiên quyết là tổ chức lại sản xuất thông qua hợp tác xã. Với vai trò tập hợp nông dân, thống nhất quy trình kỹ thuật, điều phối sản xuất, hợp tác xã trở thành hạt nhân giúp hình thành các vùng nguyên liệu có chất lượng đồng đều, tạo điều kiện áp dụng cơ giới hóa, chuyển đổi số và đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp.
Ông Nguyễn Văn Dũng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp tác xã Nông nghiệp Kiến Thành, chia sẻ: “Trước đây, nông dân chủ yếu sản xuất riêng lẻ nên rất khó áp dụng đồng bộ quy trình kỹ thuật cũng như đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp thu mua. Khi cùng tham gia hợp tác xã, các thành viên có thể thống nhất lịch thời vụ, quy trình canh tác và tiêu chuẩn chất lượng. Đây là nền tảng để hình thành vùng nguyên liệu đủ lớn, giúp nông dân nâng cao hiệu quả sản xuất và từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị”.
Ông Lê Thanh Tùng, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngành hàng Lúa gạo Việt Nam, cho biết các mô hình canh tác thuộc Đề án 1 triệu héc-ta đã chứng minh được hiệu quả trong thực tiễn. Thách thức hiện nay không còn nằm ở kỹ thuật sản xuất mà là làm thế nào kết nối vùng nguyên liệu với thị trường thông qua liên kết chuỗi giá trị.
Theo ông Tùng, khi nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và các đơn vị cung ứng dịch vụ cùng tham gia, vùng nguyên liệu mới thực sự tạo ra giá trị bền vững. Việc phát triển các vùng liên kết cũng là nền tảng để xây dựng thương hiệu “Gạo Việt Xanh, phát thải thấp”, thúc đẩy truy xuất nguồn gốc, nâng cao năng lực cạnh tranh và giá trị của gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Từ góc độ doanh nghiệp, ông Phạm Quốc Trung, Tổng Giám đốc Công ty Phân bón MTK - đơn vị đồng hành cùng Đề án 1 triệu héc-ta, cho biết khi vùng nguyên liệu được tổ chức bài bản và có sự liên kết chặt chẽ giữa các bên, doanh nghiệp có thể đầu tư lâu dài vào chuyển giao kỹ thuật, sử dụng vật tư hiệu quả, đồng thời cùng xây dựng những chuỗi giá trị mang lại lợi ích bền vững cho người sản xuất và thị trường.
Quản lý vùng nguyên liệu bằng dữ liệu số
Bên cạnh tổ chức sản xuất và liên kết tiêu thụ, việc quản lý vùng nguyên liệu bằng dữ liệu số được xem là yêu cầu quan trọng nhằm bảo đảm tính minh bạch, khả năng truy xuất nguồn gốc và duy trì chất lượng sản phẩm.
Tại hội thảo, các đại biểu đã thảo luận về định hướng cấp mã số vùng trồng lúa trên cơ sở dữ liệu số ViriCert. Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ, việc cấp mã số vùng trồng sẽ góp phần chuẩn hóa quy trình sản xuất, nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng, đáp ứng yêu cầu của thị trường và tạo nền tảng phát triển vùng nguyên liệu theo hướng hiện đại.
Nền tảng số ViriCert hỗ trợ số hóa thông tin sản xuất, giám sát mức độ tuân thủ quy trình, phục vụ truy xuất nguồn gốc và quản lý toàn bộ quá trình sản xuất trong chuỗi giá trị.
Việc xây dựng mã số vùng trồng trên cơ sở dữ liệu ViriCert không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà còn đánh dấu bước chuyển từ quản lý theo kinh nghiệm sang quản lý dựa trên dữ liệu; từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp; từ chú trọng sản lượng sang nâng cao chất lượng, tính minh bạch và phát triển bền vững.
Từ những mô hình thí điểm ban đầu, thành phố Cần Thơ đang từng bước xây dựng các vùng nguyên liệu được tổ chức sản xuất đồng bộ, gắn kết với doanh nghiệp và quản lý bằng dữ liệu số. Đây là bước đi quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu của Đề án 1 triệu héc-ta, góp phần xây dựng ngành hàng lúa gạo Việt Nam theo hướng hiện đại, minh bạch và phát triển bền vững trong bối cảnh chuyển đổi xanh.
Lê Sơn