Một thửa đất có Bằng khoán điền thổ (bằng tiếng Pháp) đứng tên ông A, loại đất vườn cây trái. Năm 1975, ông A ra nước ngoài và lập giấy ủy quyền cho ông B chăm sóc khu đất, trong đó cho phép ông B xây nhà ở trên đất và khi bán được thì giao trả lại cho ông A. Giấy ủy quyền này được cơ quan có thẩm quyền thời điểm đó xác nhận. Sau đó, ông B giao lại cho con là ông C tiếp tục chăm sóc khu đất.
Đến năm 1994, xảy ra tranh chấp giữa ông C và ông D. Sau khi xem xét, UBND thành phố ban hành quyết định giao ông B tiếp tục chăm sóc khu đất, căn cứ vào giấy ủy quyền năm 1975.
Năm 2015, ông C làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng UBND thành phố từ chối với lý do thửa đất có nguồn gốc thuộc quyền sử dụng của ông A theo Bằng khoán điền thổ.
Ông C đã khởi kiện quyết định này ra tòa. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm năm 2016 đều bác đơn khởi kiện với cùng lý do: nguồn gốc đất thuộc về ông A theo Bằng khoán điền thổ và giấy ủy quyền năm 1975.
Năm 2018, ông C tiếp tục đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, nhưng Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao cũng có thông báo cho rằng trường hợp này không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận vì nguồn gốc đất không thuộc quyền sử dụng của ông C.
Theo khoản 1 Điều 137 Luật Đất đai năm 2024, Bằng khoán điền thổ là một trong những giấy tờ về quyền sử dụng đất được lập trước năm 1993 làm căn cứ cấp Giấy chứng nhận. Tuy nhiên, hiện ông A đã mất, con cháu đang sinh sống ở nước ngoài và không về Việt Nam quản lý thửa đất.
Bà Thanh Tuyền hỏi, trường hợp người đứng tên Bằng khoán đã mất và việc ủy quyền từ năm 1975 không còn hiệu lực, người đang trực tiếp quản lý, sử dụng đất ổn định từ trước năm 1993 đến nay có được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không?
Về vấn đề này, Bộ Nông Nghiệp và Môi trường có ý kiến như sau:
Theo quy định tại Điều 135 Luật Đất đai năm 2024, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được cấp theo từng thửa đất cho người có quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất có nhu cầu và đủ điều kiện.
Tại khoản 1 Điều 137 Luật Đất đai đã quy định các giấy tờ về quyền sử dụng đất làm căn cứ để xem xét cấp Giấy chứng nhận cho người sử dụng đất, trong đó "Bằng khoán điền thổ" là một trong các giấy tờ này.
Căn cứ các quy định nêu trên, thửa đất trong phản ánh, kiến nghị được xem xét cấp Giấy chứng nhận theo thông tin của người được ghi trong "Bằng khoán điền thổ".
Trường hợp người sử dụng đất đã mất thì việc cấp Giấy chứng nhận được thực hiện cấp cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật về dân sự.
Chinhphu.vn