In bài viết

Chăn nuôi an toàn: Thu hẹp khoảng cách từ “biết” đến “làm”

(Chinhphu.vn) - An toàn sinh học trong chăn nuôi không chỉ phụ thuộc vào chuồng trại, thiết bị hay quy trình kỹ thuật. Một trong những "lỗ hổng" khó khắc phục lại nằm ở nhận thức và thói quen của người chăn nuôi. Khi các biện pháp phòng bệnh chưa trở thành việc làm thường xuyên, nguy cơ dịch bệnh và sử dụng kháng sinh không hợp lý vẫn hiện hữu.

30/09/2026 20:22
Chăn nuôi an toàn: Thu hẹp khoảng cách từ “biết” đến “làm”- Ảnh 1.

Chăn nuôi an toàn sinh học là hướng phát triển bền vững, hiệu quả cho ngành chăn nuôi.

"Lỗ hổng" không chỉ nằm ở thiết bị 

Trong chăn nuôi, mầm bệnh có thể xâm nhập qua nhiều con đường, từ con giống, thức ăn, nước uống đến môi trường chuồng trại, người chăm sóc và phương tiện ra vào khu vực nuôi. Vì vậy, kiểm soát một khâu nhưng bỏ ngỏ những khâu còn lại vẫn có thể tạo ra khoảng trống về an toàn sinh học.

Thực tế này đặt ra yêu cầu thay đổi cách tiếp cận: chăn nuôi an toàn không chỉ là đầu tư thêm thiết bị hay xây dựng những quy trình trên giấy, mà phải biến các yêu cầu an toàn sinh học thành thói quen hằng ngày của người nuôi.

PGS.TS Ngô Thị Kim Cúc, Phó Viện trưởng Viện Chăn nuôi và Thú y Việt Nam, cho rằng thách thức lớn trong duy trì an toàn sinh học không hẳn nằm ở thiết bị hay kỹ thuật, mà ở nhận thức và hành vi của người chăn nuôi.

Đây cũng là hướng tiếp cận của dự án "Ứng dụng công nghệ nghiên cứu và đổi mới sáng tạo để nâng cao an toàn sinh học và góp phần giảm thiểu sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi lợn tại hai vùng sinh thái nông nghiệp của Việt Nam".

Theo PGS.TS Ngô Thị Kim Cúc, dự án hướng tới thay đổi thái độ, hành vi của người chăn nuôi, cải thiện an toàn sinh học và khuyến khích sử dụng kháng sinh thận trọng, qua đó góp phần phát triển chăn nuôi lợn bền vững, cạnh tranh và tạo ra thực phẩm an toàn.

Điểm đáng chú ý là cách tiếp cận này không đặt trọng tâm trước hết vào những khoản đầu tư lớn. Năm 2025, dự án sử dụng công cụ BIOCHECK do Đại học Ghent (Bỉ) xây dựng để đánh giá thực trạng an toàn sinh học tại các hộ chăn nuôi ở Hà Nội. Bộ công cụ gồm 109 câu hỏi, xem xét các yếu tố an toàn sinh học cả bên trong và bên ngoài trang trại.

Từ kết quả đánh giá, nhóm dự án cùng chuyên gia quốc tế xác định những nguy cơ, điểm hạn chế và đề xuất biện pháp khắc phục. Hai trang trại tại Hà Nội được lựa chọn để xây dựng mô hình kiểu mẫu dựa trên các tiêu chí của BIOCHECK.

Từ tháng 7/2026, dự án bắt đầu triển khai các biện pháp can thiệp. Theo PGS.TS Ngô Thị Kim Cúc, bước đầu nhận thức của người chăn nuôi đã có chuyển biến, các thực hành an toàn sinh học được chú trọng hơn và một số "lỗ hổng" tại trang trại đang từng bước được khắc phục. Mô hình dự kiến được xây dựng đến tháng 2/2027.

Khoảng cách giữa việc "biết" quy định và thực sự "làm" đúng quy trình là vấn đề không dễ giải quyết.

Tại các hộ chăn nuôi, nhiều biện pháp an toàn sinh học có thể không đòi hỏi công nghệ phức tạp nhưng lại cần được thực hiện đúng và lặp lại thường xuyên. Chỉ một thay đổi nhỏ trong cách bố trí dụng cụ, vệ sinh, khử khuẩn hay kiểm soát người và phương tiện ra vào cũng có thể tác động đến mức độ an toàn của cả trang trại.

Ông Đỗ Quốc Phấn, Phó Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi, Thủy sản và Thú y Hà Nội, đánh giá người dân trên thực tế đã áp dụng một số biện pháp an toàn sinh học, nhưng trước đây chưa phải ai cũng hiểu đầy đủ yêu cầu và ý nghĩa của các biện pháp này.

Theo ông Đỗ Quốc Phấn, qua hoạt động tập huấn và triển khai dự án, nhận thức của người chăn nuôi từng bước được nâng cao. Tuy nhiên, điều quan trọng sau tập huấn vẫn là đưa kiến thức vào thực tế sản xuất. "Từ những kiến thức có được qua tập huấn, quan trọng nhất vẫn là phải bắt tay vào làm", ông Đỗ Quốc Phấn nhấn mạnh.

Người chăn nuôi cần được hướng dẫn trên chính quy trình sản xuất của mình

Từ thực tế triển khai mô hình, PGS.TS Ngô Thị Kim Cúc cho rằng nâng cao nhận thức thông qua đào tạo, tập huấn cần được kết hợp với thay đổi hành vi theo hình thức "cầm tay chỉ việc" và xây dựng các mô hình chuẩn để lan tỏa ra cộng đồng.

Theo bà, đào tạo cần được duy trì thường xuyên, liên tục, song song với các giải pháp và chính sách phù hợp để những mô hình hiệu quả có thể được nhân rộng.

Điều này cho thấy, để thay đổi thói quen sản xuất, chỉ một đợt tuyên truyền hay tập huấn là chưa đủ. Người chăn nuôi cần được hướng dẫn ngay trên chính quy trình sản xuất của mình, nhìn thấy những điểm chưa phù hợp, được chỉ ra cách khắc phục và tiếp tục được theo dõi trong quá trình thực hiện.

Cách làm này cũng giúp chuyển an toàn sinh học từ yêu cầu mang tính khuyến cáo thành một phần của quản trị trang trại.

Một trong những giá trị của mô hình kiểu mẫu là cho thấy an toàn sinh học có thể được bắt đầu từ những việc rất cụ thể trong từng trang trại.

Khi dụng cụ được bố trí hợp lý, quy trình vệ sinh và khử khuẩn được thực hiện đúng, các hướng dẫn được đặt ở vị trí dễ quan sát, việc kiểm soát các yếu tố có nguy cơ đưa mầm bệnh vào chuồng nuôi được thực hiện thường xuyên, thì an toàn sinh học không còn là một khái niệm chung chung.

Quan trọng hơn, những thực hành đó cần được duy trì ngay cả khi dịch bệnh chưa xảy ra. Đây là điểm khác biệt giữa tư duy "xử lý khi có bệnh" và tư duy "phòng bệnh chủ động".

Từ kết quả bước đầu của dự án, có thể thấy thay đổi nhận thức phải đi cùng thay đổi hành vi. Thiết bị và công nghệ có thể hỗ trợ người chăn nuôi, nhưng hiệu quả cuối cùng phụ thuộc vào việc các quy trình có được thực hiện đầy đủ, đúng cách và liên tục hay không.

Vì vậy, xây dựng chăn nuôi an toàn sinh học không chỉ là bài toán kỹ thuật. Đó còn là quá trình thay đổi phương thức tổ chức sản xuất, trong đó người chăn nuôi trở thành chủ thể trực tiếp kiểm soát nguy cơ.

Khi những thao tác vệ sinh, khử khuẩn, kiểm soát người và phương tiện, quản lý con giống, thức ăn, nước uống và các yếu tố có nguy cơ trở thành thói quen thường nhật, an toàn sinh học mới thực sự đi vào sản xuất.

Đây cũng là nền tảng để ngành chăn nuôi giảm rủi ro dịch bệnh, hạn chế sử dụng kháng sinh và từng bước nâng cao chất lượng, an toàn của sản phẩm chăn nuôi.

Đỗ Hương