Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 01/10/2026
(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 01/10/2026.

Hướng dẫn thực hiện đấu thầu theo các Hiệp định CPTPP, EVFTA, UKVFTA
Hướng dẫn thực hiện đấu thầu theo các Hiệp định CPTPP, EVFTA, UKVFTA
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc ký Nghị định số 374/2026/NĐ-CP ngày 30/9/2026 hướng dẫn thực hiện đấu thầu theo Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (Hiệp định CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (Hiệp định EVFTA), Hiệp định Thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai-len (Hiệp định UKVFTA).
Nghị định này quy định quy định về hoạt động lựa chọn nhà thầu thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định CPTPP, Hiệp định EVFTA, Hiệp định UKVFTA đối với gói thầu đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
a) Có giá gói thầu bằng hoặc cao hơn ngưỡng giá quy định tại các Phụ lục I, II và III kèm theo Nghị định này;
b) Thuộc dự án, dự toán của cơ quan mua sắm được liệt kê tại các Phụ lục I, II và III kèm theo Nghị định này;
c) Cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc kết hợp hàng hóa và dịch vụ nêu tại các Phụ lục I, II và III kèm theo Nghị định này;
d) Không thuộc các trường hợp nêu tại khoản 2 Điều này và các trường hợp loại trừ nêu tại các Phụ lục I, II và III kèm theo Nghị định này.
Tư cách hợp lệ của nhà thầu
Nghị định quy định nhà thầu là tổ chức có tư cách hợp lệ khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây: Không đang trong thời gian bị cấm tham dự thầu theo quyết định của cơ quan nhà nước, cơ quan có thẩm quyền ở bất kỳ quốc gia, vùng lãnh thổ nào; đáp ứng điều kiện quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g và h khoản 1 Điều 5 của Luật Đấu thầu.
Nhà thầu là hộ kinh doanh có tư cách hợp lệ khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây: Không đang trong thời gian bị cấm tham dự thầu theo quyết định của cơ quan nhà nước, cơ quan có thẩm quyền ở bất kỳ quốc gia, vùng lãnh thổ nào; đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 5 của Luật Đấu thầu.
Nhà thầu là cá nhân có tư cách hợp lệ khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây: Không đang trong thời gian bị cấm tham dự thầu theo quyết định của cơ quan nhà nước, cơ quan có thẩm quyền ở bất kỳ quốc gia, vùng lãnh thổ nào; đáp ứng quy định tại khoản 3 Điều 5 của Luật Đấu thầu.
Nhà thầu có tư cách hợp lệ theo quy định ở trên được tham dự thầu với tư cách độc lập hoặc liên danh.
Thời gian tổ chức lựa chọn nhà thầu
Đối với đấu thầu rộng rãi có lựa chọn danh sách ngắn, thời gian chuẩn bị hồ sơ quan tâm hoặc hồ sơ dự sơ tuyển tối thiểu là 25 ngày, kể từ ngày đăng tải thông báo mời quan tâm hoặc thông báo mời sơ tuyển đến ngày có thời điểm đóng thầu. Trong trường hợp khẩn cấp mà cơ quan mua sắm xác định khoảng thời gian này là không khả thi thì thời gian chuẩn bị hồ sơ quan tâm hoặc hồ sơ dự sơ tuyển có thể giảm xuống tối thiểu là 10 ngày.
Trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 9, thời gian chuẩn bị hồ sơ dự thầu tối thiểu là 30 ngày, kể từ ngày đăng tải thông báo mời thầu (đối với đấu thầu rộng rãi không lựa chọn danh sách ngắn) hoặc gửi thư mời thầu đến các nhà thầu có tên trong danh sách ngắn (đối với đấu thầu rộng rãi có lựa chọn danh sách ngắn) đến ngày có thời điểm đóng thầu. Trường hợp cơ quan mua sắm tiếp nhận hồ sơ dự thầu qua mạng thì thời gian chuẩn bị hồ sơ dự thầu tối thiểu là 25 ngày.
Thời gian chuẩn bị hồ sơ dự thầu tối thiểu là 10 ngày nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Trường hợp khẩn cấp mà cơ quan mua sắm xác định thời gian chuẩn bị hồ sơ dự thầu theo quy định tại khoản 2 Điều 9 là không khả thi;
- Gói thầu mua sắm hàng hóa thông dụng, sẵn có trên thị trường với đặc tính kỹ thuật được tiêu chuẩn hóa, tương đương nhau về chất lượng và có giá gói thầu không quá 10 tỷ đồng;
- Gói thầu dịch vụ phi tư vấn thông dụng, đơn giản và có giá gói thầu không quá 10 tỷ đồng.
Hình thức và quy trình lựa chọn nhà thầu
Về hình thức lựa chọn nhà thầu, Nghị định quy định đối với gói thầu thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này, chủ đầu tư áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu.
Quy trình chi tiết, trường hợp tổ chức đấu thầu nội khối, việc lựa chọn nhà thầu được thực hiện qua mạng trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia theo quy trình quy định tại Nghị định này, Nghị định số 214/2025/NĐ-CP và theo lộ trình quy định tại khoản 4 Điều 18 của Nghị định này, trừ trường hợp quy định tại khoản 11 Điều 98 của Nghị định số 214/2025/NĐ-CP.
Trường hợp tổ chức đấu thầu quốc tế, việc lựa chọn nhà thầu được thực hiện không qua mạng theo quy trình quy định tại Nghị định này và Nghị định số 214/2025/NĐ-CP.
Nghị định số 374/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 14/11/2026.
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 86/2023/NĐ-CP ngày 07/12/2023 quy định về khung tiêu chuẩn và trình tự, thủ tục, hồ sơ xét tặng danh hiệu "Gia đình văn hóa", "Thôn, tổ dân phố văn hóa", "Xã, phường, thị trấn tiêu biểu" Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà thay mặt Chính phủ, ký Nghị định số 375/2026/NĐ-CP ngày 30/9/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 86/2023/NĐ-CP ngày 07/12/2023 quy định về khung tiêu chuẩn và trình tự, thủ tục, hồ sơ xét tặng danh hiệu "Gia đình văn hóa", "Thôn, tổ dân phố văn hóa", "Xã, phường, thị trấn tiêu biểu"
Cụ thể, Nghị định số 375/2026/NĐ-CP sửa đổi tên Nghị định số 83/2023/NĐ-CP thành Nghị định quy định về khung tiêu chuẩn xét tặng danh hiệu "Gia đình văn hóa", "Thôn, tổ dân phố văn hóa", Xã, phường, đặc khu tiêu biểu".
Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tên gọi và căn cứ xét tặng danh hiệu "Xã, phường, thị trấn tiêu biểu" không còn phù hợp với quy định mới của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng số 06/2026/QH16.
Luật số 06/2026/QH16 đã thay thế cụm từ "thị trấn" bằng cụm từ "đặc khu" tại các quy định liên quan; sửa đổi khoản 1 Điều 29 theo hướng danh hiệu "xã, phường, đặc khu tiêu biểu" được xét tặng hằng năm cho xã, phường, đặc khu có thành tích tiêu biểu trong phong trào thi đua cấp tỉnh.
Do đó, việc sửa đổi tên của Nghị định số 83/2023/NĐ-CP là cần thiết để bảo đảm thống nhất về tên gọi danh hiệu, đối tượng áp dụng, căn cứ xét tặng và khung tiêu chuẩn tương ứng.
Bỏ quy định về trình tự, thủ tục, hồ sơ xét tặng danh hiệu thi đua
Nghị định số 375/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi phạm vi điều chỉnh; bãi bỏ Điều 7, Điều 8 và Phụ lục IV về trình tự, thủ tục, hồ sơ, mẫu biểu xét tặng các danh hiệu văn hóa này.
Bên cạnh đó, sửa đổi khoản 2 Điều 11 theo hướng bổ sung thêm trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc quy định chi tiết, hướng dẫn cụ thể hồ sơ, thủ tục đề nghị xét tặng các danh hiệu này theo quy định.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho biết, Luật số 06/2026/QH16 đã sửa đổi Điều 84 theo hướng Chính phủ quy định chi tiết hồ sơ, thủ tục đối với các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Đồng thời, bộ, ban, ngành, tỉnh, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quy định chi tiết, hướng dẫn cụ thể hồ sơ, thủ tục đề nghị xét tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng thuộc thẩm quyền.
Do đó, việc tiếp tục quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục, mẫu biểu tại Nghị định số 86/2023/NĐ-CP không còn phù hợp và cần bãi bỏ.
Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01/10/2026.
Đối với hồ sơ đề nghị xét tặng các danh hiệu quy định tại Nghị định số 83/2023/NĐ-CP đã được cơ quan có thẩm quyền thẩm định hồ sơ tiếp nhận trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì thực hiện thẩm định, xét duyệt theo quy định tại Luật Thi đua, khen thưởng số 06/2022/QH15 và Nghị định số 83/2023/NĐ-CP.
Trường hợp hồ sơ được thẩm định mà việc áp dụng quy định tại Luật số 06/2026/QH16 và Nghị định này có lợi hơn cho tập thể, cá nhân, hộ gia đình thì áp dụng quy định tại Luật số 06/2026/QH16 và Nghị định này.
KHUNG TIÊU CHUẨN DANH HIỆU GIA ĐÌNH VĂN HÓA.
KHUNG TIÊU CHUẨN DANH HIỆU THÔN, TỔ DÂN PHỐ VĂN HÓA.
KHUNG TIÊU CHUẨN DANH HIỆU XÃ, PHƯỜNG, ĐẶC KHU TIÊU BIỂU.
Thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tại Phiên họp chuyên đề về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội và đánh giá kết quả công tác Quý III năm 2026
Văn phòng Chính phủ vừa ban hành Thông báo số 510/TB-VPCP ngày 01/10/2026 kết luận của Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tại Phiên họp chuyên đề về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội và đánh giá kết quả công tác Quý III năm 2026.
Không để phát sinh nhiệm vụ quá hạn mới
Thông báo nêu rõ, Ban Chỉ đạo yêu cầu người đứng đầu các bộ, cơ quan, địa phương trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo 57 Trung ương về kết quả triển khai nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KHCN, ĐMST, CĐS) của bộ, cơ quan, địa phương mình; quán triệt, tổ chức thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp theo các chương trình, kế hoạch, thông báo kết luận của Ban Chỉ đạo; trong đó, tập trung thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm.
Về xử lý dứt điểm nhiệm vụ chậm, muộn, yêu cầu các bộ, cơ quan, địa phương khẩn trương rà soát toàn bộ nhiệm vụ được giao tại các nghị quyết, chương trình, kết luận của Ban Chỉ đạo, bao gồm nhiệm vụ đã giao của Ban Chỉ đạo Trung ương và các Ban Chỉ đạo trước đây nay đã tích hợp nhiệm vụ vào Ban Chỉ đạo Trung ương, triển khai quyết liệt bảo đảm chất lượng và đúng thời hạn, tập trung xử lý dứt điểm các nhiệm vụ chậm, muộn, không để phát sinh nhiệm vụ quá hạn mới; kịp thời cập nhật kết quả thực hiện lên Hệ thống theo dõi (theodoinq.dcs.vn).
Khẩn trương tháo gỡ các khó khăn về mức thu, sử dụng phí, lệ phí trong quá trình triển khai cấp Phiếu Lý lịch tư pháp điện tử
Về hoàn thiện thể chế, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Công an khẩn trương tháo gỡ các khó khăn về mức thu, sử dụng phí, lệ phí trong quá trình triển khai cấp Phiếu Lý lịch tư pháp điện tử cho công dân Việt Nam ở nước ngoài, hoàn thành trong tháng 10 năm 2026.
Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nội vụ theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền chủ trì, phối hợp các bộ, ngành, địa phương khẩn trương tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai chính sách hỗ trợ đối với người làm công tác chuyên trách về chuyển đổi số, an ninh mạng theo Nghị định số 179/2025/NĐ-CP, hoàn thành trong tháng 10 năm 2026.
Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan khẩn trương hoàn thiện dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, trình Chính phủ trong tháng 10 năm 2026.
Tập trung ưu tiên, tạo chuyển biến rõ nét với CSDL ngành Giáo dục và Đào tạo, CSDL quốc gia về an sinh xã hội
Về phát triển hạ tầng số, cơ sở dữ liệu, chuyển đổi số, các bộ, cơ quan: Giáo dục và Đào tạo, Nội vụ, Y tế, Nông nghiệp và Môi trường, Tư pháp, Tài chính; Tòa án nhân dân tối cao tập trung tối đa nguồn lực, khẩn trương khắc phục, xử lý dứt điểm các tồn tại, hạn chế bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ với các CSDL đã được giao theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Văn bản số 9690/VPCP-CĐS ngày 23 tháng 9 năm 2026; trong đó tập trung ưu tiên, tạo chuyển biến rõ nét với CSDL ngành Giáo dục và Đào tạo, CSDL quốc gia về an sinh xã hội, CSDL quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức, CSDL quốc gia về y tế, hoàn thành trước ngày 30 tháng 11 năm 2026; đối với CSDL bản án, quyết định, hoàn thành trước ngày 30 tháng 6 năm 2027. Đến hết năm 2027, cơ bản hoàn thành công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính và hoàn thiện CSDL quốc gia về đất đai.
Các bộ, cơ quan, địa phương hoàn thiện Khung quản trị dữ liệu, trong đó xác định rõ cơ quan chủ quản, trách nhiệm cập nhật; thực hiện đối soát định kỳ giữa các CSDL, xử lý dứt điểm tình trạng dữ liệu không thống nhất; hoàn thành các nhiệm vụ được giao theo đúng tiến độ để triển khai Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, trong đó ban hành khung kiến trúc số của bộ, cơ quan, địa phương trước ngày 29 tháng 01 năm 2027.
Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công an đẩy mạnh thu hút các dự án FDI quy mô lớn về trung tâm dữ liệu, trung tâm tính toán hiệu năng cao gắn với chuyển giao công nghệ và an ninh mạng, an ninh dữ liệu; đề xuất cơ chế ưu đãi, đơn giản hoá thủ tục đầu tư trong quá trình hoàn thiện dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 2.
Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu, đề xuất các cơ chế, chính sách và giải pháp bảo đảm nguồn cung ứng điện năng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, nhất là vận hành các hệ thống trung tâm dữ liệu lớn và hạ tầng tính toán hiệu năng cao; kịp thời cập nhật trong quá trình rà soát, điều chỉnh Quy hoạch điện VIII.
Làm sạch, gắn số định danh cho 12 triệu dữ liệu văn bằng, chứng chỉ trên VNeID
Về cắt giảm TTHC, cung cấp DVC trực tuyến và Đề án 06, Bộ Giáo dục và Đào tạo khẩn trương triển khai đồng bộ dữ liệu học bạ, văn bằng, chứng chỉ để tích hợp trên VNeID và chỉ đạo các cơ sở giáo dục làm sạch, gắn số định danh cho 12 triệu dữ liệu văn bằng, chứng chỉ trên VNeID, hoàn thành trước ngày 30 tháng 10 năm 2026.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Công an đẩy nhanh tiến độ đồng bộ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để tích hợp trên VNeID và đôn đốc, hướng dẫn địa phương kết nối với hệ thống định danh điện tử để công dân được hưởng mức ưu đãi giảm phí, lệ phí theo Nghị quyết 66.22/2026/NQ-CP về phát triển Công dân số, hoàn thành trước ngày 30 tháng 11 năm 2026.
Bộ Khoa học và Công nghệ khẩn trương hoàn thành thẩm định hệ thống cung cấp dịch vụ chữ ký số công cộng và tổ chức triển khai chữ ký số miễn phí trên VNeID; hoàn thành trong tháng 11 năm 2026.
Bộ Công an: (i) Bảo đảm Cổng Dịch vụ công quốc gia mới và Hệ thống điều phối giải quyết thủ tục hành chính vận hành ổn định, an toàn; nâng cao hiệu năng, xử lý dứt điểm các lỗi kỹ thuật; hoàn thành tích hợp 82 thủ tục hành chính thiết yếu trước ngày 31 tháng 10 năm 2026; (ii) chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Khoa học và Công nghệ khẩn trương triển khai các nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 1830/QĐ-TTg ngày 22 tháng 9 năm 2026 để sớm kết nối VNeID với hệ thống định danh điện tử của Singapore và Lào, thí điểm định danh hàng không quốc tế tại Nội Bài, Tân Sơn Nhất và một số tiện ích xuyên biên giới.
Bộ Xây dựng và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch theo chức năng, nhiệm vụ được giao chủ trì, phối hợp với Bộ Công an khẩn trương rà soát, đẩy mạnh, đồng bộ dữ liệu định danh địa điểm đủ thông tin thuộc phạm vi quản lý với Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm, hoàn thành trước ngày 31 tháng 12 năm 2026.
Các bộ, cơ quan, địa phương rà soát các TTHC, trong đó tập trung vào các TTHC theo Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP và 82 dịch vụ công thiết yếu theo Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW ngày 19 tháng 6 năm 2025, trên 03 nội dung: (i) Thành phần hồ sơ (rà soát, loại bỏ các trường thông tin đã có dữ liệu hoặc không cần thiết); (ii) quy trình thực hiện; (iii) tối ưu hoá giao diện cung cấp dịch vụ công, để cấu hình trên Hệ thống thông tin giải quyết TTHC, bảo đảm đáp ứng các yêu cầu theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp, hoàn thành trong tháng 12 năm 2026; gửi báo cáo về Bộ Tư pháp và Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo trước ngày 05 tháng 01 năm 2027; Bộ Tư pháp tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15 tháng 01 năm 2027.
Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Công an và các bộ, cơ quan, địa phương: (i) Đề xuất giải pháp tổng thể về cắt giảm, đơn giản hóa TTHC dựa trên dữ liệu, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 05 tháng 10 năm 2026; (ii) tổ chức thực hiện chuẩn hóa tên, mã kết quả giải quyết TTHC và mã thành phần hồ sơ; hướng dẫn gắn mã kết quả với mã thành phần hồ sơ để khai thác, tái sử dụng tự động, không yêu cầu người dân, doanh nghiệp cung cấp lại giấy tờ, dữ liệu đã có; báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện trước ngày 31 tháng 10 năm 2026.
Rà soát, tháo gỡ triệt để các điểm nghẽn trong việc thương mại hoá kết quả nghiên cứu
Về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, các bộ, cơ quan và Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp tục đề xuất, thẩm định, phê duyệt, tổ chức thực hiện nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược theo quy định, bảo đảm mỗi nhiệm vụ phải làm rõ mục tiêu tạo giá trị, có đóng góp thực chất vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội; Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ tình hình thực hiện định kỳ trước ngày 30 hằng tháng. Đối với 14 nhiệm vụ đã phê duyệt, các bộ khẩn trương tuyển chọn tổ chức chủ trì để triển khai; đối với 08 nhiệm vụ đã được thẩm định đủ điều kiện còn lại, các bộ, cơ quan khẩn trương hoàn thành phê duyệt trước ngày 15 tháng 10 năm 2026.
Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính xây dựng phương án thí điểm tạo đơn hàng đầu tiên cho sản phẩm công nghệ chiến lược, trình cấp có thẩm quyền chậm nhất trong tháng 6 năm 2027.
Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương rà soát, tháo gỡ triệt để các điểm nghẽn trong việc thương mại hoá kết quả nghiên cứu; khẩn trương nghiên cứu đề xuất bổ sung, hoàn thiện quy định pháp luật về sàn giao dịch khoa học công nghệ, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 30 tháng 10 năm 2026; đề xuất cơ chế phù hợp, hiệu quả để tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp trong việc thực hiện các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm thúc đẩy thương mại hoá kết quả nghiên cứu, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 10 năm 2026.
Bộ Khoa học và Công nghệ khẩn trương nghiên cứu, rà soát ban hành quy định về hoạt động, cơ chế vận hành dùng chung của các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, nhằm tạo điều kiện cho các viện, trường và doanh nghiệp sử dụng; hoàn thành trước ngày 31 tháng 3 năm 2027.
Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo theo chức năng, nhiệm vụ được giao triển khai các giải pháp đổi mới mô hình liên kết "3 Nhà" theo hướng các bộ, cơ quan, doanh nghiệp chủ động đặt bài toán, viện, trường nghiên cứu, Nhà nước kiến tạo và chia sẻ rủi ro, tham gia một phần ngân sách; tập trung phát triển nhân lực theo các nhóm: chuyên gia dẫn dắt; kỹ sư nghiên cứu và phát triển (R&D) - thiết kế - tích hợp; kỹ thuật viên sản xuất, vận hành, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 11 năm 2026.
Các tập đoàn, doanh nghiệp phát huy vai trò trung tâm trong phát triển KHCN, ĐMST, CĐS; chủ động phát hiện, đề xuất tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, xác định các bài toán lớn, sản phẩm và công nghệ trọng điểm; cơ chế tăng cường liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và nhà khoa học; tham gia xuyên suốt từ xác định nhu cầu, đặt hàng, nghiên cứu, lựa chọn công nghệ, đầu tư, thử nghiệm đến tiếp nhận, làm chủ, thương mại hóa, tổ chức sản xuất và phát triển thị trường. Trong đó: Doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp công nghệ cao phát huy vai trò dẫn dắt, tiên phong trong phát triển KHCN, ĐMST, CĐS và xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Rà soát, nhận diện các điểm nghẽn cấp bách về vấn đề tài chính, giải ngân kinh phí cho KHCN, ĐMST, CĐS
Về sử dụng kinh phí, vốn đầu tư và các nguồn lực, các bộ, cơ quan, địa phương tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, hạn chế tối đa chuyển nguồn; trường hợp không có khả năng giải ngân hoặc có nhu cầu bổ sung vốn cho KHCN, ĐMST, CĐS thì báo cáo đề xuất gửi Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính trước ngày 10 tháng 10 năm 2026. Bộ Khoa học và Công nghệ rà soát tổng hợp, gửi Bộ Tài chính trước ngày 20 tháng 10 năm 2026 xem xét, trình cấp có thẩm quyền theo quy định trong tháng 10 năm 2026 để điều chuyển vốn từ các bộ, cơ quan, địa phương giải ngân chậm sang các Bộ, cơ quan, địa phương có khả năng giải ngân tốt và có nhu cầu bổ sung vốn.
Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp Bộ Tài chính xử lý dứt điểm số kinh phí năm 2026 chưa phân bổ, tập trung bố trí kinh phí cho các nhiệm vụ công nghệ chiến lược năm 2026; rà soát kỹ, mạnh dạn đề xuất các cơ chế đột phá; hoàn thành trước ngày 20 tháng 10 năm 2026.
Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, các bộ, cơ quan, địa phương rà soát, nhận diện các điểm nghẽn cấp bách về vấn đề tài chính, giải ngân kinh phí cho KHCN, ĐMST, CĐS; trên cơ sở đó hướng dẫn cho các bộ, cơ quan, địa phương theo thẩm quyền, đề xuất cấp có thẩm quyền đối với các nội dung vượt thẩm quyền; báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện trước ngày 30 tháng 10 năm 2026.
Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ và các bộ, cơ quan liên quan hoàn thiện phương pháp biên soạn tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), bổ sung đo lường trữ lượng vốn theo loại tài sản, ngành kinh tế và chất lượng lao động, mở rộng tính toán TFP theo ngành, lĩnh vực. Hoàn thành thử nghiệm trong năm 2027.
Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp Bộ Tài chính rà soát, cập nhật bổ sung Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả của KHCN, ĐMST, CĐS tại Quyết định số 2244/QĐ-TTg ngày 13 tháng 10 năm 2025; trong đó làm rõ các chỉ tiêu gắn với nghiên cứu và phát triển, thương mại hoá kết quả nghiên cứu, năng suất lao động, TFP và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 12 năm 2026.
Rà soát dư địa tăng trưởng của từng ngành, vùng, địa phương và chuỗi giá trị, xác định rõ điểm nghẽn, bài toán cần giải quyết
Về thúc đẩy kinh tế số, xã hội số gắn với tăng trưởng, năng suất và năng lực cạnh tranh, các bộ, cơ quan, địa phương chủ động tổ chức các hội nghị chuyên đề về phát triển KHCN, ĐMST, CĐS thuộc ngành, lĩnh vực, địa bàn phục vụ trực tiếp cho phát triển kinh tế - xã hội; rà soát dư địa tăng trưởng của từng ngành, vùng, địa phương và chuỗi giá trị, xác định rõ điểm nghẽn, bài toán cần giải quyết, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số; lấy doanh nghiệp làm trung tâm, tham gia trong toàn bộ quá trình; ưu tiên lựa chọn doanh nghiệp có năng lực dẫn dắt, huy động nguồn lực và đưa sản phẩm tham gia chuỗi giá trị trong nước, khu vực và toàn cầu, kết quả gửi về Bộ Công an - Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo trước ngày 15 tháng 11 năm 2026 để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ, trong đó:
Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì tổ chức các hội nghị vùng trong tháng 10 năm 2026 về KHCN, ĐMST, CĐS gắn với dư địa tăng trưởng trong nông nghiệp.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì tổ chức Hội nghị chuyên đề về phát triển du lịch gắn với KHCN, ĐMST, CĐS, hoàn thành trong tháng 11 năm 2026.
Bộ Xây dựng chủ trì tổ chức Hội nghị chuyên đề về phát triển KHCN, ĐMST, CĐS gắn với mục tiêu tăng trưởng trong lĩnh vực xây dựng, hoàn thành trong tháng 11 năm 2026.
Các địa phương chủ động rà soát, triển khai theo thẩm quyền các cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp khoa học và công nghệ, nhất là doanh nghiệp mới thành lập, tạo điều kiện thuận lợi về mặt bằng, trụ sở, thủ tục, cơ chế, chính sách…; nghiên cứu, đề xuất cấp có thẩm quyền các chính sách ưu đãi phù hợp, trong đó có chính sách về thuế, nhằm thúc đẩy thành lập, phát triển doanh nghiệp, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng của địa phương.
Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan và các địa phương đẩy nhanh tiến độ hướng dẫn quy trình, thủ tục cung cấp, quản lý, vận hành nền tảng số, phần mềm kế toán cho doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh, gắn với triển khai thực hiện Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa sau khi được Quốc hội thông qua, hoàn thành trong tháng 3 năm 2027.
Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp các bộ, cơ quan, địa phương tiếp tục rà soát, đánh giá các nhiệm vụ, sản phẩm KHCN, ĐMST của địa phương; đề xuất lựa chọn sản phẩm có khả năng thương mại hóa, tổ chức thành chuỗi giá trị vùng, liên vùng, phát triển thành sản phẩm quốc gia, gắn với doanh nghiệp có năng lực đồng hành, dẫn dắt từ nghiên cứu, hoàn thiện công nghệ, sản xuất đến phát triển thị trường, hướng tới tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 11 năm 2026.
Giao Bộ Khoa học và Công nghệ - đầu mối Tổ Công tác về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và công nghệ chiến lược; Bộ Tài chính - đầu mối Tổ Công tác về tài chính, nguồn lực, chủ trì tổng hợp, xây dựng báo cáo hằng tháng về tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ của Tổ Công tác, gửi Bộ Công an - Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo trước ngày 15 hằng tháng để tổng hợp, báo cáo Ban Chỉ đạo.
Ban hành Bộ Chỉ số đánh giá công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực
Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký Quyết định số 47/2026/QĐ-TTg ngày 30/9/2026 ban hành Bộ Chỉ số đánh giá công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (Bộ Chỉ số).
Nguyên tắc áp dụng Bộ Chỉ số
Nghị định quy định việc áp dụng Bộ Chỉ số phải theo nguyên tắc bảo đảm phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; áp dụng đầy đủ, đồng bộ các nội dung Bộ Chỉ số khi đánh giá công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, bảo đảm độc lập, khách quan, chính xác, trung thực, công khai, minh bạch, khoa học, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Cấu trúc Bộ Chỉ số
Bộ Chỉ số đánh giá công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực gồm: Nhóm tiêu chí tính điểm; Nhóm tiêu chí điểm trừ; Nhóm tiêu chí điểm cộng.
Nhóm tiêu chí tính điểm gồm:
Nhóm A: Xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật để phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực;
Nhóm B: Thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực;
Nhóm C: Phát hiện tham nhũng, lãng phí, tiêu cực;
Nhóm D: Xử lý tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và thu hồi tài sản tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Nhóm tiêu chí điểm trừ gồm:
Việc không thực hiện hoặc chậm nộp báo cáo công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; báo cáo tự đánh giá công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; cung cấp thông tin, báo cáo, hồ sơ, tài liệu minh chứng không chính xác; báo cáo không có tham nhũng, lãng phí, tiêu cực nhưng các cơ quan có thẩm quyền khác lại phát hiện tham nhũng, lãng phí, tiêu cực;
Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan cấp bộ, cấp trực thuộc bộ; cấp tỉnh, cấp trực thuộc tỉnh, cấp xã bị xử lý do tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được các cơ quan khác ngoài cấp bộ; ngoài cấp tỉnh phát hiện.
Nhóm tiêu chí điểm cộng gồm:
- Việc thu hồi tài sản tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vượt chỉ tiêu được giao;
- Chủ động kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý đối với hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực;
- Chủ động kiến nghị biện pháp ngăn chặn việc tẩu tán tài sản tham nhũng, lãng phí, tiêu cực;
- Phát hiện tham nhũng, lãng phí, tiêu cực qua hoạt động điều tra của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực thuộc Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Các tiêu chí áp dụng chung cho cấp bộ, cấp tỉnh
1- Tiêu chí đánh giá việc xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật để phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực gồm các tiêu chí thành phần:
- Việc lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện công tác xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật để phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực;
- Việc lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật để phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực;
- Việc lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, kiểm tra và theo dõi thi hành văn bản quy phạm pháp luật để phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
2- Tiêu chí đánh giá việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước gồm các tiêu chí thành phần:
- Kết quả thực hiện công khai, minh bạch;
- Kết quả kiểm soát xung đột lợi ích;
- Kết quả ban hành, thực hiện định mức, tiêu chuẩn, chế độ;
- Kết quả thực hiện quy tắc ứng xử;
- Kết quả thực hiện chuyển đổi vị trí công tác;
- Kết quả thực hiện cải cách hành chính;
- Ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong quản lý;
- Kết quả thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam;
- Kết quả thực hiện kiểm soát tài sản, thu nhập;
- Kết quả thực hiện quy định về trách nhiệm của người đứng đầu;
- Việc thực hiện cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia về tiết kiệm, chống lãng phí.
3- Tiêu chí đánh giá việc phát hiện tham nhũng, lãng phí, tiêu cực gồm các tiêu chí thành phần:
- Kết quả phát hiện tham nhũng, lãng phí, tiêu cực qua công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra;
- Kết quả phát hiện tham nhũng, lãng phí, tiêu cực qua phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực;
- Kết quả phát hiện tham nhũng, lãng phí, tiêu cực qua hoạt động điều tra.
4- Tiêu chí đánh giá việc xử lý tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và thu hồi tài sản tham nhũng, lãng phí, tiêu cực gồm các tiêu chí thành phần:
- Kết quả xử lý trách nhiệm người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu để xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực;
- Kết quả xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính với tổ chức, cá nhân có vi phạm;
- Kết quả thực hiện các kiến nghị của các cơ quan kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử;
- Kết quả xử lý hình sự người có hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực;
- Thu hồi tài sản tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Tiêu chí đặc thù đối với cấp bộ
Tiêu chí đặc thù được áp dụng đối với cấp bộ có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đặc thù như sau:
- Thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước áp dụng đối với Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Nội vụ, Thanh tra Chính phủ.
- Phát hiện hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực qua công tác thanh tra áp dụng đối với cấp bộ có chức năng thanh tra.
- Phát hiện hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực qua điều tra áp dụng đối với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng.
- Thu hồi tài sản tham nhũng bằng biện pháp tư pháp áp dụng đối với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Bộ Tư pháp.
Tiêu chí đặc thù đối với cấp tỉnh
Tiêu chí đặc thù được áp dụng đối với cấp tỉnh là tiêu chí đánh giá kết quả hướng dẫn thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước gồm các tiêu chí thành phần:
- Kết quả xây dựng và thực hiện quy tắc ứng xử, cơ chế kiểm soát nội bộ.
- Kết quả thực hiện các biện pháp công khai, minh bạch.
- Kiểm soát xung đột lợi ích.
- Chế độ trách nhiệm của người đứng đầu.
Cách tính điểm và kết quả đánh giá công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực
Bộ Chỉ số đánh giá công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo thang điểm 100 đối với 3 nhóm tiêu chí: Các tiêu chí áp dụng chung cho cấp bộ, cấp tỉnh; tiêu chí đặc thù đối với các cấp bộ; tiêu chí đặc thù đối với cấp tỉnh.
Tổng điểm đánh giá = Điểm đánh giá của nhóm tiêu chí tính điểm + Điểm đánh giá của nhóm tiêu chí điểm cộng - Điểm đánh giá của nhóm tiêu chí điểm trừ.
Trường hợp tổng điểm đánh giá vượt quá 100 điểm thì tổng điểm được xác định là 100 điểm.
Kết quả đánh giá công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được xếp thứ tự từ cao xuống thấp chia thành 2 khối, gồm: khối bộ và khối địa phương.
Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 30/9/2026.
Giải thể Ban Chỉ đạo của Chính phủ về quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô và Ban Chỉ đạo quốc gia về Chương trình đánh giá khu vực tài chính
Ngày 30/9/2026, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng ký 2 Quyết định giải thể Ban Chỉ đạo của Chính phủ về quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô và Ban Chỉ đạo quốc gia về Chương trình đánh giá khu vực tài chính.
Cụ thể, tại Quyết định số 1879/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ quyết định giải thể Ban Chỉ đạo quốc gia về Chương trình đánh giá khu vực tài chính được thành lập theo Quyết định số 1908/QĐ-TTg ngày 20/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ.
Tại Quyết định số 1880/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ giải thể Ban Chỉ đạo của Chính phủ về quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô được thành lập theo Quyết định số 2748/QĐ-TTg ngày 18/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ.
Quyết định số 1880/QĐ-TTg nêu rõ: Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao tiếp tục triển khai các giải pháp tham mưu, điều hành kinh tế vĩ mô; xử lý các vấn đề phát sinh theo thẩm quyền; kịp thời tham mưu, đề xuất cấp có thẩm quyền đối với các nội dung vượt thẩm quyền.
2 Quyết định nêu trên có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký (30/9/2026).
Điều động, bổ nhiệm, kéo dài thời hạn và thôi giữ chức vụ, nghỉ hưu một số cán bộ thuộc các đơn vị của Bộ Quốc phòng
Ngày 01/10/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành các quyết định điều động, bổ nhiệm, kéo dài thời hạn và thôi giữ chức vụ, nghỉ hưu một số cán bộ thuộc các đơn vị của Bộ Quốc phòng. Về điều động, bổ nhiệm nhân sự:
Tại Quyết định số 1899/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ điều động, bổ nhiệm Trung tướng Lê Minh Quang, Chính ủy Quân đoàn 34 giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tại Quyết định số 1898/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ điều động, bổ nhiệm Chuẩn Đô đốc Nguyễn Văn Bách, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng.
Tại Quyết định số 1895/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm Thiếu tướng Huỳnh Tấn Hùng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật giữ chức Chính ủy Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật.
Tại Quyết định số 1893/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm Đại tá Lê Văn Sơn, Phó Tham mưu trưởng Quân khu 2 giữ chức Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 2.
Tại Quyết định số 1896/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ điều động, bổ nhiệm Thiếu tướng Trần Minh Trọng, Phó Chính ủy Quân khu 5 giữ chức Chính ủy Quân đoàn 34.
Các Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký (01/10/2026).
Về kéo dài thời hạn giữ chức vụ:
Tại Quyết định số 1894/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ, giữ nguyên chức vụ đến hết tháng 11/2027 đối với Trung tướng Trần Minh Đức, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật.
Tại Quyết định số 1897/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ kéo dài thời hạn giữ chức vụ đến hết tuổi phục vụ tại ngũ đối với Thiếu tướng Trần Văn Xuân, Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị Cảnh sát biển Việt Nam.
Tại Quyết định số 1900/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ kéo dài thời hạn giữ chức vụ đến hết tuổi phục vụ tại ngũ đối với Thiếu tướng Lê Văn Long, Phó Tư lệnh Quân khu 3.
Tại Quyết định số 1901/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ kéo dài thời hạn giữ chức vụ đến hết tuổi phục vụ tại ngũ đối với Thiếu tướng Đàm Xuân Tuấn, Phó Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam.
Các Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký (01/10/2026).
Về thôi giữ chức vụ:
Tại Quyết định số 1891/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ quyết định Trung tướng Đỗ Văn Thiện thôi giữ chức Chính ủy Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật, nghỉ công tác kể từ ngày 01/11/2026 để nghỉ hưu theo chế độ kể từ ngày 01/01/2027.
Tại Quyết định số 1892/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ quyết định Trung tướng Hồ Quang Tuấn, Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, nghỉ hưu theo chế độ từ ngày 01/10/2026.
Phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch UBND 2 tỉnh, thành phố Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký các Quyết định phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch UBND thành phố Bắc Ninh và tỉnh Hưng Yên nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Cụ thể, tại Quyết định số 1886/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch UBND thành phố Bắc Ninh nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Đào Thanh Trường, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy Bắc Ninh.
Tại Quyết định số 1889/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Phạm Bảo Sơn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hưng Yên./.