Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 30/9/2026 (2)
(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 30/9/2026 (2).

Chính phủ giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê cho các địa phương
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc vừa ký ban hành Nghị quyết số 303/NQ-CP ngày 30/9/2026 về việc giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê cho các địa phương giai đoạn 2026 - 2030.
Nghị quyết nêu rõ, nhằm đẩy mạnh triển khai Đề án "Đầu tư xây dựng ít nhất 01 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021 - 2030", Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 07/NQ-CP ngày 12 tháng 01 năm 2026, về việc giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội cho các địa phương giai đoạn 2026 - 2030.
Dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự vào cuộc của các bộ, ngành và địa phương, tình hình phát triển nhà ở xã hội đã có nhiều chuyển biến; thể chế, chính sách dần được hoàn thiện góp phần tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, đơn giản hoá thủ tục đầu tư, xây dựng và bảo đảm tiến độ Đề án xây dựng ít nhất 01 triệu căn nhà ở xã hội theo kế hoạch đề ra.
Mặc dù công tác phát triển nhà ở xã hội đã có kết quả tích cực trong thời gian qua nhưng nguồn cung nhà ở xã hội vẫn còn thiếu, cơ cấu sản phẩm nhà ở còn thiên về sở hữu, trong khi nhu cầu cho thuê nhà ở với giá hợp lý của người lao động là rất lớn.
Ưu tiên phát triển nhà ở cho thuê
Trong thời gian qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có quan điểm chỉ đạo và định hướng lớn về phát triển nhà ở xã hội trong thời gian tới. Do vậy, Chính phủ thống nhất điều chỉnh mục tiêu của Đề án "Đầu tư xây dựng ít nhất 01 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021 - 2030" và giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê giai đoạn 2026 - 2030 cho các địa phương với quan điểm:
1- Phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê là nhiệm vụ chính trị quan trọng nhằm hiện thực hóa quan điểm về "quyền có nơi ở hợp pháp là quyền cơ bản của công dân" và bảo đảm mọi người dân có cơ hội tiếp cận nhà ở an toàn, phù hợp với khả năng chi trả.
2- Bên cạnh nhà ở để bán, cần xác định nhà ở cho thuê là phân khúc chiến lược, dài hạn cho số đông người dân, giúp bảo đảm an sinh xã hội, an ninh trật tự, nâng cao năng suất lao động và góp phần ổn định thị trường bất động sản.
3- Ưu tiên phát triển nhà ở cho thuê, nhất là mô hình chung cư cho thuê có hạ tầng đồng bộ tại các đô thị lớn, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu vực phát triển theo định hướng giao thông công cộng (TOD), vùng động lực và các hành lang kinh tế quan trọng.
4- Ưu tiên bố trí quỹ đất sạch, nguồn vốn ngân sách nhà nước thông qua Quỹ nhà ở của địa phương để phát triển nhà ở cho thuê.
5- Không hoàn toàn phụ thuộc vào ngân sách, huy động nguồn lực xã hội, đặc biệt là các doanh nghiệp bất động sản lớn, có năng lực, kinh nghiệm, trách nhiệm xã hội, tham gia phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê.
Tổng chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê cho các địa phương giai đoạn 2026 - 2030 là 899.857 căn
Nghị quyết của Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2030, phấn đấu hoàn thành hoặc vượt chỉ tiêu đầu tư xây dựng ít nhất 01 triệu căn hộ nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp.
Theo Nghị quyết, Chính phủ giao tổng chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê giai đoạn 2026-2030 cho các địa phương là 899.857 căn; trong đó, chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội để bán, cho thuê mua là 708.834 căn; chỉ tiêu phát triển nhà ở cho thuê là 191.023 căn.
Đối với từng địa phương, Chính phủ giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê giai đoạn 2026 - 2030 đối với TP Hà Nội là 84.000 căn, TP Hồ Chí Minh 181.257 căn, TP Hải Phòng 32.850 căn, TP Huế 10.600 căn, TP Đà Nẵng 26.279 căn, TP Cần Thơ 13.250 căn, TP Đồng Nai 60.054 căn...
Chính phủ yêu cầu các địa phương căn cứ chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê được giao, thực hiện hoàn thành hoặc vượt chỉ tiêu để góp phần hoàn thành mục tiêu chung của cả nước.
Bộ Xây dựng có nhiệm vụ theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc, tổng hợp kết quả triển khai của các địa phương, định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Tăng chỉ tiêu nhà ở xã hội cho thuê, cho thuê mua, giảm nhà ở xã hội để bán
Chính phủ yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đưa chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê được giao tại Nghị quyết này vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội hàng năm để triển khai thực hiện; rà soát các dự án đã có trong quy hoạch, Chương trình phát triển nhà ở cấp tỉnh để triển khai thực hiện đảm bảo hoàn thành các chỉ tiêu được giao.
Đối với các dự án đã khởi công xây dựng, phải đôn đốc các chủ đầu tư dự án tập trung nguồn lực để thực hiện, quyết tâm hoàn thành trong năm 2026.
Đồng thời, nghiên cứu, chỉ đạo các Chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội tăng chỉ tiêu nhà ở xã hội cho thuê, cho thuê mua, giảm nhà ở xã hội để bán; tổ chức lập, phê duyệt danh mục vị trí khu đất đã được xác định để phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê; bố trí đủ quỹ đất để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê tại các vị trí thuận lợi, đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội.
Cùng với đó, có cơ chế khuyến khích nhà đầu tư đã có sẵn quỹ đất sạch phù hợp với quy hoạch, đáp ứng về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, có đủ năng lực tài chính đề xuất dự án để thực hiện giao chủ đầu tư theo quy định.
Cải cách thủ tục hành chính, đưa các dự án nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê vào nhóm "luồng xanh", "luồng ưu tiên"
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đưa các dự án nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê vào nhóm "luồng xanh", "luồng ưu tiên"; thực hiện đồng thời, song song các quy trình về đầu tư, đất đai, quy hoạch, xây dựng, môi trường; rút ngắn tối đa thời gian thẩm định, phê duyệt dự án, giao đất, cấp phép xây dựng và các thủ tục liên quan đảm bảo cắt giảm tối đa thời gian thực hiện thủ tục hành chính.
Các bộ, ngành có liên quan và địa phương trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao chủ động theo dõi, kiểm tra, giám sát, đánh giá tình hình thực hiện phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê. Tăng cường hoạt động giám sát của cộng đồng để các công trình, dự án được thực hiện đúng quy hoạch, thiết kế, đảm bảo chất lượng, tránh thất thoát, lãng phí.
Nghị quyết này thay thế Nghị quyết số 07/NQ-CP ngày 12/1/2026 về việc giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội cho các địa phương giai đoạn 2026 - 2030.

Quy định về chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành doanh nghiệp
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký ban hành Nghị định số 373/2026/NĐ-CP ngày 30/9/2026 về chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành doanh nghiệp.
Nghị định này quy định việc chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành doanh nghiệp, gồm: chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành Công ty cổ phần và chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
7 nguyên tắc chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập thành doanh nghiệp
Nghị định quy định việc chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập thành doanh nghiệp phải đảm bảo 7 nguyên tắc sau:
1- Phù hợp với chủ trương đường lối của Đảng, Chính phủ về nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập.
2- Không thực hiện chuyển đổi thành doanh nghiệp đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc trường hợp giải thể, chuyển giao, tổ chức lại theo quy định của Chính phủ về tổ chức các đơn vị sự nghiệp công lập.
3- Không thực hiện chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập thành doanh nghiệp đối với các trường hợp: bệnh viện, đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp các dịch vụ công cơ bản, thiết yếu trong lĩnh vực y tế; cơ sở giáo dục, đào tạo, trường chuyên biệt và cơ sở giáo dục khác theo quy định Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học, Luật Giáo dục nghề nghiệp; đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện nhiệm vụ chính trị, phục vụ chức năng quản lý nhà nước, thực hiện công tác xã hội.
4- Không thực hiện chuyển đổi thành Công ty cổ phần đối với các đơn vị sự nghiệp công lập đang độc quyền cung ứng dịch vụ sự nghiệp công. Việc chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập độc quyền được thực hiện theo nguyên tắc sau:
- Trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập thuộc bộ, cơ quan ngang bộ là tổ chức duy nhất cung ứng sản phẩm, dịch vụ này trong cả nước: Bộ, cơ quan ngang bộ căn cứ tình hình thực tế để quyết định việc giữ hình thức đơn vị sự nghiệp công lập hoặc thực hiện chuyển thành doanh nghiệp dưới hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ;
- Trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập thuộc tỉnh là tổ chức duy nhất cung ứng sản phẩm, dịch vụ này trên địa bàn tỉnh: UBND cấp tỉnh căn cứ tình hình thực tế để quyết định việc giữ hình thức đơn vị sự nghiệp công lập hoặc thực hiện chuyển thành doanh nghiệp dưới hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
5- Khi thực hiện chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập thành Công ty cổ phần, tỷ lệ vốn Nhà nước nắm giữ tại doanh nghiệp sau chuyển đổi phải phù hợp với quy định pháp luật chuyên ngành và pháp luật về quản lý, đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp (trường hợp có quy định khác nhau về tỷ lệ vốn nhà nước giữa pháp luật chuyên ngành và pháp luật về quản lý, đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành). Trường hợp pháp luật chuyên ngành và pháp luật về quản lý, đẩu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp không có quy định về tỷ lệ Nhà nước nắm giữ vốn tại doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực của đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi thì các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh quyết định tỷ lệ vốn Nhà nước nắm giữ tại doanh nghiệp phù hợp với tình hình của ngành, địa phương, đảm bảo tỷ lệ vốn nhà nước sau chuyển đổi trên 35% vốn điều lệ của doanh nghiệp.
6- Quá trình chuyển đổi không làm gián đoạn việc cung ứng dịch vụ sự nghiệp công.
7- Sau khi chuyển đổi thành Công ty cổ phần hoặc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, việc cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Tiêu chí chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập thành doanh nghiệp
Về tiêu chí chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập thành doanh nghiệp, Nghị định quy định như sau:
1- Đơn vị sự nghiệp công lập được xem xét quyết định chuyển đổi thành Công ty cổ phần khi đáp ứng đồng thời các nguyên tắc ở trên và các tiêu chí sau:
a) Không thuộc lĩnh vực ngành nghề quy định tại điểm a khoản 2 ở dưới;
b) Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và đầu tư hoặc tự bảo đảm được chi thường xuyên trong 02 năm gần nhất với thời điểm xem xét quyết định chuyển đổi.
2. Đơn vị sự nghiệp công lập được xem xét quyết định chuyển đổi thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ khi đáp ứng đồng thời các tiêu chí sau:
a) Đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong ngành, lĩnh vực mà pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp quy định Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ tại doanh nghiệp hoặc lĩnh vực: xuất bản; thông tin điện tử; thông tin cơ sở; thông tin đối ngoại hoặc đơn vị sự nghiệp công lập đang độc quyền cung ứng dịch vụ sự nghiệp công theo quy định tại nguyên tắc 4 ở trên;
b) Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và đầu tư hoặc tự bảo đảm được chi thường xuyên trong 02 năm gần nhất với thời điểm xem xét quyết định chuyển đổi.
2 hình thức chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần
Nghị định quy định 2 hình thức chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần gồm:
- Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại đơn vị sự nghiệp công lập, phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ.
- Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại đơn vị sự nghiệp công lập hoặc vừa kết hợp bán một phần vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ.
Nghị định số 373/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày ký ban hành (30/9/2026).

Phê duyệt Đề án phát triển hệ thống kỹ thuật tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng quốc gia
Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 1876/QĐ-TTg ngày 30/9/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển hệ thống tổ chức kỹ thuật tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng quốc gia (Đề án).
Mục tiêu chung của Đề án là đến năm 2030, hệ thống các tổ chức kỹ thuật tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng cấp quốc gia được kiện toàn, nâng cấp và phát triển trên cơ sở các tổ chức hiện có, có năng lực kỹ thuật cốt lõi, đồng bộ, liên thông, hiện đại và từng bước được quốc tế thừa nhận trong các lĩnh vực tiêu chuẩn hóa, đo lường, công nhận, đánh giá sự phù hợp, năng suất và chất lượng.
Hệ thống đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước; phục vụ phát triển công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược và dự án quan trọng quốc gia; hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng, năng lực cạnh tranh, thúc đẩy xuất khẩu, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế.
Kiện toàn 01 tổ chức công nhận quốc gia đáp ứng tiêu chuẩn ISO/IEC 17011
Đề án đưa ra mục tiêu cụ thể đến năm 2030 như sau:
Đối với tổ chức công nhận quốc gia: Kiện toàn 01 tổ chức công nhận quốc gia đáp ứng tiêu chuẩn ISO/IEC 17011 và yêu cầu của khu vực và quốc tế.
Mở rộng phạm vi công nhận được thừa nhận quốc tế đối với các chương trình mới, ưu tiên trí tuệ nhân tạo, khí nhà kính, xác nhận giá trị sử dụng và kiểm tra xác nhận, chứng nhận Halal.
Bảo đảm 100% chuyên gia tham gia hoạt động đánh giá được đào tạo, cập nhật kiến thức theo tiêu chuẩn, chuẩn mực và hướng dẫn quốc tế có liên quan.
Áp dụng phương pháp đánh giá, phân loại mức độ rủi ro trong hoạt động công nhận. Số hóa 100% quy trình công nhận; hoàn thiện cơ sở dữ liệu công nhận và kết nối với cơ sở dữ liệu dùng chung về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng.
Đối với tổ chức đánh giá sự phù hợp cấp quốc gia: Kiện toàn, nâng cấp tối thiểu 03 tổ chức thử nghiệm, 01 tổ chức chứng nhận và 01 tổ chức giám định hiện có đạt yêu cầu cấp quốc gia, phục vụ chung cho nhiều ngành, lĩnh vực.
Bảo đảm 100% phạm vi hoạt động được công nhận và duy trì công nhận theo tiêu chuẩn, chuẩn mực quốc tế tương ứng.
Phát triển năng lực thử nghiệm, chứng nhận, giám định đối với các lĩnh vực ưu tiên, công nghệ chiến lược, ngành hàng xuất khẩu chủ lực…
Thiết lập và vận hành cơ chế nhận diện, đánh giá, quản lý rủi ro kỹ thuật.
Số hóa 100% quy trình thử nghiệm, chứng nhận, giám định
Đối với tổ chức đo lường cấp quốc gia: Kiện toàn, nâng cấp 01 tổ chức đo lường cấp quốc gia; phục vụ quản lý nhà nước, nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh và hội nhập quốc tế.
Duy trì, phát triển hệ thống chuẩn đo lường quốc gia; mở rộng tối thiểu 50 CMC (khả năng đo lường và hiệu chuẩn) được quốc tế thừa nhận.
Sản xuất và cung cấp tối thiểu 30 loại mẫu chuẩn được chứng nhận; tổ chức tối thiểu 100 chương trình thử nghiệm thành thạo.
Hình thành năng lực thử nghiệm mẫu phương tiện đo theo khuyến nghị OIML; quản lý số 100% dữ liệu kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm và từng bước áp dụng chứng chỉ điện tử.
Đến năm 2030, tỷ lệ tiêu chuẩn quốc gia hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế, khu vực đạt tối thiểu 75%
Đối với tổ chức năng suất quốc gia: Kiện toàn, nâng cấp tổ chức năng suất hiện có đáp ứng yêu cầu tổ chức năng suất quốc gia.
Phát triển, thúc đẩy áp dụng rộng rãi các hệ thống quản lý tiên tiến, công cụ và mô hình năng suất xanh, năng suất số, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Hình thành đội ngũ, mạng lưới chuyên gia năng suất, chất lượng có năng lực triển khai mô hình cải tiến gắn với tiêu chuẩn, đo lường, truy xuất nguồn gốc và chuyển đổi số.
Phát triển nền tảng tư vấn năng suất trực tuyến và cơ sở dữ liệu năng suất ngành, doanh nghiệp, kết nối với nền tảng và cơ sở dữ liệu dùng chung về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng.
Đối với năng lực tiêu chuẩn hóa quốc gia: Củng cố năng lực tiêu chuẩn hóa quốc gia của các cơ quan, tổ chức hiện có, thực hiện hiệu quả vai trò đại diện Việt Nam tham gia các tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế, khu vực.
Đến năm 2030, tỷ lệ tiêu chuẩn quốc gia hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực đạt tối thiểu 75%; xây dựng, công bố khoảng 100 tiêu chuẩn quốc gia phục vụ các nhóm công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược.
Kiện toàn hệ thống ban kỹ thuật, tiểu ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia theo hướng chuyên nghiệp; đào tạo, phát triển tối thiểu 300 chuyên gia tiêu chuẩn hóa quốc tế.
Nâng cao mức độ tham gia và vai trò của Việt Nam tại các ban kỹ thuật, tiểu ban kỹ thuật, nhóm công tác quốc tế.
Số hóa toàn bộ quy trình xây dựng, thẩm định, công bố và phổ biến tiêu chuẩn quốc gia; đến năm 2030, chuyển tối thiểu 50% tiêu chuẩn quốc gia thuộc danh mục ưu tiên sang định dạng tiêu chuẩn thông minh (SMART Standards).
5 nhiệm vụ, giải pháp
Đề án đưa ra 5 nhiệm vụ, giải pháp sau:
1. Hoàn thiện thể chế, chính sách và cơ chế phát triển hệ thống tổ chức kỹ thuật tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng quốc gia: Rà soát, sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách và pháp luật bảo đảm đồng bộ cho việc phát triển hệ thống tổ chức kỹ thuật tiêu chuẩn, đo lường; xây dựng danh mục tổ chức kỹ thuật cấp quốc gia và cốt lõi cần ưu tiên đầu tư theo từng giai đoạn.
Đồng thời, rà soát, trình cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung Kế hoạch phát triển chuẩn đo lường quốc gia đến năm 2030, xây dựng tầm nhìn đến năm 2035 và các kế hoạch có liên quan; có kế hoạch bảo đảm mỗi nhiệm vụ, dự án đầu tư phát triển năng lực đo lường, kiểm định phải kèm theo phương án bảo đảm kinh phí vận hành, bảo trì, tham gia so sánh quốc tế và duy trì điều kiện môi trường phòng thí nghiệm.
2. Phát triển hạ tầng chất lượng quốc gia (NQI) gồm: phát triển hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và phương pháp thử phục vụ hoạt động của tổ chức kỹ thuật cấp quốc gia; hoàn thiện hạ tầng đo lường, kiểm định, hiệu chuẩn và thử nghiệm quốc gia; nâng cao năng lực tổ chức công nhận quốc gia và tổ chức đánh giá sự phù hợp quốc gia; nâng cao năng lực tiêu chuẩn hóa quốc gia, năng lực tổ chức năng suất quốc gia.
3. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho hệ thống tổ chức kỹ thuật tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng quốc gia gồm: xây dựng và triển khai chương trình đào tạo bồi dưỡng chuyên sâu cho đội ngũ chuyên gia, ưu tiên nhân lực trong các lĩnh vực mới; đẩy mạnh hợp tác với các tổ chức quốc tế, viện nghiên cứu, trường đại học; đề xuất cơ chế đào tạo, tuyển dụng, thu hút, sử dụng, đãi ngộ đối với chuyên gia, nghiên cứu cơ chế đặt hàng đối với lĩnh vực công nghệ mới, công nghệ chiến lược…
4. Tăng cường chuyển đổi số về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng: Xây dựng, hoàn thiện nền tảng số và cơ sở dữ liệu dùng chung; phát triển cơ chế tổng hợp, phân tích cảnh báo về yêu cầu kỹ thuật, rào cản kỹ thuật trong thương mại, truy xuất nguồn gốc.
Bên cạnh đó, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, AI dữ liệu lớn trong hoạt động kiểm định, giám định, công nhận; từng bước áp dụng chứng chỉ hiệu chuẩn, thử nghiệm, chứng nhận, giám định; áp dụng thống nhất các định dạng dữ liệu kỹ thuật đã được quốc tế công nhận trong lĩnh vực hạ tầng chất lượng số; hiện đại hóa hệ thống quản lý, lưu trữ, phổ biến tiêu chuẩn…
5. Tăng cường hợp tác quốc tế và huy động nguồn lực: Chủ động tham gia, phát huy vai trò tại các tổ chức, diễn đàn và cơ chế khu vực, quốc tế; huy động quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước để đầu tư cho các tổ chức kỹ thuật cấp quốc gia; tăng cường phối hợp liên ngành và liên kết giữa khu vực công với khu vực tư….

Ban hành Khung kiến trúc an ninh mạng quốc gia
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1875/QĐ-TTg ngày 30/9/2026 ban hành Khung kiến trúc an ninh mạng quốc gia (Phiên bản 1.0).
Khung kiến trúc này được ban hành nhằm thiết lập quy hoạch tổng thể cấp quốc gia về công nghệ, dữ liệu và quy trình phòng thủ, cụ thể hóa các thành phần an ninh mạng dùng chung được quy định tại Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, phù hợp với nguyên tắc dùng chung, chia sẻ tài nguyên, tránh đầu tư thừa, trùng lặp quy định tại Điều 6 và Điều 30 Nghị định số 331/2026/NĐ-CP, bao gồm:
- Nền tảng điều hành an ninh mạng quốc gia: Giám sát, điều phối và chỉ huy ứng phó sự cố an ninh mạng thống nhất.
- Nền tảng phòng vệ mạng quốc gia: Hệ thống lá chắn bảo vệ biên giới số và các hệ thống trọng yếu.
- Hạ tầng bảo đảm an ninh, an toàn dữ liệu đầu cuối: bảo vệ thiết bị và người dùng cuối trong các cơ quan, tổ chức.
- Các hệ thống chuyên ngành an ninh mạng thuộc nhóm các nền tảng số dùng chung quốc gia.
Tài liệu này xác định rõ các thành phần an ninh mạng dùng chung trong toàn bộ hệ thống chính trị. Đây là căn cứ để các đơn vị, địa phương xây dựng, triển khai các giải pháp công nghệ thành phần, bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất về tiêu chuẩn kết nối và dữ liệu.
Phạm vi áp dụng
Khung kiến trúc an ninh mạng quốc gia quy định: (i) các yêu cầu cơ bản về kết nối, chia sẻ dữ liệu giám sát an ninh mạng, không đầu tư trùng lặp với thành phần an ninh mạng dùng chung đã được cung cấp, và các yêu cầu tối thiểu bảo đảm an ninh mạng theo cấp độ hệ thống thông tin; (ii) mô hình kiến trúc tham chiếu để các cơ quan, tổ chức sau xây dựng, cập nhật thành phần an ninh mạng trong Khung kiến trúc số của mình:
- Các bộ, cơ quan ngang bộ.
- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
- Các tổ chức chính trị - xã hội sử dụng ngân sách nhà nước.
- Các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập vận hành các hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
- Các cơ quan của Đảng, Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân.
Yêu cầu kỹ thuật cụ thể về thành phần an ninh mạng theo từng cấp độ hệ thống thông tin thực hiện theo Nghị định số 331/2026/NĐ-CP và Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 14423:2026 (An ninh mạng - Hệ thống thông tin -Yêu cầu cơ bản), không nhắc lại tại Khung kiến trúc an ninh mạng quốc gia. Trách nhiệm kết nối hạ tầng giám sát an ninh mạng quốc gia quy định tại mục tổ chức triển khai, tiểu mục các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Tổng thể các hợp phần hình thành kiến trúc bảo đảm an ninh mạng quốc gia
Các hợp phần bảo đảm an ninh mạng quốc gia cần được xây dựng nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và tuân thủ chặt chẽ theo Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số. Toàn bộ kiến trúc giải pháp bảo đảm an ninh mạng quốc gia là một tập hợp các thành phần kiến trúc có mối quan hệ hữu cơ, tương hỗ lẫn nhau, bao gồm hai nhóm hợp phần chính:
- Kiến trúc An ninh mạng quốc gia (Hợp phần Trụ cột);
- Thành phần bảo đảm an ninh mạng trong Khung kiến trúc số của các cơ quan, tổ chức (Hợp phần Vệ tinh).
Kiến trúc An ninh mạng quốc gia
Kiến trúc An ninh mạng quốc gia được thiết kế dựa trên tư duy phòng thủ chủ động, tích hợp đồng bộ với Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số. Hệ thống được cấu trúc thành 04 lớp chức năng liên kết chặt chẽ, hình thành hệ sinh thái an ninh mạng toàn diện: từ hạ tầng giám sát, dữ liệu chiến lược, nền tảng nghiệp vụ đến công tác chỉ huy, điều hành.
Lớp 1: Hạ tầng an ninh mạng dùng chung trong toàn hệ thống chính trị;
Lớp 2: Dữ liệu chia sẻ dùng chung trong toàn hệ thống chính trị;
Lớp 3: Nền tảng ứng dụng, nghiệp vụ An ninh mạng dùng chung trong toàn hệ thống chính trị;
Lớp 4: Kênh Tương tác và đo lường.
Khung kiến trúc an ninh mạng tham chiếu cấp tỉnh
Mô hình này là khung kiến trúc khái niệm để Ủy ban nhân dân các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương tham chiếu, bổ sung các thành phần an ninh mạng vào Khung kiến trúc số cấp tỉnh. Tại địa phương, mô hình xoay quanh việc hình thành và vận hành Trung tâm an ninh mạng cấp tỉnh, do Công an tỉnh chủ trì quản lý và vận hành.
Mô hình tuân thủ cấu trúc 04 lớp, bảo đảm tính liên thông với Kiến trúc An ninh mạng quốc gia và Kiến trúc tổng thể quốc gia số:
- Lớp 1: Hạ tầng an ninh mạng (Cấp tỉnh);
- Lớp 2: Dữ liệu An ninh mạng (Cấp tỉnh);
- Lớp 3: Nền tảng ứng dụng, nghiệp vụ an ninh mạng (Cấp tỉnh);
- Lớp 4: Kênh Tương tác và đo lường (Cấp tỉnh).
Khung kiến trúc an ninh mạng tham chiếu cho các cơ quan, đơn vị khác
Mô hình tham chiếu này áp dụng cho các cơ quan khối Đảng, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc, Chính phủ (các bộ, cơ quan ngang bộ) và các tập đoàn, tổng công ty nhà nước quan trọng và các cơ quan, đơn vị khác trong hệ thống chính trị. Mục tiêu là định hướng việc xây dựng thành phần an ninh mạng trong Khung kiến trúc số của từng ngành, lĩnh vực, bảo đảm tính đồng bộ và khả năng liên kết với Kiến trúc An ninh mạng Quốc gia.
Mô hình tuân thủ cấu trúc 04 lớp, có sự tương đồng với mô hình tham chiếu cấp tỉnh nhưng được điều chỉnh để phù hợp với tính chất quản lý theo ngành dọc và yêu cầu bảo mật đặc thù của khối cơ quan trung ương:
- Lớp 1: Hạ tầng An ninh mạng;
- Lớp 2: Dữ liệu An ninh mạng (Cấp bộ/ngành/tổ chức);
- Lớp 3: Nền tảng ứng dụng, nghiệp vụ an ninh mạng (Cấp bộ/ngành/tổ chức);
- Lớp 4: Kênh Tương tác và đo lường (Cấp bộ/ngành/tổ chức).

Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/ĐU ngày 12/6/2026 của Đảng ủy Chính phủ về áp dụng cơ chế, chính sách triển khai Đề án "Xây dựng Trung tâm dữ liệu, quản lý, giám sát, xử lý vi phạm và điều hành giao thông giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050"
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc ký Nghị quyết số 298/NQ-CP ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/ĐU ngày 12/6/2026 của Đảng ủy Chính phủ về áp dụng cơ chế, chính sách triển khai Đề án "Xây dựng Trung tâm dữ liệu, quản lý, giám sát, xử lý vi phạm và điều hành giao thông giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050".
Mục tiêu của Kế hoạch nhằm cụ thể hoá và tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết số 05-NQ/ĐU của Đảng ủy Chính phủ và Quyết định số 456/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; xác định rõ trách nhiệm, minh bạch thẩm quyền và cơ chế phối hợp giữa các bộ, cơ quan liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trong triển khai Đề án "Xây dựng Trung tâm dữ liệu, quản lý, giám sát, xử lý vi phạm và điều hành giao thông giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050" (Trung tâm dữ liệu giao thông quốc gia).
Tổ chức áp dụng thống nhất các cơ chế, chính sách đã được cấp có thẩm quyền cho phép; kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về trình tự, thủ tục đầu tư, nguồn lực, dữ liệu, công nghệ và phối hợp liên ngành, bảo đảm tiến độ, chất lượng và hiệu quả thực hiện Đề án.
Triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, dự án thành phần; hình thành hệ thống quản lý, giám sát, xử lý vi phạm và điều hành giao thông trên phạm vi toàn quốc, từng bước xây dựng nền tảng dữ liệu giao thông quốc gia phục vụ quản trị giao thông hiện đại, phát triển Chính phủ số và cung cấp dịch vụ số cho người dân và doanh nghiệp.
7 nhiệm vụ trọng tâm của Kế hoạch
Kế hoạch đưa ra 7 nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện gồm: 1- Quán triệt, xây dựng kế hoạch; 2- Hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; 3- Xây dựng nền tảng kiến trúc, dữ liệu và công nghệ thống nhất; 4- Tổ chức thực hiện cơ chế đầu tư; 5- Tổ chức huy động, bố trí và điều phối nguồn lực; 6- Tổ chức triển khai các dự án thành phần; 7- Kiện toàn tổ chức bộ máy, đào tạo nhân lực. Trong đó:
Giao trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân với các mục tiêu được lượng hóa cụ thể
Về quán triệt và xây dựng kế hoạch, Nghị quyết 298/NQ-CP giao các bộ ngành, địa phương liên quan tổ chức quán triệt, triển khai thống nhất, đồng bộ và hiệu quả các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, cơ chế, chính sách của Nghị quyết số 05-NQ/ĐU và Quyết định số 456/QĐ-TTg;
Xây dựng và ban hành kế hoạch triển khai thực hiện với các mục tiêu được lượng hoá cụ thể; giao trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, cá nhân trong quá trình tổ chức thực hiện Đề án; quy định về trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện Kế hoạch hằng năm.
Bảo đảm hành lang pháp lý cho việc đầu tư, vận hành Trung tâm dữ liệu giao thông quốc gia và triển khai các dịch vụ số trong lĩnh vực trật tự, an toàn giao thông
Về hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, Nghị quyết 298/NQ-CP giao các bộ ngành, địa phương liên quan rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, quy trình nghiệp vụ, hướng dẫn chuyên môn và các quy định cần thiết để bảo đảm hành lang pháp lý đầy đủ, thống nhất cho việc đầu tư, xây dựng, quản lý, vận hành, khai thác Trung tâm dữ liệu giao thông quốc gia và triển khai các dịch vụ số trong lĩnh vực trật tự, an toàn giao thông.
Hoàn thiện cơ chế quản trị dữ liệu, quản trị trí tuệ nhân tạo, quản lý chuỗi bằng chứng điện tử; quy định về phân loại dữ liệu, phân quyền truy cập, quản lý chất lượng dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật nhà nước, bí mật nghiệp vụ, an ninh mạng và an ninh dữ liệu, an ninh thông tin mạng; bảo đảm dữ liệu được quản lý thống nhất, an toàn, có khả năng kiểm soát, truy vết trong toàn bộ vòng đời dữ liệu và bảo đảm giá trị pháp lý của chuỗi bằng chứng điện tử phục vụ công tác quản lý nhà nước.
Chuẩn hóa, kết nối, tích hợp, chia sẻ và khai thác dữ liệu giao thông
Xây dựng, ban hành và tổ chức áp dụng kiến trúc tổng thể hệ thống Trung tâm dữ liệu giao thông quốc gia, làm căn cứ thống nhất cho việc lập, thẩm định, triển khai, kết nối, nghiệm thu và vận hành các dự án thành phần.
Xây dựng kiến trúc dữ liệu, kiến trúc hạ tầng truyền dẫn; từ điển dữ liệu dùng chung, tiêu chuẩn kết nối và nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu bảo đảm kết nối thống nhất giữa Trung tâm cấp 1, các Trung tâm cấp 2, hệ thống giám sát giao thông, các cụm xử lý - lưu trữ vùng và các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, hệ thống thông tin có liên quan.
Xây dựng và tổ chức thực hiện lộ trình chuẩn hóa, kết nối, tích hợp, chia sẻ và khai thác dữ liệu giao thông; phát triển các nền tảng số, dịch vụ số và ứng dụng số phục vụ quản lý nhà nước, người dân và doanh nghiệp; chuẩn hóa, số hóa và tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ theo hướng điện tử hóa, khai thác dữ liệu số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý, giám sát, xử lý vi phạm và điều hành giao thông;
Đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển, sản xuất và sử dụng các sản phẩm công nghiệp an ninh, sản phẩm công nghệ số trong nước phục vụ triển khai Đề án; ưu tiên các công nghệ nền tảng, hệ thống camera, thiết bị truyền dẫn, lưu trữ, xử lý dữ liệu, bảo mật và trí tuệ nhân tạo; khuyến khích doanh nghiệp trong nước tham gia nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ, bảo đảm đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, khả năng tích hợp, hiệu quả đầu tư, từng bước nâng cao năng lực tự chủ công nghệ, giảm phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài, bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống và chủ quyền dữ liệu quốc gia...
Tổ chức triển khai các dự án thành phần, đảm bảo đồng bộ trên phạm vi toàn quốc
Các bộ ngành, địa phương liên quan tổ chức triển khai đồng bộ các dự án thành phần thuộc Đề án theo đúng mục tiêu, phạm vi, tiến độ và lộ trình được phê duyệt; bảo đảm thống nhất về kiến trúc tổng thể, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, dữ liệu, công nghệ, kết nối, chia sẻ dữ liệu và khả năng vận hành đồng bộ trên phạm vi toàn quốc.
Thiết lập cơ chế kiểm soát, thẩm tra và đánh giá sự phù hợp, mức độ đồng bộ, liên thông, hiệu quả kết nối của các dự án, nhiệm vụ, đề xuất đầu tư, nâng cấp hoặc mở rộng hệ thống thuộc phạm vi Đề án; kịp thời phát hiện, xử lý các trường hợp không bảo đảm yêu cầu đồng bộ, liên thông hoặc không phù hợp với kiến trúc tổng thể của Đề án.
Kiện toàn tổ chức bộ máy, đào tạo nhân lực
Kiện toàn tổ chức bộ máy và bố trí đầu mối thực hiện Đề án tại các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan, địa phương; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị và cá nhân trong quá trình tổ chức triển khai, quản lý, vận hành và khai thác hệ thống.
Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức, viên chức bảo đảm các cơ quan, đơn vị được giao quản lý, vận hành có đủ năng lực tiếp nhận, làm chủ công nghệ, vận hành và khai thác Trung tâm dữ liệu giao thông quốc gia trong dài hạn; rà soát, xây dựng chính sách thu hút, tuyển dụng và đãi ngộ nhân lực trong các lĩnh vực dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, công nghệ thông tin, an toàn thông tin và an ninh mạng…

Sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 24/02/2026 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và Nghị quyết số 155/NQ-CP ngày 19/6/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại Nghị quyết số 30/NQ-CP
Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà thay mặt Chính phủ ký ban hành Nghị quyết số 299/NQ-CP ngày 29/9/2026 sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 24/02/2026 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và Nghị quyết số 155/NQ-CP ngày 19/6/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại Nghị quyết số 30/NQ-CP (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 30/NQ-CP). Bổ sung các quan điểm, định hướng lớn
Cụ thể, Nghị quyết số 299/NQ-CP bổ sung các quan điểm, định hướng lớn tại phần II Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam như sau:
Bổ sung nội dung vào mục 1:
- Chuyển mạnh tư duy coi văn hóa là một lĩnh vực phát triển sang xác lập văn hóa là nền tảng, trụ cột phát triển, nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm của quốc gia và động lực tăng trưởng mới; bảo đảm yêu cầu phát triển văn hóa được thể hiện đầy đủ trong các chủ trương, chính sách về kinh tế, chính trị, giáo dục, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và quản trị quốc gia.
- Chuyển từ tư duy bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa bảo tồn và sáng tạo; vừa giữ gìn, phát huy các giá trị truyền thống, vừa chuyển hóa thành tri thức mới, tài sản trí tuệ, sản phẩm, thị trường và sức mạnh mềm quốc gia.
Bổ sung nội dung vào mục 4:
- Chuyển từ phát triển văn hóa chủ yếu trong không gian truyền thống sang phát triển đồng bộ trong không gian thực và không gian số. Xây dựng năng lực tự chủ về dữ liệu, nền tảng và nội dung văn hóa Việt Nam, coi đây là một bộ phận quan trọng của chủ quyền quốc gia trong thời đại số. Chủ động tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu thêm bản sắc dân tộc, qua đó nâng cao sức hấp dẫn và khả năng lan tỏa của văn hóa Việt Nam.
- Đẩy mạnh xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số; nâng cao sức hấp dẫn, khả năng lan tỏa và bảo vệ các giá trị văn hóa dân tộc.
Bổ sung nội dung vào mục 5:
Chuyển mạnh tư duy quản lý văn hóa sang tư duy kiến tạo phát triển; phát huy vai trò chủ thể sáng tạo của Nhân dân; khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cộng đồng; huy động tối đa các nguồn lực trong và ngoài nhà nước để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, có sức cạnh tranh và khả năng lan tỏa trong thời kỳ mới.
Bổ sung nội dung vào mục 6:
Phát huy vai trò của văn hóa đối với mục tiêu tăng trưởng "2 con số", xác định rõ các lĩnh vực có khả năng tạo tăng trưởng, địa phương có điều kiện hình thành trung tâm dẫn dắt, doanh nghiệp có năng lực triển khai và các dự án có khả năng tạo ra sản phẩm, doanh thu, việc làm, tài sản trí tuệ và mở rộng thị trường.
Bổ sung 07 nhiệm vụ
Nghị quyết số 299/NQ-CP bổ sung 07 nhiệm vụ vào Phụ lục ban hành kèm theo Chương trình hành động, cụ thể như sau:
1. Xây dựng, trình ban hành Kế hoạch của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam về việc tổ chức Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ tư. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan; thời hạn hoàn thành Quý III năm 2026 (tại phần II Phụ lục Chương trình hành động).
2. Xây dựng và triển khai thực hiện một kênh chuyên biệt về âm nhạc, phát liên tục trong ngày trên Đài Tiếng nói Việt Nam. Đề nghị Đài Tiếng nói Việt Nam chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các cơ quan liên quan; thời hạn hoàn thành tháng 10 năm 2026 (tại phần III Phụ lục Chương trình hành động).
3. Ưu tiên xây dựng các nhóm dữ liệu nền tảng về tiếng Việt, lịch sử, di tích, di sản văn hóa phi vật thể, hiện vật bảo tàng, thư viện, văn học, nghệ thuật truyền thống và di sản tư liệu. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, các bộ, ngành, địa phương; thời hạn hoàn thành năm 2026 và những năm tiếp theo (tại phần IV Phụ lục Chương trình hành động).
4. Xây dựng Báo cáo chuyên đề "Phát triển công nghiệp văn hóa góp phần vào mục tiêu tăng trưởng hai con số", trình tại Phiên họp chuyên đề tiếp theo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan; thời hạn hoàn thành tháng 11/2026 (tại phần VI Phụ lục Chương trình hành động).
5. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trọng điểm về phát triển công nghiệp văn hóa (như: Các thành phố trực thuộc trung ương) lãnh đạo, chỉ đạo lựa chọn một số lĩnh vực có lợi thế và không quá 3 dự án quan trọng, mang tính dẫn dắt, lan tỏa để triển khai thực hiện theo quy định pháp luật về đầu tư, đầu tư công. Mỗi dự án phải xác định rõ sản phẩm, doanh nghiệp thực hiện, nguồn vốn, thị trường, tài sản trí tuệ và mức đóng góp dự kiến vào GRDP, tạo việc làm, xuất khẩu hoặc thu hút du lịch. Ủy ban nhân dân các thành phố trực thuộc trung ương chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan; thời hạn hoàn thành tháng 12/2026 (tại phần VI Phụ lục Chương trình hành động).
6. Ủy ban nhân dân các thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ, Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh rà soát, xác định nhu cầu sử dụng đất, vị trí và quy mô quỹ đất dự kiến bố trí cho trung tâm công nghiệp văn hóa, trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa và sáng tạo nội dung số; bảo đảm phù hợp với quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị và nông thôn, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và các quy hoạch có liên quan đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, gắn với tiềm năng, lợi thế và khả năng liên kết vùng.
Việc đầu tư xây dựng thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai, quy hoạch đô thị và nông thôn, đầu tư, xây dựng và pháp luật có liên quan. Ủy ban nhân dân các thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ, Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan; thời hạn hoàn thành tháng 10/2026 (tại phần VI Phụ lục Chương trình hành động).
7. Thực hiện hiệu quả mục tiêu, nhiệm vụ phát triển văn hóa tại Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 (tại phần VII Phụ lục Chương trình hành động).
Điều chỉnh tên gọi, kết quả đánh giá, thời hạn hoàn thành một số nhiệm vụ
Ngoài ra, Nghị quyết số 299/NQ-CP điều chỉnh tên gọi, kết quả đánh giá và thời hạn hoàn thành của các nhiệm vụ tại Phụ lục Chương trình hành động. Theo đó một số nhiệm vụ được điều chỉnh theo hướng rút ngắn thời gian hoàn thành.
Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành (29/9/2026).

Triển khai Chương trình lập pháp năm 2027
Văn phòng Chính phủ ban hành văn bản số 9934/VPCP-PL ngày 29/9/2026 truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu về tổ chức triển khai Chương trình lập pháp năm 2027. Tiếp tục đổi mới tư duy xây dựng pháp luật
Phó Thủ tướng yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang bộ quán triệt, thực hiện nghiêm Kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại Văn bản số 260/KL-UBTVQH16 ngày 24/9/2026 và các giải pháp tại Điều 2 Nghị quyết số 20/2026/UBTVQH16 ngày 21/9/2026.
Trong đó, các Bộ, cơ quan ngang bộ cần tiếp tục quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm yêu cầu của Nghị quyết số 66-NQ/TW, Kết luận số 09-KL/TW, Kết luận số 17-KL/TW, chỉ đạo của Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật, Định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI; tuân thủ quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong quá trình xây dựng, trình các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết; tăng cường kiểm soát quyền lực, phòng, chống tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong xây dựng pháp luật.
Đồng thời, chủ động nghiên cứu, xây dựng các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết trong Chương trình lập pháp năm 2027, bảo đảm chất lượng, tiến độ theo quy định. Tiếp tục rà soát, nghiên cứu các Nghị quyết, văn kiện Đại hội XIV của Đảng, chủ trương, chính sách trong các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các Ban chỉ đạo Trung ương, triển khai các nhiệm vụ lập pháp được xác định trong Định hướng lập pháp nhiệm kỳ khóa XVI để sớm đề xuất bổ sung các dự án cần thiết vào Chương trình lập pháp.
Hạn chế điều chỉnh các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết đã được đưa vào Chương trình
Các đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết phải rõ vấn đề cần giải quyết, phạm vi điều chỉnh, các chính sách chủ yếu, nguồn lực và khả năng tổ chức thực hiện; các vấn đề chính trị, nhạy cảm, chưa có chủ trương cần báo cáo cấp có thẩm quyền trước khi đề xuất bổ sung vào Chương trình; hạn chế việc điều chỉnh đối với các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết đã được đưa vào Chương trình.
Về 04 dự án Luật chưa được đưa vào Chương trình lập pháp năm 2027 (Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp; Dự án Luật Bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; Dự án Luật về Phát triển và quản lý thiết bị bay không người lái (UAV); Dự án Luật Quản lý, phát triển đô thị), Phó Thủ tướng giao các Bộ: Tài chính, Công an, Xây dựng theo chức năng, nhiệm vụ được giao nghiên cứu kỹ ý kiến kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về từng dự án Luật, đề xuất, kiến nghị phương án xử lý cụ thể, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo quy định.
Đề xuất bổ sung các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết vào Chương trình lập pháp 2027
Phó Thủ tướng giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan xây dựng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phân công cơ quan chủ trì soạn thảo và thời hạn trình các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết trong Chương trình lập pháp năm 2027; trình Thủ tướng Chính phủ trước ngày 20/10/2026.
Đồng thời, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Chương trình; phối hợp chặt chẽ với các Bộ, cơ quan liên quan trong việc chuẩn bị, hoàn thiện hồ sơ các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết; thực hiện tốt nhiệm vụ chủ trì rà soát kỹ thuật văn bản trước khi trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua.
Bộ Tư pháp tập trung thực hiện ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Chính phủ (tại Văn bản số 9605/VPCP-PL ngày 21/9/2026 của Văn phòng Chính phủ) về việc rà soát, triển khai các nội dung theo đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại Văn bản số 246/UBTVQH16-PLTP ngày 11/9/2026; kịp thời đề xuất bổ sung các nhiệm vụ lập pháp vào Định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI và đề xuất bổ sung các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết vào Chương trình lập pháp năm 2027 và các năm tiếp theo./.