
Thủ tướng chỉ đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với các địa phương lựa chọn, giới thiệu các sản phẩm OCOP tiêu biểu, đặc sản vùng miền để trưng bày, cung ứng tại Hội chợ.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Công điện số 09/CĐ-TTg ngày 04/02/2026 yêu cầu các bộ ngành, địa phương tăng cường cung cấp, quảng bá sản phẩm, thương hiệu địa phương tại Hội chợ Mùa Xuân lần thứ nhất năm 2026.
Công điện gửi Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nêu:
Hội chợ Mùa Xuân lần thứ nhất năm 2026 (Hội chợ) đã chính thức tổ chức tại Trung tâm Triển lãm quốc gia, Đông Anh, Hà Nội từ ngày 02-13 tháng 02 năm 2026. Để Hội chợ thực sự trở thành "hành trình du xuân xuyên Việt", nơi hội tụ tinh hoa "hàng hóa Việt Nam - bản sắc Việt Nam - trí tuệ Việt Nam", Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tập trung thực hiện các nội dung sau:
1- Bộ Công Thương: Chủ trì, phối hợp chặt chẽ với các Bộ, cơ quan, địa phương, đơn vị liên quan kịp thời hỗ trợ, kết nối giao thương, tạo điều kiện để các đơn vị, doanh nghiệp trưng bày và quảng bá sản phẩm, hàng hóa tại Hội chợ.
2- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Chủ trì, phối hợp Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam đẩy mạnh thông tin, lan tỏa không khí tại Hội chợ; tăng cường thời lượng truyền thông, quảng bá về các sản phẩm, hàng hóa tiêu biểu, đặc sản vùng miền để lan tỏa tinh thần "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" và tạo ấn tượng đến khách trong và ngoài nước.
3- Bộ Nông nghiệp và Môi trường: Phối hợp với các địa phương lựa chọn, giới thiệu các sản phẩm OCOP tiêu biểu, đặc sản vùng miền để trưng bày, cung ứng tại Hội chợ; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, QR Code trong việc truy xuất nguồn gốc và quảng bá giá trị nông sản Việt.
4- Các Bộ, cơ quan, địa phương:
- Chỉ đạo các đơn vị, doanh nghiệp, hợp tác xã tiếp tục tăng cường lựa chọn những sản phẩm của địa phương đạt tiêu chí “06 nhất”: tinh túy nhất, chất lượng nhất, dồi dào nhất, an toàn nhất, hiện đại nhất và ưu đãi nhất để giới thiệu, quảng bá tại Hội chợ.
- Kiểm soát chặt chẽ chất lượng hàng hóa, kiên quyết loại bỏ hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ tại các gian hàng; tuyệt đối không để các sản phẩm không đủ điều kiện, tiêu chuẩn được bày bán tại Hội chợ làm ảnh hưởng đến uy tín của Hội chợ và thương hiệu địa phương.
- Đẩy mạnh quảng bá, truyền thông về giá trị sản phẩm để mỗi sản phẩm không chỉ là một món hàng hóa đơn thuần mà là “đại sứ văn hóa”, đại diện bản sắc của mỗi vùng miền; đầu tư xây dựng “câu chuyện sản phẩm” hấp dẫn, gắn liền với lịch sử, truyền thống và tâm huyết của người sản xuất; tạo không gian của mỗi gian hàng như là không gian di sản thu nhỏ để thu hút và tạo ấn tượng với khách tham quan, mua sắm.
- Tạo điều kiện tổ chức cho mọi công dân được tham quan, mua sản phẩm, trải nghiệm, hưởng thụ không khí và giá trị của Hội chợ mang lại.
5- Giao Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn trực tiếp chỉ đạo các Bộ, cơ quan, địa phương trong quá trình thực hiện Công điện này.
6- Văn phòng Chính phủ đôn đốc theo chức năng, nhiệm vụ được giao; báo cáo cấp có thẩm quyền các vấn đề vượt thẩm quyền theo quy định.
Chính phủ ban hành Nghị định số 52/2026/NĐ-CP quy định việc quản lý, sử dụng tài sản tại cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó, đáng chú ý là quy định về việc khai thác tài sản tại cơ quan, đơn vị của Đảng.
Nghị định này gồm 5 chương, 45 điều quy định việc quản lý, sử dụng tài sản tại cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, bao gồm: quyền và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong việc quản lý, sử dụng tài sản tại cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam; việc hình thành tài sản tại cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam; việc quản lý, sử dụng, khai thác tài sản tại cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam; xử lý tài sản tại cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam; quản lý, xử lý tài sản do tổ chức, cá nhân chuyển giao quyền sở hữu cho cơ quan, đơn vị của Đảng; báo cáo tài sản tại cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nghị định này không điều chỉnh đối với việc quản lý, sử dụng tài sản tại các doanh nghiệp của Đảng (trừ tài sản giao cho doanh nghiệp của Đảng quản lý không tính thành phần vốn tại doanh nghiệp); tài sản tại cơ quan, đơn vị của Đảng ở nước ngoài.
Việc quản lý, sử dụng tài sản tại các doanh nghiệp của Đảng (trừ tài sản giao cho doanh nghiệp của Đảng quản lý không tính thành phần vốn tại doanh nghiệp) thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan, quy định của Đảng và điều lệ doanh nghiệp.
Việc quản lý, sử dụng tài sản tại cơ quan, đơn vị của Đảng ở nước ngoài được thực hiện theo quy định của Chính phủ về tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng tài sản công của cơ quan Việt Nam ở nước ngoài.
Đối với tài sản công do Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã) quản lý và bố trí cho Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Đảng ủy Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Đảng ủy xã, phường, đặc khu sử dụng thì Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm theo dõi, hạch toán và quản lý theo chế độ quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Nghị định áp dụng cho các đối tượng sau: Văn phòng Trung ương Đảng; Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương (sau đây gọi là Đảng ủy ở trung ương); Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Tỉnh ủy, Thành ủy các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Tỉnh ủy, Thành ủy); Đảng ủy Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Đảng ủy xã, phường, đặc khu (sau đây gọi là Đảng ủy cấp xã); cơ quan, đơn vị của Đảng quản lý, sử dụng tài sản; tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc quản lý, sử dụng tài sản tại cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam.
Về việc khai thác tài sản tại cơ quan, đơn vị của Đảng, Nghị định quy định như sau:
Danh mục tài sản được khai thác
Danh mục tài sản tại cơ quan, đơn vị của Đảng được khai thác gồm:
a) Nhà ở công vụ.
b) Quyền sở hữu trí tuệ, bản quyền phần mềm ứng dụng.
c) Cơ sở dữ liệu.
Hình thức khai thác
Nghị định quy định các hình thức khai thác cụ thể như sau:
a1) Cơ quan, đơn vị của Đảng có tài sản tự quản lý, sử dụng nhà ăn, căn tin, nhà/bãi để xe để cung cấp các dịch vụ phục vụ nhu cầu của cán bộ, công chức, người lao động của cơ quan, khách đến công tác, đối tượng được đơn vị sự nghiệp của Đảng cung cấp dịch vụ sự nghiệp (sau đây gọi là tự khai thác).
Giá dịch vụ được thực hiện theo quy định của Nhà nước (đối với các dịch vụ do Nhà nước định giá theo quy định của pháp luật về giá) hoặc do người đứng đầu cơ quan, đơn vị của Đảng có tài sản quyết định bảo đảm bù đắp đủ chi phí và có tích lũy hợp lý (đối với các dịch vụ không do Nhà nước định giá theo quy định của pháp luật về giá).
b1) Cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện quyền khai thác nhà ăn, căn tin, nhà/bãi để xe để cung cấp các dịch vụ phục vụ nhu cầu của cán bộ, công chức, người lao động của cơ quan, đơn vị của Đảng, khách đến công tác, đối tượng được đơn vị sự nghiệp của Đảng cung cấp dịch vụ sự nghiệp.
Việc lựa chọn tổ chức, cá nhân khác thực hiện quyền khai thác nhà ăn, căn tin, nhà/bãi để xe được thực hiện theo các hình thức lựa chọn nhà thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu hoặc đấu giá theo quy định của pháp luật về đấu giá tài sản; việc lựa chọn nhà thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu hay đấu giá do người đứng đầu cơ quan, đơn vị của Đảng có tài sản quyết định.
Trường hợp lựa chọn thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu thì thực hiện lựa chọn nhà thầu cung cấp dịch vụ cho cán bộ, công chức, người lao động của cơ quan, đơn vị của Đảng, khách đến công tác, đối tượng được đơn vị sự nghiệp của Đảng cung cấp dịch vụ sự nghiệp; tổ chức, cá nhân trúng thầu được quyền khai thác nhà ăn, căn tin, nhà/bãi để xe để cung cấp các dịch vụ phục vụ nhu cầu của cán bộ, công chức, người lao động của cơ quan, đơn vị của Đảng, khách đến công tác, đối tượng được đơn vị sự nghiệp của Đảng cung cấp dịch vụ sự nghiệp.
c1) Cho tổ chức, cá nhân khác sử dụng vị trí tại trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp để lắp đặt máy rút tiền tự động, máy bán hàng tự động, lắp đặt, xây dựng công trình viễn thông, trạm sạc điện phương tiện giao thông, lắp đặt màn hình led, tấm pano phục vụ thông tin, tuyên truyền kết hợp quảng cáo theo quy định của pháp luật.
Việc cho tổ chức, cá nhân khác sử dụng vị trí tại trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp để lắp đặt máy rút tiền tự động, lắp đặt, xây dựng công trình viễn thông được thực hiện theo hình thức thỏa thuận trực tiếp với tổ chức, cá nhân có nhu cầu.
Cơ quan, đơn vị của Đảng có tài sản chuẩn bị phương án cho tổ chức, cá nhân khác sử dụng vị trí tại trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp để lắp đặt máy rút tiền tự động, lắp đặt, xây dựng công trình viễn thông gửi tới tổ chức, cá nhân có nhu cầu.
Trên cơ sở hồ sơ đăng ký của tổ chức, cá nhân có nhu cầu, cơ quan, đơn vị có tài sản thực hiện thương thảo Hợp đồng cho sử dụng vị trí để lắp đặt máy rút tiền tự động, lắp đặt, xây dựng công trình viễn thông và ký kết Hợp đồng làm cơ sở thực hiện. Giá cho tổ chức, cá nhân khác sử dụng vị trí tại trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp là giá đã thương thảo với tổ chức, cá nhân có nhu cầu và ghi nhận tại Hợp đồng.
Việc lựa chọn tổ chức, cá nhân sử dụng vị trí tại trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp để lắp đặt máy bán hàng tự động, trạm sạc điện phương tiện giao thông, màn hình led, tấm pano phục vụ thông tin, tuyên truyền kết hợp quảng cáo được thực hiện theo quy định tại điểm b1 nêu trên.
Thẩm quyền quyết định khai thác
Nghị định quy định Chánh Văn phòng Trung ương Đảng quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định việc khai thác đối với tài sản do cơ quan, đơn vị của Đảng ở trung ương quản lý, sử dụng.
Tỉnh ủy, Thành ủy quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định việc khai thác đối với tài sản do cơ quan, đơn vị của Đảng ở cấp tỉnh quản lý, sử dụng.
Đơn vị sự nghiệp của Đảng tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư, đơn vị sự nghiệp của Đảng tự đảm bảo chi thường xuyên quyết định khai thác tài sản tại đơn vị mình.
Trình tự, thủ tục khai thác tài sản
Trình tự, thủ tục khai thác tài sản được quy định như sau:
Cơ quan, đơn vị của Đảng quản lý, sử dụng tài sản lập 01 bộ hồ sơ đề nghị khai thác tài sản, báo cáo cơ quan, đơn vị là đơn vị dự toán cấp trên (nếu có đơn vị dự toán cấp trên) để báo cáo cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, quyết định việc khai thác tài sản.
Hồ sơ đề nghị khai thác gồm:
Văn bản đề nghị khai thác tài sản của cơ quan, đơn vị của Đảng quản lý, sử dụng tài sản (trong đó nêu rõ sự cần thiết; danh mục tài sản khai thác (tên tài sản; loại tài sản; số lượng; diện tích đề nghị khai thác (đối với tài sản là đất, nhà); nguyên giá, giá trị còn lại theo sổ kế toán); hình thức khai thác; thời hạn khai thác; dự kiến số tiền thu được (nếu có)): bản chính;
Văn bản đề nghị khai thác tài sản của cơ quan, đơn vị của Đảng là đơn vị dự toán cấp trên (nếu có đơn vị dự toán Các hồ sơ khác liên quan đến tài sản đề nghị khai thác (nếu có): bản sao.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, quyết định việc khai thác tài sản hoặc có văn bản hồi đáp trong trường hợp không thống nhất việc khai thác tài sản.
Cơ quan, đơn vị của Đảng quản lý, sử dụng tài sản có trách nhiệm cấp phiếu thu tiền hoặc hóa đơn bán hàng cho các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật về hóa đơn, chứng từ.
Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 234/QĐ-TTg ngày 03/02/2026 phê duyệt Đề án “Bồi dưỡng cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp giai đoạn 2026 - 2031” (Đề án).
Mục tiêu của Đề án nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất, trình độ, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới.
Chuẩn hóa về chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ công chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp, trong đó ưu tiên bồi dưỡng cán bộ, công chức chuyên trách Mặt trận, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp và cán bộ ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
Bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ giảng viên, tạo nguồn giảng viên tham gia giảng dạy tại các lớp bồi dưỡng, tập huấn cán bộ Mặt trận, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp.
Phấn đấu hằng năm, có ít nhất 50% lượt cán bộ Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng theo yêu cầu vị trí việc làm và các chương trình bồi dưỡng khác theo quy định.
Có trên 70% Ủy viên Ủy ban Mặt trận, Ủy viên Ban Chấp hành các tổ chức chính trị - xã hội các cấp được tập huấn phổ biến, cập nhật kiến thức mới, thông tin mới liên quan đến tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội.
Phấn đấu đến năm 2031, ít nhất 90% cán bộ Mặt trận được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng theo yêu cầu vị trí việc làm
Đến hết năm 2026, phấn đấu xây dựng, hoàn thiện xong chương trình và tài liệu bồi dưỡng về nghiệp vụ công tác Mặt trận, nghiệp vụ công tác của từng tổ chức chính trị - xã hội cho từng nhóm đối tượng cụ thể.
100% cán bộ chuyên trách được bồi dưỡng các kiến thức mới về chức năng, nhiệm vụ, phương thức hoạt động, mối quan hệ công tác, mô hình tổ chức bộ máy của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.
Đến hết năm 2031, phấn đấu ít nhất 90% cán bộ Mặt trận, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp trở lên được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng theo yêu cầu vị trí việc làm và các chương trình bồi dưỡng khác theo quy định.
100% cán bộ được quy hoạch, bổ nhiệm vào các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội hoàn thành chương trình bồi dưỡng kiến thức quản lý, lãnh đạo và nghiệp vụ, kỹ năng công tác.
100% Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy viên Ban Chấp hành của các tổ chức chính trị - xã hội các cấp được bồi dưỡng, tập huấn kiến thức về công tác Mặt trận, đoàn thể trong 1 nhiệm kỳ ít nhất 1 lần.
100% giảng viên cơ hữu, giảng viên kiêm chức cấp trung ương, cấp tỉnh được bồi dưỡng nghiệp vụ.
Phấn đấu ít nhất 80% Trưởng ban công tác Mặt trận, Trưởng chi hội đoàn thể ở khu dân cư trở lên được bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, kỹ năng tập hợp vận động nhân dân.
05 nhiệm vụ, giải pháp
Để thực hiện các mục tiêu nêu trên, Đề án đưa ra 05 nhiệm vụ, giải pháp sau:
1. Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong việc bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc
Tổ chức tuyên truyền, nâng cao nhận thức và vận động cán bộ, công chức, viên chức, Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp tích cực tham gia các chương trình bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu công tác trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền theo hướng linh hoạt, hiệu quả, phù hợp với từng nhóm đối tượng. Chú trọng sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng, mạng xã hội, báo chí, bản tin Mặt trận và các kênh thông tin cơ sở để truyền tải đầy đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Phối hợp chặt chẽ với các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan thông tấn, báo chí, các cơ sở đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nhằm xây dựng chương trình truyền thông dài hạn, có chiều sâu, góp phần tạo sự đồng thuận trong xã hội và nâng cao uy tín, vị thế của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
2. Tiếp tục hoàn thiện các quy định về bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Nghiên cứu cụ thể hóa những chủ trương, chính sách của Đảng; pháp luật của Nhà nước về công tác bồi dưỡng cán bộ, trên cơ sở yêu cầu nhiệm vụ của Mặt trận để ban hành những quy định cụ thể đối với từng đối tượng cán bộ, công chức trong hệ thống cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp; quy định tiêu chí, điều kiện bồi dưỡng nghiệp vụ công tác cho từng vị trí việc làm là điều kiện sử dụng, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ, công chức, viên chức.
Rà soát, đề xuất cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo điều kiện cho cán bộ, công chức Mặt trận, các tổ chức chính trị - xã hội tích cực học tập, nâng cao trình độ năng lực.
Xây dựng các quy định về phân cấp, phối hợp thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng cán bộ làm cơ sở để xây dựng kế hoạch, huy động các nguồn lực thực hiện có hiệu quả công tác bồi dưỡng công chức trong toàn hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội.
Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xây dựng kế hoạch bồi dưỡng hằng năm ở cấp trung ương và hướng dẫn Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp triển khai theo Đề án được phê duyệt.
3. Xây dựng chương trình, đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng bồi dưỡng, tập huấn
Xây dựng đội ngũ giảng viên chất lượng, tâm huyết, có trình độ, phương pháp sư phạm, có kiến thức thực tiễn phong phú đáp ứng yêu cầu về bồi dưỡng cán bộ trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
Đổi mới phương pháp, thường xuyên tổ chức bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ, triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu thực tế trong hoặc ngoài nước nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giảng viên.
Xây dựng đội ngũ giảng viên kiêm chức, giảng viên thỉnh giảng, nhất là từ đội ngũ cán bộ cấp trung ương, cấp tỉnh nhằm chủ động trong tổ chức bồi dưỡng cán bộ Mặt trận các cấp.
Xây dựng chương trình, tài liệu bồi dưỡng, tập huấn có cơ cấu, nội dung hợp lý, kết hợp lý thuyết với trao đổi, thảo luận, thực hành tình huống; kết hợp học trên lớp và tìm hiểu thực tiễn.
Xây dựng, hoàn thiện các bộ tài liệu, sổ tay, bài giảng điện tử về kiến thức, kỹ năng cho đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Tổ chức hội thảo khoa học, khảo sát tình hình thực tiễn để nghiên cứu, xây dựng khung chương trình, tài liệu bồi dưỡng, tập huấn đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.
4. Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong giảng dạy
Nâng cao chất lượng và hiệu quả của các chương trình bồi dưỡng, đồng thời đáp ứng yêu cầu của môi trường số hóa.
Tăng cường ứng dụng các công nghệ mới như học trực tuyến, trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn vào quá trình giảng dạy và học tập, cũng như nâng cao kỹ năng số cho người học và giảng viên.
Ứng dụng chuyển đổi số và các phương pháp dạy học hiện đại trong quá trình xây dựng chương trình, tài liệu và tổ chức hoạt động bồi dưỡng.
5. Tổ chức kiểm tra, giám sát và đánh giá các kết quả thực hiện
Tổ chức kiểm tra, giám sát hằng năm nhằm phát hiện thiếu sót, vướng mắc, những vấn đề mới phát sinh ảnh hưởng đến quá trình tổ chức thực hiện các hoạt động của Đề án. Việc tổ chức triển khai thực hiện Đề án được coi là tiêu chí để đánh giá thi đua.
Năm 2031 tổ chức đánh giá kết quả 05 năm triển khai thực hiện Đề án tại trung ương và các địa phương.
Phó Thủ tướng Mai Văn Chính ký Quyết định số 235/QĐ-TTg phê duyệt Nhiệm vụ lập Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi và phát huy giá trị Di tích quốc gia đặc biệt Quần thể di tích Tây Sơn Thượng Đạo, tỉnh Gia Lai.
Phạm vi nghiên cứu lập quy hoạch
Phạm vi nghiên cứu lập quy hoạch bao gồm: phường An Khê, xã Cửu An, xã Ya Hội, xã Kông Bơ La và xã Kông Chro, tỉnh Gia Lai.
Đối tượng nghiên cứu lập quy hoạch
Đối tượng nghiên cứu lập quy hoạch gồm:
Tây Sơn Thượng Đạo trở thành một trong những trung tâm văn hóa, tín ngưỡng của tỉnh Gia Lai
Nội dung Nhiệm vụ lập quy hoạch
Nội dung Nhiệm vụ lập quy hoạch gồm: Xác định yêu cầu nghiên cứu, khảo sát, đánh giá hiện trạng di tích: Đánh giá công tác bảo tồn (yếu tố gốc của di tích), vị trí và điều kiện tự nhiên, cảnh quan, cơ sở hạ tầng xã hội, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và môi trường; xác định đặc trưng và giá trị tiêu biểu của di tích, mối liên hệ Di tích được quy hoạch với các di tích khác trong khu vực nghiên cứu; định hướng bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; định hướng tổ chức không gian kiến trúc, cảnh quan và xây dựng công trình mới; định hướng phát huy giá trị di tích gắn với phát triển du lịch bền vững; định hướng cải tạo, xây dựng hạ tầng kỹ thuật...
Phó Thủ tướng Mai Văn Chính ký Quyết định số 233/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với đối tượng, địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035” (Đề án).
Đề án được thực hiện từ năm 2026 đến hết năm 2035 tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, địa bàn phức tạp về an ninh, trật tự xã hội. Trong đó, ưu tiên thôn, xã đặc biệt khó khăn; địa bàn còn hủ tục, tập quán lạc hậu, nhận thức pháp luật của người dân còn hạn chế. Khuyến khích các địa phương khác triển khai thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn.
Đổi mới toàn diện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật để tạo đột phá về nhận thức, ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật
Mục đích của Đề án là đổi mới toàn diện công tác PBGDPL để tạo đột phá về nhận thức, ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật; hình thành thói quen tự giác tìm hiểu pháp luật phù hợp với đặc thù của đồng bào dân tộc thiểu số, địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; góp phần thực hiện thống nhất, đồng bộ, hiệu quả công tác dân tộc, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc và lòng tin của đồng bào với Đảng và Nhà nước.
Từ nay đến năm 2030, Đề án phấn đấu đào tạo, bồi dưỡng khoảng 650 người theo chương trình, tài liệu của Đề án để trở thành đội ngũ hạt nhân nòng cốt triển khai thực hiện công tác PBGDPL tại các địa phương.
Phấn đấu mỗi xã đặc biệt khó khăn có ít nhất 02 người làm công tác PBGDPL
Để đạt được các mục tiêu trên, Đề án thực hiện đồng bộ 04 nhóm nhiệm vụ, giải pháp sau:
Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng và trách nhiệm của người đứng đầu địa phương trong công tác PBGDPL
Chuyển đổi nhận thức của các cấp, các ngành nhất là người đứng đầu cơ quan, tổ chức về vai trò, tầm quan trọng của công tác PBGDPL nói chung, PBGDPL cho đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng. Bảo đảm các hoạt động PBGDPL được triển khai thực hiện thường xuyên, liên tục, kiên trì, kiên định, hiệu quả, từng bước nâng cao nhận thức và ý thức tuân thủ pháp luật của đồng bào dân tộc thiểu số, người dân ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Ưu tiên bố trí nguồn lực tương xứng cho công tác PBGDPL đối với người đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Lồng ghép thực hiện các hoạt động của Đề án trong các chương trình, kế hoạch công tác của cấp ủy, chính quyền các cấp; xác định việc hoàn thành nhiệm vụ PBGDPL là một tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn của Hội đồng phối hợp PBGDPL các cấp trong việc thực hiện Đề án phù hợp đặc thù của địa phương, bảo đảm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác PBGDPL trên địa bàn.
Xây dựng, phát triển và nâng cao năng lực cho đội ngũ hạt nhân nòng cốt làm công tác PBGDPL
Xây dựng đội ngũ hạt nhân nòng cốt làm công tác PBGDPL có trình độ, kiến thức, hiểu biết pháp luật, am hiểu phong tục tập quán, văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số, ưu tiên người có khả năng sử dụng ngôn ngữ dân tộc thiểu số.
Thu hút sự tham gia và tăng cường vai trò của bí thư chi bộ, trưởng thôn, bản; người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số; người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, bản; chức sắc, chức việc tôn giáo, người đứng đầu các tổ chức tôn giáo trong công tác PBGDPL.
Định kỳ hằng năm tổ chức bồi dưỡng, tập huấn về kiến thức pháp luật, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, kỹ năng, nghiệp vụ chuyên biệt (kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin, ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số, sử dụng AI, mạng xã hội trong PBGDPL...) để nâng cao năng lực cho đội ngũ hạt nhân nòng cốt làm công tác PBGDPL.
Về phương pháp, hình thức, củng cố, xây dựng và duy trì các mô hình PBGDPL tại cộng đồng, hướng hoạt động PBGDPL về cơ sở, thực hiện PBGDPL trên môi trường số như ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số, chuyển đổi số, sử dụng các phần mềm chuyên dụng, mạng xã hội (Youtube, Facebook, Zalo, Twitter...); tổ chức “Ngày Pháp luật Việt Nam”; ưu tiên PBGDPL bằng tiếng dân tộc thiểu số với hình thức phù hợp cho đồng bào dân tộc thiểu số không biết tiếng phổ thông; phát thanh, truyền hình các nội dung PBGDPL theo chương trình, tài liệu của Đề án vào khung giờ thu hút đông đảo khán giả, thính giả...
Tổ chức học tập, trao đổi kinh nghiệm trong và ngoài nước nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ gắn với thực tiễn, đặc thù của Đề án và hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện Đề án bằng hình thức phù hợp, thực chất nhằm kịp thời tháo gỡ vướng mắc, bất cập và báo cáo cấp có thẩm quyền điều chỉnh (nếu cần)...
Phó Thủ tướng Chính phủ Mai Văn Chính ký Quyết định số 236/QĐ-TTg ngày 03/02/2026 về việc công nhận bảo vật quốc gia (Đợt 14).
Cụ thể, 30 hiện vật, nhóm hiện vật được công nhận bảo vật quốc gia (đợt 14, năm 2025) gồm:
1. Sưu tập trống đồng Làng Vạc Văn hoá Đông Sơn, niên đại: Thế kỷ III - I trước Công nguyên, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Nghệ An - Xô viết Nghệ Tĩnh, tỉnh Nghệ An.
2. Sưu tập muôi đồng Văn hoá Đông Sơn, niên đại: Khoảng thế kỷ II - I trước Công nguyên, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Kính Hoa, thành phố Hà Nội.
3. Bộ chuông đồng Văn hoá Đông Sơn, niên đại: Khoảng thế kỷ II trước Công nguyên - thế kỷ I sau Công nguyên, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Kính Hoa, thành phố Hà Nội.
4. Bộ áo giáp đồng Văn hoá Đông Sơn, niên đại: Khoảng thế kỷ I trước Công nguyên - thế kỷ I sau Công nguyên, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Kính Hoa, thành phố Hà Nội.
5. Chậu trống đồng Văn hoá Đông Sơn, niên đại: Khoảng thế kỷ I trước Công nguyên - thế kỷ I sau Công nguyên, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Kính Hoa, thành phố Hà Nội.
6. Bát bồng gốm Văn hoá Hoa Lộc, niên đại: Khoảng 4.000 - 3.800 năm cách ngày nay, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Gốm thời dựng nước, Thành phố Hồ Chí Minh.
7. Tượng Phật bằng đá Văn hóa Óc Eo, niên đại: Thế kỷ VI - VII, hiện lưu giữ tại Sưu tập tư nhân Đào Danh Đức, thành phố Hà Nội.
8. Tượng thần Vishnu bằng đá Văn hóa Óc Eo, niên đại: Thế kỷ VI - VII, hiện lưu giữ tại Sưu tập tư nhân Đào Danh Đức, thành phố Hà Nội.
9. Tượng đồng Nữ thần Durga Văn hoá Chăm Pa, niên đại: Thế kỷ VII, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia.
10. Sưu tập đồ thờ bằng vàng tại tháp Chăm An Phú, niên đại: Thế kỷ IX - X, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Pleiku, tỉnh Gia Lai.
11. Nắp hộp gốm men xanh lục thời Lý, Hoàng thành Thăng Long, niên đại: Thế kỷ XI, hiện lưu giữ tại Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội, thành phố Hà Nội.
12. Bia đá chùa Nghĩa Xá, niên đại: Thiên Phù Duệ Vũ 3 (1122), hiện lưu giữ tại chùa Nghĩa Xá (Viên Quang tự), xã Xuân Trường, tỉnh Ninh Bình.
13. Thành bậc rồng thời Lý, Hoàng thành Thăng Long, niên đại: Thế kỷ XII - XIII, hiện lưu giữ tại Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội, thành phố Hà Nội.
14. Chậu gốm hoa nâu thời Trần, Hoàng thành Thăng Long, niên đại: Thế kỷ XIII, hiện lưu giữ tại Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội, thành phố Hà Nội.
15. Sưu tập đĩa đèn đồng thời Trần, Hoàng thành Thăng Long, niên đại: Thế kỷ XIII - XIV, hiện lưu giữ tại Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội, thành phố Hà Nội.
16. Bia Ma nhai kỷ công Thành Nam thời Trần, niên đại: Tháng 12 nhuận, năm Ất Hợi (niên hiệu Khai Hựu thứ 7 - 1335), hiện lưu giữ trên vách núi Thành Nam, xã Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
17. Bàn thờ Phật bằng đá chùa Thượng Nương, niên đại: Đại Trị năm thứ 7 (1364), hiện lưu giữ tại chùa Thượng Nương, thôn Tam Tứ, xã Liêm Hà, tỉnh Ninh Bình.
18. Bàn thờ Phật bằng đá chùa Hương Trai, niên đại: Thế kỷ XIV (niên hiệu Đại Định năm thứ hai - 1370, thời Trần), hiện lưu giữ tại chùa Hương Trai, xã Dương Hoà, thành phố Hà Nội.
19. Bàn thờ Phật bằng đá chùa Đại Bi, niên đại: Thế kỷ XIV (niên hiệu Long Khánh 2 - 1374, thời Trần), hiện lưu giữ tại chùa Đại Bi, xã Dương Hoà, thành phố Hà Nội.
20. Bộ tranh khắc ma nhai 18 vị La Hán Động Liên Hoa, chùa Phong Phú, niên đại: Thời Trần, hiện lưu giữ tại động Liên Hoa, chùa Phong Phú, phường Tây Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
21. Sách đồng Khâm Ban của Lê Thánh Tông, niên đại: Thời Lê Sơ (ngày 06 tháng 3, niên hiệu Hồng Đức thứ 3 - 1472), hiện lưu giữ tại đình Cầu Không, xã Bắc Lý, tỉnh Ninh Bình.
22. Bình gốm men trắng vẽ rồng thời Lê Sơ, Hoàng thành Thăng Long, niên đại: Thế kỷ XV, hiện lưu giữ tại Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội, thành phố Hà Nội.
23. Bàn thờ Phật bằng đá thời Mạc chùa Nhạn Tháp, niên đại: Thế kỷ XVI, hiện lưu giữ tại Chùa Nhạn Tháp, xã Mễ Sở, tỉnh Hưng Yên.
24. Bộ 03 ngai thờ gỗ thời Mạc đền Đa Hòa, niên đại: Thế kỷ XVI, hiện lưu giữ tại đền Đa Hòa, xã Mễ Sở, tỉnh Hưng Yên.
25. Chuông chùa An Xá, niên đại: Thời Lê Trung hưng (niên hiệu Chính Hòa thứ 11 - 1690, đời vua Lê Hy Tông), hiện lưu giữ tại chùa Bắc Biên, phường Bồ Đề, thành phố Hà Nội.
26. 03 bia đá chùa Keo Hành Thiện thời Lê Trung hưng, niên đại: Hoằng Định 13 (1613), Cảnh Trị 9 (1671) và Chính Hòa 25 (1704), hiện lưu giữ tại chùa Keo Hành Thiện (Thần Quang tự), xã Xuân Hồng, tỉnh Ninh Bình.
27. Tượng Phật bằng gỗ Mẫu Man Nương chùa Tổ, niên đại: Thế kỷ XVIII, hiện lưu giữ tại chùa Phúc Nghiêm (chùa Tổ), phường Song Liễu, tỉnh Bắc Ninh.
28. Bộ tượng gốm men nhiều màu Tam quan Đại đế, niên đại: Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, hiện lưu giữ tại Sưu tập tư nhân Lê Thanh Nghĩa, Thành phố Hồ Chí Minh.
29. Bộ cồng chiêng Kơ Đơ, niên đại: Đầu thế kỷ XX, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Pleiku, tỉnh Gia Lai.
30. Sổ vàng Trường Nguyễn Ái Quốc, niên đại: 1949 - 1950, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia.
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp nơi có bảo vật quốc gia, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, người đứng đầu ngành, tổ chức được giao quản lý bảo vật quốc gia được công nhận tại Quyết định này trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý đối với bảo vật quốc gia theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa.