In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 05/11/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 05/11/2026.

05/11/2026 20:12
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 05/11/2026 - Ảnh 1.

Khẩn trương điều tra nguyên nhân cháy nhà tạm Trường THCS Kim Liên, tạo mọi điều kiện sớm ổn định hoạt động dạy và học.

Công điện về vụ cháy nhà tạm Trường Trung học cơ sở Kim Liên tại số 1 phố Hoàng Tích Trí, phường Kim Liên, thành phố Hà Nội

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc vừa ký Công điện số 72/CĐ-TTg ngày 5/11/2026 của Thủ tướng Chính phủ về vụ cháy nhà tạm Trường Trung học cơ sở Kim Liên tại số 1 phố Hoàng Tích Trí, phường Kim Liên, thành phố Hà Nội.

Công điện nêu: Khoảng 12 giờ 18 phút ngày 05 tháng 11 năm 2026, xảy ra vụ cháy nhà tạm Trường Trung học cơ sở Kim Liên tại số 1 phố Hoàng Tích Trí, phường Kim Liên, thành phố Hà Nội làm 01 người tử vong. Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc gửi lời thăm hỏi, chia buồn sâu sắc tới thân nhân, gia đình người bị nạn và có ý kiến như sau:

1. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội chỉ đạo thăm hỏi, động viên, hỗ trợ vật chất, tinh thần cho gia đình người bị nạn; tạo mọi điều kiện tốt nhất sớm ổn định các hoạt động dạy và học cho Trường Trung học cơ sở Kim Liên; phối hợp với Bộ Công an khẩn trương điều tra nguyên nhân vụ cháy, làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan, xử lý nghiêm vi phạm (nếu có) theo quy định.

2. Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương chỉ đạo rà soát, bảo đảm các điều kiện an toàn tối đa theo quy định về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại các cơ sở giáo dục, đặc biệt là các cơ sở giáo dục phổ thông; khẩn trương có giải pháp phù hợp, tổ chức hiệu quả các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, thực hành kỹ năng về phòng cháy, chữa cháy cho học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục.

3. Bộ Công an và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tiếp tục thực hiện nghiêm các quy định và chỉ đạo của Ban Bí thư, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về công tác phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ. Khắc phục ngay tình trạng chủ quan, lơ là, xem nhẹ các quy định về an toàn cháy, nổ, không lường trước hậu quả nghiêm trọng do cháy, nổ gây ra; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm để xảy ra hậu quả nghiêm trọng.

Quy định về chính sách tín dụng đối với học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định số 50/2026/QĐ-TTg về tín dụng đối với học sinh, sinh viên. Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2027.

Quyết định này quy định về chính sách tín dụng đối với học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn để góp phần hỗ trợ trang trải chi phí cho việc học tập, sinh hoạt của học sinh, sinh viên (bao gồm tiền học phí, chi phí mua sắm sách vở, phương tiện học tập, chi phí ăn ở, đi lại và các khoản chi phí sinh hoạt, học tập khác) trong thời gian theo học các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục khác có hoạt động giáo dục đại học, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam (các cơ sở đào tạo).

Đối tượng được vay vốn

Chính sách áp dụng đối với học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn là công dân Việt Nam đang theo học tại các cơ sở đào tạo gồm:

1- Học sinh, sinh viên thuộc các trường hợp sau:

a) Mồ côi cha và mẹ; hoặc cả cha và mẹ cùng không có khả năng lao động hoặc mất năng lực hành vi dân sự hoặc mất tích theo quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật liên quan;

b) Mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại không có khả năng lao động hoặc mất năng lực hành vi dân sự hoặc mất tích theo quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật liên quan.

2- Học sinh, sinh viên là thành viên của hộ gia đình thuộc một trong các đối tượng:

a) Hộ nghèo theo chuẩn quy định của pháp luật;

b) Hộ cận nghèo theo chuẩn quy định của pháp luật;

c) Hộ có mức sống trung bình theo chuẩn quy định của pháp luật.

3- Học sinh, sinh viên mà gia đình gặp khó khăn về tài chính do tai nạn, bệnh tật, thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh trong thời gian theo học có xác nhận hằng năm của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú theo quy định của pháp luật.

Phương thức cho vay

Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện cho vay thông qua hộ gia đình. Đại diện hộ gia đình của học sinh, sinh viên là người đứng tên vay vốn và giao dịch với Ngân hàng Chính sách xã hội.

Trường hợp hộ gia đình không còn thành viên nào từ đủ 18 tuổi trở lên hoặc thành viên còn lại không có khả năng lao động hoặc không có năng lực hành vi dân sự hoặc mất tích theo quy định của pháp luật, học sinh sinh viên trực tiếp đứng tên vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội theo quy định của pháp luật.

Điều kiện vay vốn

1. Học sinh, sinh viên thuộc đối tượng vay vốn quy định tại Quyết định này.

2. Đối với học sinh, sinh viên năm thứ nhất phải có giấy báo trúng tuyển hoặc xác nhận của cơ sở đào tạo theo quy định.

3. Đối với học sinh, sinh viên từ năm thứ hai trở đi hằng năm phải có xác nhận của cơ sở đào tạo về việc đang theo học tại cơ sở đào tạo theo quy định để Ngân hàng Chính sách xã hội có căn cứ giải ngân vốn vay.

Mức vốn cho vay

Mức vốn cho vay tối đa là 8.000.000 đồng/tháng/học sinh, sinh viên.

Ngân hàng Chính sách xã hội xem xét, quyết định mức cho vay cụ thể đối với học sinh, sinh viên căn cứ vào nhu cầu vay vốn của khách hàng và mức thu học phí của cơ sở đào tạo nhưng không vượt quá mức cho vay tối đa theo quy định.

Ngân hàng Chính sách xã hội báo cáo Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, điều chỉnh mức vốn cho vay tối đa trong từng thời kỳ, phù hợp với biến động giá cả và mức thu học phí của cơ sở đào tạo.

Thời hạn cho vay

Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ ngày khách hàng vay vốn bắt đầu được giải ngân vốn vay cho đến ngày trả hết nợ (gốc và lãi) quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký giữa các bên. Thời hạn cho vay bao gồm: thời hạn giải ngân vốn vay, thời gian kể từ ngày người học kết thúc khóa học (ngày người học kết thúc khóa học là ngày người học được cơ sở đào tạo công nhận tốt nghiệp theo quy định của pháp luật) đến khi bắt đầu trả khoản nợ vay đầu tiên và thời hạn trả nợ.

Thời hạn giải ngân vốn vay là khoảng thời gian tính từ ngày khách hàng vay vốn nhận khoản vay đầu tiên cho đến ngày học sinh, sinh viên kết thúc khóa học, kể cả thời gian học sinh, sinh viên được các cơ sở đào tạo cho phép nghỉ học tạm thời và được bảo lưu kết quả học tập (nếu có):

- Thời hạn giải ngân vốn vay được chia thành các kỳ hạn giải ngân vốn vay do Ngân hàng Chính sách xã hội quy định hoặc thoả thuận với khách hàng vay vốn.

- Ngân hàng Chính sách xã hội không giải ngân vốn vay trong thời gian học sinh, sinh viên được các cơ sở đào tạo cho phép nghỉ học tạm thời và được bảo lưu kết quả học tập (nếu có) hoặc bị buộc thôi học hoặc tự thôi học.

Trong thời hạn giải ngân vốn vay, khách hàng vay vốn chưa phải trả nợ gốc và lãi; lãi tiền vay được tính kể từ ngày khách hàng vay vốn nhận khoản vay đầu tiên đến ngày trả hết nợ gốc.

Kể từ ngày người học kết thúc khóa học 12 tháng theo quy định, khách hàng vay vốn phải trả nợ gốc và lãi tiền vay lần đầu tiên. Khách hàng vay vốn có thể trả nợ trước hạn mà không chịu lãi phạt trả nợ trước hạn.

Thời hạn trả nợ do Ngân hàng Chính sách xã hội quyết định, tối đa bằng thời hạn giải ngân vốn vay trừ đi thời gian người học được các cơ sở đào tạo cho phép nghỉ học tạm thời và được bảo lưu kết quả học tập (nếu có). Thời hạn trả nợ được chia thành các kỳ hạn trả nợ với mức trả nợ mỗi kỳ do Ngân hàng Chính sách xã hội quyết định theo nguyên tắc giảm thiểu áp lực tài chính tập trung tại một thời điểm cho khách hàng để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng. Riêng đối với các chương trình đào tạo có thời gian đào tạo không quá một năm, thời hạn trả nợ tối đa bằng hai lần thời hạn giải ngân vốn vay.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2027.

Đối với các hợp đồng tín dụng đã ký trước ngày Quyết định này có hiệu lực:

Ngân hàng Chính sách xã hội, khách hàng vay vốn và các bên liên quan tiếp tục được thực hiện theo các cam kết, các quyền hạn và trách nhiệm ghi trong hợp đồng tín dụng đã ký giữa các bên; trừ việc điều chỉnh kỳ hạn trả nợ quy định tại Điều 10 Quyết định này được áp dụng đối với các kỳ hạn trả nợ tiếp theo trong hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày 1/1/2027.

Mức vay vốn tối đa quy định tại Quyết định này được áp dụng đối với các khoản giải ngân mới kể từ ngày 1/1/2027.

Đối với các nội dung thay đổi, Ngân hàng Chính sách xã hội có trách nhiệm thông báo, hướng dẫn cụ thể cho khách hàng vay vốn, bảo đảm không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng vay vốn.

Hoàn thiện Chiến lược phát triển dịch vụ vận tải và Chương trình hành động chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí nhà kính trong giao thông vận tải

Văn phòng Chính phủ vừa ban hành Công văn số 11281/VPCP-CN ngày 5/11/2026 gửi Bộ Xây dựng truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc về việc hoàn thiện Chiến lược phát triển dịch vụ vận tải và Chương trình hành động chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí nhà kính trong giao thông vận tải.

Cụ thể, xét đề nghị của Bộ Xây dựng tại văn bản số 131/TTr-BXD ngày 22/10/2026 (về ban hành Chiến lược phát triển dịch vụ vận tải đến năm 2035, định hướng đến năm 2050) và văn bản số 16874/BXD-KHCNMT&VLXD ngày 22/10/2026 (về phê duyệt Chương trình hành động chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí nhà kính trong giao thông vận tải), Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc có ý kiến như sau:

Giao Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại cuộc họp ngày 02/11/2026 về định hướng phát triển logistics quốc gia và hạ tầng logistics; nghiên cứu, tiếp thu, giải trình đầy đủ ý kiến của các Thành viên Chính phủ đối với dự thảo Quyết định phê duyệt Chiến lược và dự thảo Quyết định phê duyệt Chương trình hành động chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí nhà kính trong giao thông vận tải, hoàn thiện dự thảo các Quyết định nêu trên, bảo đảm không trùng lặp với nội dung về Chiến lược phát triển ngành logistics, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15 tháng 11 năm 2026.

Trong đó lưu ý thể hiện rõ các giải pháp đồng bộ nhằm khuyến khích người dân, doanh nghiệp được quyền chủ động chuyển đổi sang sử dụng phương tiện giao thông xanh phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội và điều kiện về hạ tầng giao thông; đặc biệt, không quy định bắt buộc (hoặc được hiểu là quy định về lộ trình bắt buộc) chủ phương tiện, người dân, doanh nghiệp phải chuyển sang sử dụng phương tiện thuần điện, phương tiện giao thông xanh, nhất là đối với phương tiện giao thông cơ giới đường bộ.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 05/11/2026 - Ảnh 2.

Phê duyệt Định hướng phát triển đô thị thông minh quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2035

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc vừa ký Quyết định 2116/QĐ-TTg ngày 5/11/2026 phê duyệt Định hướng phát triển đô thị thông minh quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2035.

Mục tiêu đến năm 2030 tạo chuyển biến căn bản trong phương thức quản trị và phát triển đô thị theo hướng dựa trên dữ liệu, chuyển từ quản lý, xử lý sự vụ và ứng dụng công nghệ riêng lẻ sang quản trị theo mục tiêu, có khả năng phân tích, dự báo, điều phối và đo lường bằng kết quả, tác động, năng lực giải quyết các vấn đề về đô thị, chất lượng dịch vụ và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp.

Hình thành cơ bản nền tảng thể chế, kiến trúc, dữ liệu, hệ sinh thái ứng dụng, dịch vụ và năng lực quản trị đô thị thông minh thống nhất, liên thông từ trung ương đến địa phương; tích hợp phát triển đô thị thông minh trong quy hoạch, đầu tư, xây dựng và vận hành đô thị; hình thành nhóm đô thị dẫn dắt và các mô hình đô thị thông minh có khả năng đánh giá, nhân rộng, tích hợp các mục tiêu phát triển xanh, phát thải các-bon thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và thích ứng biến đổi khí hậu; góp phần nâng cao chất lượng sống, hiệu quả quản trị, khả năng chống chịu và năng lực cạnh tranh của hệ thống đô thị Việt Nam.

Đến năm 2030, 100% thành phố tổ chức xây dựng, thực hiện đề án phát triển đô thị thông minh

Chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030, 100% thành phố tổ chức xây dựng, thực hiện đề án phát triển đô thị thông minh; từng bước lồng ghép chuyển đổi số với chuyển đổi xanh; các tỉnh tổ chức xây dựng, thực hiện đề án phát triển đô thị thông minh theo nhu cầu.

100% thành phố xây dựng cơ sở dữ liệu đô thị dùng chung theo kế hoạch; ưu tiên chuẩn hóa, làm sạch dữ liệu nền địa lý, đất đai, dân cư, quy hoạch và hạ tầng đô thị trước khi kết nối, chia sẻ theo quy định; thí điểm nền tảng quản lý tích hợp không gian đô thị dựa trên dữ liệu; các tỉnh lựa chọn đô thị thuộc tỉnh để thực hiện theo nhu cầu.

100% thành phố hình thành cơ sở dữ liệu quy hoạch đô thị, hạ tầng và không gian đô thị trên nền GIS theo kế hoạch và danh mục ưu tiên trong đề án của địa phương, được cập nhật, kết nối; thí điểm bản sao số để giải quyết bài toán đô thị cụ thể; các tỉnh lựa chọn đô thị thuộc tỉnh để thực hiện theo nhu cầu;...

Đến 2035, hình thành hệ sinh thái dữ liệu đô thị liên thông, an toàn và được khai thác hiệu quả

Tầm nhìn đến năm 2035, cơ bản hình thành phương thức quản trị và phát triển đô thị dựa trên dữ liệu tại các đô thị lớn, đô thị trung tâm, trong đó dữ liệu được kết nối, chia sẻ và khai thác như một nguồn lực phục vụ quy hoạch, đầu tư, xây dựng, vận hành và phát triển đô thị; các quyết định quản trị đô thị từng bước được hỗ trợ bởi phân tích, dự báo, mô phỏng và các công nghệ số tiên tiến.

Hình thành hệ sinh thái dữ liệu đô thị liên thông, an toàn và được khai thác hiệu quả; nâng cao năng lực dự báo sớm, cảnh báo sớm, điều phối liên ngành, phản ứng chính sách, duy trì hoạt động khi xảy ra sự cố và phục hồi nhanh; các đô thị Việt Nam có chất lượng sống, khả năng chống chịu và năng lực cạnh tranh ngày càng cao, tham gia sâu vào mạng lưới đổi mới sáng tạo và đô thị thông minh khu vực và quốc tế, hướng tới hình thành các đô thị thông minh có khả năng duy trì hoạt động của các hạ tầng thiết yếu, các dịch vụ thiết yếu trong tình huống khẩn cấp và các tình huống quốc phòng, đáp ứng yêu cầu phòng thủ dân sự, quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững.

Định hướng phát triển

Phát triển theo cấp độ trưởng thành và vai trò đô thị: thành phố, đô thị trung tâm vùng giữ vai trò dẫn dắt; đô thị còn lại lựa chọn nội dung ưu tiên phù hợp nhu cầu, mức độ sẵn sàng và nguồn lực.

Phát triển theo đặc thù không gian và chức năng: đô thị công nghiệp; logistics - cảng biển; du lịch; ven biển thích ứng biến đổi khí hậu; vùng sông nước; khu vực đô thị hiện hữu; khu vực phát triển mới và khu đô thị quy mô lớn; đô thị đặc thù khác.

Tích hợp theo vòng đời quy hoạch - đầu tư - xây dựng - vận hành; đối với khu vực phát triển mới tích hợp giải pháp thông minh ngay từ quy hoạch, thiết kế; đối với khu vực hiện hữu ưu tiên giải quyết điểm nghẽn và vấn đề cấp thiết.

Ưu tiên dữ liệu và khả năng liên thông; ứng dụng GIS, BIM/CIM, mô hình 3D, trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT) và bản sao số theo bài toán, mức độ sẵn sàng của dữ liệu và hiệu quả dự kiến. Bản sao số cần có phạm vi, kịch bản vận hành và trách nhiệm cập nhật dữ liệu rõ ràng; không đồng nhất đô thị thông minh với một công nghệ hoặc hệ thống cụ thể.

Tổ chức triển khai theo kết quả: mỗi chương trình, dự án, bài toán phải xác định số liệu nền, mục tiêu, đối tượng thụ hưởng, dữ liệu đầu vào, chỉ số kết quả đầu ra, chi phí vòng đời, cơ chế vận hành và trách nhiệm cập nhật dữ liệu.

9 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu

Quyết định nêu rõ 9 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện định hướng phát triển đô thị thông minh quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2035 gồm:

1- Hoàn thiện thể chế, tiêu chuẩn và mô hình quản trị; 2- Hoàn thiện dữ liệu đô thị và nền tảng số dùng chung; 3- Quản lý quy hoạch đô thị thông minh; 4- Phát triển hạ tầng số, hạ tầng kỹ thuật thông minh và thử nghiệm có kiểm soát; 5- Phát triển khu đô thị thông minh, dịch vụ và tiện ích đô thị thông minh; 6- Đổi mới điều hành đô thị thông minh; 7- Giải quyết bài toán lớn, đổi mới sáng tạo và huy động nguồn lực; 8- Giám sát, đánh giá và nhân rộng; 9- Phát triển nguồn nhân lực và hợp tác quốc tế.

Trong đó, về hoàn thiện dữ liệu đô thị và nền tảng số dùng chung, xây dựng, chuẩn hóa, làm sạch, cập nhật, kết nối dữ liệu theo nguyên tắc đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung; xác định dữ liệu chủ, chuẩn kết nối, chất lượng, tần suất cập nhật và trách nhiệm quản trị.

Hình thành cơ sở dữ liệu đô thị dùng chung theo nhu cầu quản trị, ưu tiên dữ liệu quy hoạch, xây dựng và hạ tầng đô thị; kết nối, khai thác dữ liệu chuyên ngành từ cơ quan quản lý dữ liệu nguồn theo thẩm quyền, tránh tạo kho dữ liệu trùng lặp. Địa phương lựa chọn danh mục dữ liệu theo bài toán, mức độ sẵn sàng và nguồn lực.

Tổ chức kho dữ liệu và công cụ phân tích phục vụ dự báo, hỗ trợ ra quyết định.

Kết nối, chia sẻ dữ liệu theo Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia, nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu và quy định pháp luật; tránh xây dựng cơ chế kết nối riêng biệt làm phát sinh cát cứ dữ liệu.

Về giải quyết bài toán lớn, đổi mới sáng tạo và huy động nguồn lực, mỗi địa phương lựa chọn bài toán ưu tiên, xác định số liệu nền, mục tiêu, đối tượng thụ hưởng, dữ liệu đầu vào, chỉ số kết quả, chi phí vòng đời và cơ chế vận hành.

Thúc đẩy phát triển, làm chủ nền tảng dữ liệu, AI, IoT, bản sao số, an ninh mạng và sản phẩm công nghệ chiến lược phù hợp; khuyến khích nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ lưỡng dụng; phát huy hợp tác ba Nhà, mô hình đối tác công tư, thuê dịch vụ, vốn xanh và đặt hàng, mua sắm theo kết quả.

Tìm kiếm, kết nối, tuyển chọn, thử nghiệm, đánh giá và nhân rộng các giải pháp đổi mới sáng tạo để giải quyết các bài toán đô thị thông minh, tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học, trung tâm đổi mới sáng tạo và các tổ chức hỗ trợ đổi mới sáng tạo.

Lộ trình thực hiện

1. Giai đoạn 2026 - 2027: hoàn thiện hướng dẫn, kiến trúc tham chiếu, bộ chỉ số và số liệu nền; vận hành Cổng thông tin đô thị thông minh quốc gia; địa phương rà soát hệ thống hiện có, xác định kế hoạch, bài toán ưu tiên và nguồn lực thực hiện. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh rà soát, cập nhật nội dung định hướng đô thị thông minh được duyệt tại quyết định này đối với các đề án đô thị thông minh đã được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt.

2. Giai đoạn 2028 - 2029: chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu theo lộ trình; triển khai, đánh giá các mô hình thí điểm; nâng cấp nền tảng điều hành đủ điều kiện; sơ kết và nhân rộng mô hình đã được kiểm chứng.

3. Năm 2030: tổ chức đánh giá cấp độ trưởng thành, kiểm đếm các chỉ tiêu; tổng kết Định hướng, công bố mô hình điển hình và đề xuất nhiệm vụ giai đoạn tiếp theo hướng tới tầm nhìn năm 2035.

Quy chế hoạt động Mạng lưới các cơ quan thông báo và hỏi đáp về hàng rào kỹ thuật trong thương mại

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 51/2026/QĐ-TTg ngày 03/11/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế tổ chức, hoạt động và cơ chế phối hợp của Mạng lưới các cơ quan thông báo và hỏi đáp về hàng rào kỹ thuật trong thương mại.

Quy chế này quy định về tổ chức, hoạt động và cơ chế phối hợp của Mạng lưới các cơ quan thông báo và hỏi đáp về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (sau đây gọi là Mạng lưới TBT Việt Nam) nhằm thực thi các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Tổ chức và hoạt động của Mạng lưới TBT Việt Nam

1. Mạng lưới TBT Việt Nam bao gồm:

a) Điểm TBT quốc gia;

b) Điểm TBT của bộ;

c) Cơ quan thực hiện hoạt động TBT ở địa phương (sau đây gọi là Điểm TBT địa phương).

2. Điểm TBT quốc gia là đầu mối của Việt Nam thực hiện nghĩa vụ thông báo và hỏi đáp về TBT theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đồng thời điều phối hoạt động của Mạng lưới TBT Việt Nam. Điểm TBT quốc gia đặt tại Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ.

3. Hoạt động TBT cấp bộ thực hiện qua các Điểm TBT của bộ là đơn vị được các bộ chỉ định làm đầu mối thực hiện nhiệm vụ TBT thuộc phạm vi quản lý của bộ. Các bộ chỉ định Điểm TBT của bộ gồm: Bộ Công an; Bộ Công Thương; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Bộ Nội vụ; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Xây dựng và Bộ Y tế.

4. Hoạt động TBT địa phương thực hiện thông qua đơn vị có chức năng quản lý về tiêu chuẩn đo lường chất lượng theo phân công của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố.

Chức năng của Mạng lưới TBT Việt Nam

Mạng lưới TBT Việt Nam có chức năng sau:

1. Thực hiện nghĩa vụ minh bạch hóa, thông báo và hỏi đáp về TBT theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

2. Cung cấp, chia sẻ thông tin, cảnh báo sớm về TBT; hỗ trợ cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và khả năng tiếp cận thị trường nước ngoài; phối hợp xử lý các quan ngại thương mại về TBT.

Nhiệm vụ của Mạng lưới TBT Việt Nam

1. Nhiệm vụ của Điểm TBT quốc gia

a) Chủ trì điều phối thống nhất hoạt động thông báo và hỏi đáp về TBT trong phạm vi cả nước; theo dõi, tổng hợp tình hình thực hiện nghĩa vụ thông báo và hỏi đáp về TBT của các bộ, ngành, địa phương để báo cáo cơ quan có thẩm quyền;

b) Thực hiện thông báo các biện pháp TBT của Việt Nam tới WTO và các đối tác theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trên cơ sở thông tin, nội dung do các bộ, ngành, địa phương cung cấp; tiếp nhận, trả lời các yêu cầu hỏi đáp và yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu về TBT của Việt Nam theo quy định;

c) Chủ trì thực hiện cảnh báo sớm về TBT trên cơ sở kết quả phân tích, đánh giá nhằm phục vụ công tác quản lý nhà nước của các bộ, ngành liên quan và hỗ trợ doanh nghiệp chủ động ứng phó với các yêu cầu kỹ thuật của thị trường xuất khẩu;

d) Tổ chức nâng cao năng lực của Mạng lưới TBT Việt Nam thông qua hoạt động tuyên truyền, phổ biến, tập huấn, bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ cho đội ngũ nhân sự thực hiện hoạt động TBT tại các bộ, ngành, địa phương; vận hành, duy trì Cổng thông tin TBT và cung cấp thông tin về TBT của Việt Nam và các thị trường xuất khẩu theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa;

đ) Tham gia đàm phán, triển khai các cam kết về TBT trong các điều ước quốc tế và thực hiện hợp tác quốc tế về TBT theo sự phân công; phổ biến thông tin về hoạt động của các tổ chức quốc tế có liên quan đến TBT;

e) Tiếp nhận, tổng hợp ý kiến, thông tin về các biện pháp TBT của nước ngoài từ các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, hiệp hội; làm đầu mối chuyên môn, kỹ thuật, phối hợp với các bộ, ngành và cơ quan có liên quan trong việc phân tích, góp ý, tổng hợp và tham mưu phương án xử lý; tổng hợp, tham mưu cơ quan có thẩm quyền về việc nêu quan ngại thương mại tại các diễn đàn quốc tế theo quy định;

g) Tiếp nhận ý kiến góp ý và quan ngại thương mại của các thành viên WTO và đối tác thương mại đối với các biện pháp TBT của Việt Nam; làm đầu mối chuyên môn, kỹ thuật, phối hợp, đôn đốc các bộ, ngành, cơ quan liên quan trong việc phân tích, đánh giá và tổng hợp, tham mưu phương án xử lý đối với các nội dung thuộc phạm vi quản lý; tổng hợp kết quả xử lý, bảo đảm phù hợp với pháp luật trong nước và các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên.

2. Nhiệm vụ của Điểm TBT của bộ

a) Chủ trì rà soát các biện pháp TBT thuộc phạm vi quản lý để xác định nghĩa vụ thông báo; xây dựng nội dung thông báo theo mẫu, nội dung trả lời hỏi đáp và các tài liệu liên quan gửi Điểm TBT quốc gia; chịu trách nhiệm về tính chính xác, đầy đủ và kịp thời của thông tin cung cấp; theo dõi, đôn đốc các đơn vị thuộc bộ thực hiện nghĩa vụ về thông báo và hỏi đáp đối với dự thảo biện pháp TBT thuộc phạm vi quản lý;

b) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức thuộc bộ và các cơ quan, tổ chức có liên quan để tổng hợp thông tin, ý kiến và đề xuất phương án xử lý đối với các vấn đề TBT có tính chất liên ngành thuộc phạm vi quản lý của bộ; gửi Điểm TBT quốc gia để tổng hợp, điều phối về chuyên môn, nghiệp vụ theo Quy chế này;

c) Phối hợp với đơn vị có liên quan thuộc bộ phân tích, đánh giá tác động các biện pháp TBT của nước ngoài đối với các sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý; cung cấp thông tin cảnh báo sớm về TBT và hỗ trợ tổ chức, doanh nghiệp nâng cao khả năng đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của thị trường xuất khẩu của hàng hóa thuộc lĩnh vực quản lý;

d) Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, tập huấn về TBT cho các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp thuộc lĩnh vực quản lý của bộ; cung cấp thông tin về TBT trong nước và tại thị trường xuất khẩu theo yêu cầu của tổ chức, doanh nghiệp thuộc lĩnh vực quản lý;

đ) Tham gia hoạt động hợp tác quốc tế về TBT theo phân công;

e) Tiếp nhận, tổng hợp kiến nghị của tổ chức, doanh nghiệp, hiệp hội về các biện pháp TBT của nước ngoài thuộc phạm vi quản lý; chủ trì, phối hợp với các đơn vị thuộc bộ có liên quan nghiên cứu, đánh giá và góp ý đối với các biện pháp TBT của nước ngoài có khả năng gây cản trở thương mại hoặc ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam, tổng hợp, đề xuất phương án xử lý và gửi Điểm TBT quốc gia để tổng hợp, phối hợp xử lý và tham mưu việc nêu quan ngại thương mại tại các diễn đàn quốc tế theo quy định;

g) Chủ trì phân tích, đánh giá, đề xuất phương án xử lý các góp ý, quan ngại thương mại của các thành viên WTO và đối tác thương mại đối với các biện pháp TBT thuộc phạm vi quản lý; phối hợp với Điểm TBT quốc gia trong quá trình xử lý và cung cấp thông tin, kết quả xử lý, bảo đảm tuân thủ pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

3. Nhiệm vụ của Điểm TBT địa phương

a) Phối hợp với Điểm TBT quốc gia, Điểm TBT của bộ, cơ quan, tổ chức ở trung ương và địa phương trong việc cung cấp, trao đổi và xử lý thông tin TBT thuộc phạm vi quản lý của địa phương;

b) Rà soát, phối hợp với Điểm TBT quốc gia trong việc thực hiện nghĩa vụ thông báo và hỏi đáp đối với các biện pháp TBT thuộc phạm vi quản lý của địa phương;

c) Thực hiện tuyên truyền, phổ biến, tập huấn về TBT cho các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp tại địa phương nhằm nâng cao nhận thức, năng lực đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của thị trường và hỗ trợ hoạt động xuất khẩu; thường xuyên cung cấp thông tin về TBT trong nước và tại thị trường xuất khẩu theo yêu cầu của tổ chức, doanh nghiệp tại địa phương; phối hợp với Điểm TBT quốc gia và Điểm TBT của bộ trong việc cung cấp thông tin cảnh báo sớm về TBT;

d) Tiếp nhận, tổng hợp kiến nghị của tổ chức, doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng tại địa phương về các biện pháp TBT của nước ngoài liên quan đến sản phẩm, hàng hóa xuất khẩu của địa phương; tổng hợp, phản ánh kịp thời cho Điểm TBT quốc gia và Điểm TBT của bộ có liên quan các kiến nghị, khó khăn, vướng mắc về TBT vượt thẩm quyền giải quyết của địa phương để phối hợp xem xét, xử lý;

đ) Tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, lồng ghép hoạt động TBT vào các chương trình xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp, phát triển sản phẩm chủ lực và hội nhập kinh tế quốc tế của địa phương.

Quyết định nêu rõ: Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm tổ chức, điều phối hoạt động của Mạng lưới TBT Việt Nam; tổ chức thực hiện và theo dõi việc thực hiện các nghĩa vụ về TBT của Việt Nam theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, tổ chức, hướng dẫn và theo dõi thực hiện Quy chế này bảo đảm thống nhất và đồng bộ giữa các Điểm TBT trong Mạng lưới TBT Việt Nam.

Quyết định số 51/2026/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2027.

Quyết định số 46/2017/QĐ-TTg ngày 24/11/2017 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Mạng lưới các cơ quan thông báo và hỏi đáp và Ban liên ngành về hàng rào kỹ thuật trong thương mại và Quy định thành lập Ban liên ngành về hàng rào kỹ thuật trong thương mại tại điểm d khoản 2 Điều 1 Quyết định số 444/QĐ-TTg ngày 26/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án triển khai thực hiện Hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại hết hiệu lực kể từ ngày Quyết định số 51/2026/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành.

Đẩy nhanh tiến độ triển khai Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1

Văn phòng Chính phủ vừa ban hành Công văn số 11272/VPCP-CN ngày 5/11/2026 truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc về việc đẩy nhanh tiến độ triển khai Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1.

Xây dựng phương án tổ chức khai thác bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn, khả thi, hiệu quả

Xét đề nghị của Bộ Xây dựng tại các Báo cáo số 410/BC-BXD ngày 20/10/2026 và số 424/BC-BXD ngày 27/10/2026 về tình hình thực hiện Dự án đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc có ý kiến như sau:

Các Bộ, ngành, địa phương và các cơ quan liên quan căn cứ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền thực hiện nghiêm chỉ đạo của Lãnh đạo Chính phủ tại Thông báo số 516/TB-VPCP ngày 07/10/2026, các văn bản số 8871/VPCP-CN ngày 28/8/2026, số 9083/VPCP-CN ngày 07/9/2026, số 10504/VPCP-CN ngày 14/10/2026 và số 10768/VPCP-CN ngày 22/10/2026; chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nếu để xảy ra chậm trễ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ làm ảnh hưởng tới tiến độ triển khai, hoàn thành Dự án.

Về một số nhiệm vụ trong tâm cần tập trung triển khai, Phó Thủ tướng giao Bộ Xây dựng chỉ đạo ACV xây dựng phương án tổ chức khai thác bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn, khả thi, hiệu quả; chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, ACV và các cơ quan có liên quan rà soát, đánh giá các phương án, điều kiện cần thiết để đưa Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1 vào vận hành, khai thác trước ngày 31 tháng 12 năm 2026 theo thẩm quyền, quy định pháp luật; kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền các vấn đề vượt thẩm quyền.

Bộ Tài chính tiếp tục chỉ đạo Tổ công tác tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của dự án phối hợp với Bộ Công an, Bộ Xây dựng, Bộ Khoa học và Công nghệ và các cơ quan liên quan tiếp tục hướng dẫn, hỗ trợ ACV tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác thanh toán của dự án theo chỉ đạo của Lãnh đạo Chính phủ tại Công văn số 10504/VPCP-CN ngày 14/10/2026.

Tiếp tục tập trung chỉ đạo, đôn đốc hoàn thành các dự án thành phần

Ủy ban nhân dân thành phố Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục chỉ đạo các cơ quan chức năng rà soát khả năng cung ứng nhiên liệu, vật liệu trên địa bàn để ưu tiên cung cấp cho Dự án theo đề xuất cụ thể của ACV.

Tiếp tục tập trung chỉ đạo, đôn đốc hoàn thành các dự án thành phần, công trình giao thông kết nối, hạ tầng kỹ thuật liên quan và các điều kiện phục vụ hoạt động của Cảng hàng không quốc tế Long Thành theo nhiệm vụ được giao; kịp thời, chủ động giải quyết khó khăn, vướng mắc theo thẩm quyền.

Huy động đủ nhân lực, máy móc thiết bị, nhiên liệu và vật liệu để bảo đảm tiến độ cam kết

Tổng Công ty Cảng hàng không Việt Nam tiếp tục, thường xuyên rà soát các khó khăn, vướng mắc về nguồn cung ứng nhiên liệu, vật liệu xây dựng (đặc biệt là đá xây dựng, nhựa đường), trong công tác thanh, quyết toán Dự án; tình hình giải quyết tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc để báo cáo các Tổ công tác trong trường hợp vẫn còn vướng mắc (nếu có).

Khẩn trương có giải pháp cụ thể xử lý các tồn tại, vướng mắc về thanh toán khối lượng thi công cho các nhà thầu; điều chỉnh vật tư, thiết bị so với thiết kế đã được phê duyệt.

Rà soát kỹ khối lượng còn lại của các gói thầu, đặc biệt tại các gói thầu có nguy cơ không hoàn thành đúng tiến độ; xác định rõ tiến độ hoàn thành đối với các hạng mục còn lại, tiến độ hoàn thành công tác xây dựng, công tác lắp đặt thiết bị, công tác hoàn thiện. Trên cơ sở đó, xác định rõ nhu cầu nhân công, máy móc thiết bị, nhiên liệu, vật liệu xây dựng để đảm bảo tiến độ; đánh giá các vướng mắc, khó khăn, xác định giải pháp cụ thể đối với từng nhà thầu, từng gói thầu của Dự án theo hướng dẫn của Bộ Xây dựng; định kỳ, hằng tuần báo cáo Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính về tình hình thực hiện các nhiệm vụ được Lãnh đạo Chính phủ giao, đánh giá kết quả theo tiến độ, các khó khăn vướng mắc phát sinh, đề xuất, kiến nghị các nội dung vượt thẩm quyền (nếu có).

Yêu cầu nhà thầu thi công huy động đủ nhân lực, máy móc thiết bị, nhiên liệu và vật liệu để bảo đảm tiến độ cam kết; trường hợp không đáp ứng, ACV phân định rõ trách nhiệm của các bên liên quan, có biện pháp xử lý theo quy định của hợp đồng để bảo đảm tiến độ Dự án.

Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng của Bộ Xây dựng để kịp thời triển khai các thủ tục cần thiết, bao gồm: nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình, công trình; kiểm tra, đánh giá điều kiện khai thác và thực hiện các thủ tục cấp phép, chấp thuận chuyên ngành hàng không theo quy định của pháp luật; xác định rõ thời điểm bắt đầu, thời hạn hoàn thành, hồ sơ, trình tự, thủ tục, thời gian thực hiện và trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị đối với từng công việc, bảo đảm các thủ tục chuyên ngành hàng không được hoàn thành đúng tiến độ, không làm ảnh hưởng đến thời điểm đưa công trình vào khai thác.

Khẩn trương hoàn thành việc lập, phê duyệt các kịch bản vận hành thử nghiệm đơn động, liên động các hệ thống cơ điện, phòng cháy chữa cháy, hệ thống thiết bị nhà ga, hệ thống quản lý sân bay đối với gói thầu số 5.10 bảo đảm phù hợp với yêu cầu thiết kế và triển khai thực hiện thử nghiệm sau khi hoàn thành công tác thi công lắp đặt.

Đánh giá cụ thể khả năng khai thác, kết quả Chương trình ORAT, kết quả thử nghiệm lại và các rủi ro còn tồn tại (nếu có).

Phối hợp với Ủy ban nhân dân thành phố Đồng Nai, các chủ đầu tư, đơn vị liên quan nghiên cứu phương án bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn và điều kiện hậu cần ăn, ở cho người lao động trong khu vực dự án và hành khách có nhu cầu trong giai đoạn dự án vừa thi công, vừa khai thác.

Tổng Công ty hàng không Việt Nam khẩn trương hoàn thành các thủ tục chuẩn bị đầu tư xây dựng các công trình đã được giao, bao gồm: Hangar số 2, ga hàng hoá số 2, ga hàng hoá chuyển phát nhanh và 04 kho hàng (từ số 5 đến số 8); đặc biệt tiến độ triển khai nhà ga hàng hóa số 2, nhà ga hàng hóa chuyển phát nhanh cần được ưu tiên triển khai đáp ứng nhu cầu các hãng hàng không, các doanh nghiệp logistics trong nước và quốc tế.

Thi hành kỷ luật hành chính đối với ông Trần Văn Thuấn, Thứ trưởng Bộ Y tế, Chủ tịch Hội đồng Y khoa Quốc gia

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc vừa ký Quyết định 2110/QĐ-TTg ngày 5/11/2026 về việc thi hành kỷ luật hành chính đối với ông Trần Văn Thuấn, Thứ trưởng Bộ Y tế, Chủ tịch Hội đồng Y khoa Quốc gia.

Cụ thể, thi hành kỷ luật bằng hình thức Buộc thôi việc đối với ông Trần Văn Thuấn, Thứ trưởng Bộ Y tế, Chủ tịch Hội đồng Y khoa Quốc gia do đã có những vi phạm, khuyết điểm trong công tác và Ban Bí thư đã thi hành kỷ luật Đảng.

Thời điểm thi hành kỷ luật kể từ ngày Quyết định số 392-QĐNS/TW ngày 22 tháng 9 năm 2026 của Ban Bí thư có hiệu lực./.