• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 03/11/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 03/11/2026.

03/11/2026 18:59

Quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Nghị định số 399/2026/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 03/11/2026 - Ảnh 1.

Mức lương tối thiểu mới đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động từ ngày 1/1/2027

Nghị định số 399/2026/NĐ-CP nêu rõ đối tượng áp dụng gồm:

1- Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động.

2- Người sử dụng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động, bao gồm: Doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp; cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng người lao động làm việc cho mình theo thỏa thuận.

3- Các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thực hiện mức lương tối thiểu quy định tại Nghị định này.

Mức lương tối thiểu tháng tăng thêm từ 310.000 đến 390.000 đồng

Theo Nghị định số 399/2026/NĐ-CP, mức lương tối thiểu tháng tại 4 vùng so với quy định tại Nghị định số 293/2025/NĐ-CP ngày 10/11/2025 của Chính phủ được quy định như sau:

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 03/11/2026 - Ảnh 2.

Mức lương tối thiểu theo giờ tại vùng I tăng từ 25.500 đồng/giờ lên 27.400 đồng, vùng II từ 22.700 đồng/giờ lên 24.400 đồng, vùng III từ 20.000 đồng/giờ lên 21.400 đồng, vùng IV từ 17.800 đồng/giờ lên 19.400 đồng.

DANH MỤC ĐỊA BÀN ÁP DỤNG MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU TỪ NGÀY 01 THÁNG 01 NĂM 2027

Việc áp dụng địa bàn vùng được xác định theo nơi hoạt động của người sử dụng lao động như sau:

Người sử dụng lao động hoạt động trên địa bàn thuộc vùng nào thì áp dụng mức lương tối thiểu quy định đối với địa bàn đó.

Người sử dụng lao động có đơn vị, chi nhánh hoạt động trên các địa bàn có mức lương tối thiểu khác nhau thì đơn vị, chi nhánh hoạt động ở địa bàn nào, áp dụng mức lương tối thiểu quy định đối với địa bàn đó.

Người sử dụng lao động hoạt động trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, khu kinh tế đặc biệt, khu thương mại tự do, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nằm trên các địa bàn có mức lương tối thiểu khác nhau thì áp dụng theo địa bàn có mức lương tối thiểu cao nhất.

Người sử dụng lao động hoạt động trên địa bàn có sự đổi tên hoặc chia thì tạm thời áp dụng mức lương tối thiểu quy định đối với địa bàn trước khi đổi tên hoặc chia cho đến khi Chính phủ có quy định mới.

Người sử dụng lao động hoạt động trên địa bàn được thành lập từ một địa bàn hoặc nhiều địa bàn có mức lương tối thiểu khác nhau thì áp dụng mức lương tối thiểu theo địa bàn có mức lương tối thiểu cao nhất cho đến khi Chính phủ có quy định mới.

Áp dụng mức lương tối thiểu

Nghị định số 399/2026/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu tháng là mức lương thấp nhất làm cơ sở để thỏa thuận và trả lương đối với người lao động áp dụng hình thức trả lương theo tháng, bảo đảm mức lương theo công việc hoặc chức danh của người lao động làm việc đủ thời giờ làm việc bình thường trong tháng và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận không được thấp hơn mức lương tối thiểu tháng.

Mức lương tối thiểu giờ là mức lương thấp nhất làm cơ sở để thỏa thuận và trả lương đối với người lao động áp dụng hình thức trả lương theo giờ, bảo đảm mức lương theo công việc hoặc chức danh của người lao động làm việc trong một giờ và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận không được thấp hơn mức lương tối thiểu giờ.

Đối với người lao động áp dụng hình thức trả lương theo tuần hoặc theo ngày hoặc theo sản phẩm hoặc lương khoán thì mức lương của các hình thức trả lương này nếu quy đổi theo tháng hoặc theo giờ không được thấp hơn mức lương tối thiểu tháng hoặc mức lương tối thiểu giờ. Mức lương quy đổi theo tháng hoặc theo giờ trên cơ sở thời giờ làm việc bình thường do người sử dụng lao động lựa chọn theo quy định của pháp luật lao động như sau:

Mức lương quy đổi theo tháng bằng mức lương theo tuần nhân với 52 tuần chia cho 12 tháng; hoặc bằng mức lương theo ngày nhân với số ngày làm việc bình thường trong tháng; hoặc bằng mức lương theo sản phẩm, lương khoán thực hiện trong thời giờ làm việc bình thường trong tháng.

Mức lương quy đổi theo giờ bằng mức lương theo tuần, theo ngày chia cho số giờ làm việc bình thường trong tuần, trong ngày; hoặc bằng mức lương theo sản phẩm, lương khoán chia cho số giờ làm việc trong thời giờ làm việc bình thường để sản xuất sản phẩm, thực hiện nhiệm vụ khoán.

Không được cắt giảm các chế độ tiền lương của người lao động

Nghị định số 399/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2027.

Nghị định số 293/2025/NĐ-CP ngày 10/11/2025 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động hết hiệu lực kể từ ngày 1/1/2027.

Nghị định nêu rõ, người sử dụng lao động có trách nhiệm tổ chức rà soát lại các thoả thuận trong hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể và các quy chế, quy định của người sử dụng lao động để điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp; không được xoá bỏ hoặc cắt giảm các chế độ tiền lương khi người lao động làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật và các chế độ khác theo quy định của pháp luật lao động. 

Đối với các nội dung đã thỏa thuận, cam kết trong hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể hoặc các thoả thuận hợp pháp khác có lợi hơn cho người lao động (như chế độ trả lương cho người lao động làm công việc hoặc chức danh đòi hỏi qua học tập, đào tạo nghề cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu và chế độ trả lương cho người lao động làm công việc hoặc chức danh có điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm cao hơn ít nhất 5%; công việc hoặc chức danh có điều kiện lao động đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm cao hơn ít nhất 7% so với mức lương của công việc hoặc chức danh có độ phức tạp tương đương, làm việc trong điều kiện lao động bình thường) so với quy định tại Nghị định này, thì tiếp tục được thực hiện, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.

Phê duyệt Đề án thí điểm đánh giá, chấm điểm công tác cải cách thủ tục hành chính của bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương 

 Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 2085/QĐ-TTg ngày 2/11/2026 phê duyệt Đề án thí điểm đánh giá, chấm điểm công tác cải cách thủ tục hành chính (TTHC) của bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương (Đề án). 

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 03/11/2026 - Ảnh 3.

Thí điểm đánh giá, chấm điểm công tác cải cách thủ tục hành chính

100% chỉ số đánh giá, chấm điểm cải cách TTHC được đánh giá, giám sát trên môi trường điện tử

Mục tiêu của Đề án là xây dựng Bộ Chỉ số đánh giá, chấm điểm công tác cải cách TTHC của bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương toàn diện, xuyên suốt từ quy định đến thực hiện TTHC, bảo đảm đánh giá thực chất, đầy đủ, chính xác mức độ cải cách TTHC theo thời gian thực dựa trên dữ liệu, phục vụ chỉ đạo, điều hành, tạo nền tảng quan trọng cho việc nâng cao năng suất, sức cạnh tranh của nền kinh tế, cải thiện chất lượng thể chế, môi trường đầu tư, kinh doanh và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững.

Đề án phấn đấu 100% chỉ số đánh giá, chấm điểm cải cách TTHC được số hóa, thực hiện, theo dõi, đánh giá, giám sát trên môi trường điện tử. Ít nhất 80% dữ liệu để đánh giá, chấm điểm được thu thập tự động trên cơ sở kết nối, chia sẻ, đồng bộ dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, Cổng Dịch vụ công quốc gia, Hệ thống thông tin giải quyết TTHC và các Nền tảng, Hệ thống thông tin khác.

Cảnh báo sớm các nhiệm vụ thực hiện chậm, muộn

Việc đánh giá, chấm điểm được thực hiện tự động trên cơ sở dữ liệu và cập nhật theo thời gian thực hoặc theo tần suất cập nhật phù hợp với đặc tính của từng nguồn dữ liệu; công bố, công khai kết quả trên Cổng Dịch vụ công quốc gia và Cổng Pháp luật quốc gia; kết nối, tích hợp với Hệ thống thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Hình thành cơ chế cảnh báo sớm đối với các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương có kết quả thấp hoặc các "điểm nghẽn" hoặc các nhiệm vụ thực hiện chậm, muộn.

Phạm vi và phương thức đánh giá

Phạm vi đánh giá gồm: Cắt giảm, đơn giản hóa TTHC liên quan đến người dân, doanh nghiệp; chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp trong thực hiện TTHC, dịch vụ công.

Phương thức đánh giá: Việc đánh giá thực hiện dựa trên dữ liệu theo thời gian thực trong xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện TTHC, điều kiện kinh doanh.

2 nhóm chỉ số đánh giá, chấm điểm

1- Cắt giảm, đơn giản hóa TTHC liên quan đến người dân, doanh nghiệp

a) Chất lượng kiểm soát quy định TTHC, điều kiện kinh doanh trong dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

b) Kết quả, chất lượng rà soát và thực thi các phương án cắt giảm, đơn giản hóa TTHC, điều kiện kinh doanh tại các văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực thi hành.

c) Mức độ hài lòng về kết quả cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa TTHC.

2- Chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp trong thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công

a) Công khai, minh bạch trong thực hiện TTHC: Công bố, công khai thông tin TTHC; công khai, minh bạch trong thực hiện TTHC.

b) Kết quả và chất lượng giải quyết TTHC: Kết quả giải quyết TTHC; chất lượng giải quyết TTHC.

c) Số hóa và tái sử dụng dữ liệu phục vụ giải quyết TTHC: Cung cấp dịch vụ công trực tuyến; số hóa hồ sơ; tái sử dụng dữ liệu.

d) Mức độ hài lòng trong thực hiện TTHC.

Các tiêu chí đánh giá của từng nhóm chỉ số thành phần và điểm số chi tiết của các chỉ số được quy định chi tiết tại Phụ lục kèm theo Quyết định này.

Đánh giá theo 5 mức độ

Quyết định quy định việc tổng hợp kết quả, đánh giá, chấm điểm cải cách TTHC của bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương được thực hiện trên cơ sở tổng hợp đánh giá điểm số của các nhóm chỉ số mà bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương đạt được.

Kết quả đánh giá được xác định, phân loại cho từng bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp theo 05 mức độ: Xuất sắc; Tốt; Khá; Trung bình và yếu.

Việc đánh giá, chấm điểm các cơ quan, đơn vị trực thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố theo các tiêu chí của Đề án phục vụ cho công tác chỉ đạo, điều hành cải cách TTHC của bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương.

Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 2/11/2026.

Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà tại buổi làm việc với các tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc

Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 567/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà tại buổi làm việc với các tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 03/11/2026 - Ảnh 4.

Vùng Trung du và miền núi phía Bắc kiên định mục tiêu tăng trưởng "2 con số"

Tăng trưởng GRDP toàn vùng Trung du và miền núi phía Bắc đạt 9,43%

Thông báo nêu: Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ ghi nhận, biểu dương và đánh giá cao sự nỗ lực và những kết quả đạt được của các cấp ủy đảng, chính quyền và Nhân dân các địa phương vùng Trung du và miền núi phía Bắc về thực hiện mục tiêu tăng trưởng "2 con số", phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng và tổ chức vận hành bộ máy chính quyền địa phương 02 cấp, đóng góp vào thành quả chung của cả nước.

Tăng trưởng GRDP toàn Vùng đạt 9,43%, cao hơn mức bình quân chung của cả nước (9,01%). 

Dù mức đóng góp vào GDP cả nước chưa cao nhưng kết quả này cho thấy nỗ lực đáng ghi nhận của các tỉnh trong điều kiện đặc thù của vùng Trung du và miền núi phía Bắc, trong đó, Thái Nguyên và Phú Thọ tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt tăng trưởng của vùng; Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai có những bước tiến tích cực dù còn nhiều khó khăn. 

Khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực chủ yếu, tăng 13,03%, đóng góp khoảng 57% mức tăng GRDP của Vùng. 

Giải ngân vốn đầu tư công đạt gần 55.000 tỷ đồng, đạt 63,7% kế hoạch. Thu ngân sách nhà nước đạt 133.533 tỷ đồng, vượt dự toán được giao (100,67%). 

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục tích cực, tổng vốn FDI đăng ký 9 tháng đạt 9,68 tỷ USD, chiếm 19,2% tổng vốn FDI đăng ký của cả nước. 

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 173,67 tỷ USD, tăng 79% so với cùng kỳ năm 2025, cao hơn tốc độ tăng của cả nước (30,4%), chiếm 19,6% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước.

Việc vận hành chính quyền địa phương hai cấp; tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức từng bước đi vào ổn định; công tác phân cấp, phân quyền, cải cách hành chính, chuyển đổi số, sắp xếp thôn, bản, tổ dân phố và mạng lưới trường học được tập trung triển khai và đạt kết quả tích cực. 

Công tác an sinh xã hội, giảm nghèo, chăm lo đời sống nhân dân được quan tâm. Các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới được khẩn trương xây dựng, đưa vào vận hành; các nhiệm vụ về y tế, khám chữa bệnh, sàng lọc sức khỏe cho người dân được đẩy mạnh triển khai thực hiện.

Bên cạnh những kết quả đạt được, các địa phương vùng Trung du và miền núi phía Bắc vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc cần tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. 

Tăng trưởng 09 tháng của Vùng chưa đạt kịch bản đề ra; mức độ phát triển giữa các địa phương còn phân hóa; nhiều địa phương tăng trưởng thấp hơn mục tiêu như Sơn La, Lạng Sơn, Cao Bằng, tạo áp lực tăng trưởng trong Quý IV năm 2026 rất lớn để đạt mục tiêu cả năm. 

Tăng trưởng thiếu bền vững; các động lực tăng trưởng truyền thống chưa được tái cấu trúc mạnh mẽ, trong khi quá trình chuyển sang các động lực tăng trưởng mới còn chậm. Tiến độ giải ngân một số nguồn vốn còn thấp, nhất là vốn ODA, vốn dành cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, vốn cho các dự án trọng điểm liên vùng.

Việc vận hành chính quyền địa phương hai cấp còn gặp khó khăn, nhất là về chuyển đổi số, năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, cải cách thủ tục hành chính và thực hiện phân cấp, phân quyền.

Phải cập nhật kịch bản tăng trưởng từng tháng, từng tuần, từng khu vực, lĩnh vực, địa bàn, dự án và công việc

Để khắc phục được những hạn chế trên, Phó Thủ tướng yêu cầu trong thời gian tới các tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc cần tiếp tục quán triệt, triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đặc biệt là các Nghị quyết trụ cột, chiến lược của Bộ Chính trị và các Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các địa phương trong Vùng.

Kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; kết hợp chặt chẽ các động lực ngắn hạn với các động lực trung và dài hạn, gắn với sự phát triển chung của cả vùng. 

Rà soát, cập nhật kịch bản tăng trưởng đến từng tháng, từng tuần, từng khu vực, lĩnh vực, địa bàn, dự án và công việc. Mỗi nhiệm vụ phải được xác định theo nguyên tắc "6 rõ: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền".

Phấn đấu hết năm 2026 hoàn thành 100% kế hoạch giải ngân vốn đầu tư công

Đồng thời, các tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc tiếp tục đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, phấn đấu hết năm 2026 hoàn thành mục tiêu 100% kế hoạch; thực hiện chủ động, linh hoạt các giải pháp tháo gỡ khó khăn về giải phóng mặt bằng, vật liệu xây dựng, thủ tục đầu tư và nhân công; khẩn trương hoàn thành thủ tục đối với các nguồn vốn ODA, chương trình mục tiêu quốc gia; tập trung thúc đẩy 9 dự án trọng điểm liên vùng và các dự án cao tốc trọng điểm quốc gia. 

Những dự án không có khả năng giải ngân cần được rà soát, kiên quyết điều chuyển vốn sang các dự án có khả năng thực hiện ngay, bảo đảm sử dụng nguồn lực hiệu quả. Tập trung xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, vướng mắc kéo dài để khơi thông nguồn lực.

Phát huy thế mạnh truyền thống như nông, lâm nghiệp, khai thác và chế biến khoáng sản, du lịch, dịch vụ, kết hợp với các động lực mới như công nghiệp công nghệ cao, năng lượng tái tạo, công nghiệp văn hóa, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững. 

Phát huy tối đa những tiềm năng, lợi thế riêng có của từng địa phương, chuyển hóa thành nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tạo việc làm, nguồn thu và giá trị gia tăng cao cho các địa phương, cả Vùng và nền kinh tế.

Biến lợi thế "phên dậu" phía Bắc, Tây Bắc của Tổ quốc thành lợi thế "cửa ngõ" kết nối ASEAN với vùng Tây Nam Trung Quốc

Phó Thủ tướng cũng yêu cầu các tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc khẩn trương xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027, gắn với kịch bản tăng trưởng giai đoạn 2026 – 2030, trong đó xác định nhiệm vụ, mục tiêu, kết quả, sản phẩm cụ thể và sẵn sàng triển khai ngay từ đầu năm 2027; biến lợi thế "phên dậu" phía Bắc, Tây Bắc của Tổ quốc thành lợi thế "cửa ngõ" kết nối ASEAN với vùng Tây Nam Trung Quốc.

Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Kết luận số 76-KL/TW ngày 28 tháng 7 năm 2026 Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và Nghị quyết số 221/NQ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2026 về chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 76-KL/TW; xác định xây dựng vị trí việc làm là nhiệm vụ cấp bách, đồng thời nghiên cứu, tính toán cụ thể, xây dựng bản mô tả vị trí việc làm và khung năng lực rõ ràng, làm cơ sở xác định số lượng biên chế phù hợp với yêu cầu thực tiễn, hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương và kế hoạch của Chính phủ.

Kế hoạch triển khai thực hiện Thông báo số 125-TB/VPTW, ngày 18/7/2026 của Văn Phòng Trung ương Đảng về kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về Phát triển Công nghiệp hàng hải Quốc gia 

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc vừa ký Quyết định số 2089/QĐ-TTg ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Thông báo số 125-TB/VPTW, ngày 18/7/2026 của Văn Phòng Trung ương Đảng về kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về Phát triển Công nghiệp hàng hải Quốc gia (Kế hoạch).

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 03/11/2026 - Ảnh 5.

Phát triển hệ sinh thái công nghiệp hàng hải, cơ khí biển hiện đại, xanh, số và nâng cao năng lực tự chủ

Mục đích của Kế hoạch nhằm tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời, hiệu quả các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nêu tại Thông báo số 125-TB/VPTW ngày 18/7/2026 của Văn Phòng Trung ương Đảng về kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về Phát triển Công nghiệp hàng hải Quốc gia (Thông báo kết luận); tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động của các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp trong quá trình tổ chức thực hiện.

Đồng thời, khẩn trương tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, khơi thông nguồn lực, phát huy hiệu quả năng lực hiện có của ngành công nghiệp hàng hải; tập trung xử lý các điểm nghẽn về thể chế, cơ chế, chính sách, thị trường, khoa học và công nghệ, nguồn nhân lực, tài chính và tổ chức thực hiện, tạo nền tảng để phát triển công nghiệp hàng hải theo hướng hiện đại, đồng bộ, tự chủ và có năng lực cạnh tranh.

10 nhiệm vụ, giải pháp

Kế hoạch đặt ra 10 nhiệm vụ, giải pháp bao gồm:

1- Tổ chức quán triệt, tuyên truyền và cụ thể hóa Thông báo kết luận.

2- Xây dựng Chương trình quốc gia phát triển công nghiệp hàng hải và cơ khí biển đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050.

3- Rà soát, đánh giá, phân loại năng lực công nghiệp hàng hải quốc gia.

4- Hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp hàng hải quốc gia.

5- Hoàn thiện cơ chế tài chính, tín dụng, bảo lãnh, bảo hiểm và huy động nguồn lực phát triển công nghiệp hàng hải quốc gia.

6- Tổ chức lại thị trường, phát huy hiệu quả năng lực hiện có và phát triển thị trường công nghiệp hàng hải, cơ khí biển.

7- Phát triển hệ sinh thái công nghiệp hàng hải, cơ khí biển hiện đại, xanh, số và nâng cao năng lực tự chủ.

8- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

9- Phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh lưỡng dụng.

10- Hình thành các trung tâm, cụm liên kết công nghiệp hàng hải, cơ khí biển trọng điểm.

Đánh giá, phân loại toàn diện thực trạng, năng lực của công nghiệp hàng hải

Về rà soát, đánh giá, phân loại năng lực công nghiệp hàng hải quốc gia, theo Kế hoạch, sẽ tổ chức rà soát, đánh giá, phân loại toàn diện thực trạng và năng lực của công nghiệp hàng hải quốc gia, trong đó tập trung đánh giá năng lực thiết kế, đóng mới, sửa chữa, hoán cải phương tiện thủy; công nghiệp cơ khí biển, công nghiệp hỗ trợ; hệ thống cơ sở sản xuất, hạ tầng kỹ thuật; năng lực nghiên cứu, phát triển, đăng kiểm, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; nguồn nhân lực, khoa học và công nghệ; thị trường, tài chính và các yếu tố bảo đảm phát triển ngành.

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá thống nhất, thực hiện điều tra, cập nhật và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về công nghiệp hàng hải, bảo đảm phản ánh đầy đủ năng lực của doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, hạ tầng, công nghệ, thiết bị, nguồn nhân lực và các nguồn lực khác phục vụ công tác quản lý nhà nước, hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện Chương trình quốc gia phát triển công nghiệp hàng hải và cơ khí biển.

Trên cơ sở kết quả rà soát, xác định rõ năng lực cần được bảo toàn, đầu tư nâng cấp, liên kết phát triển, chuyển đổi hoặc sắp xếp lại; nhận diện các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, tài sản, công nghệ, dữ liệu và nguồn nhân lực có ý nghĩa chiến lược để có giải pháp quản lý, khai thác và phát triển phù hợp; đồng thời đề xuất các cơ chế, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, tránh đầu tư dàn trải, trùng lặp và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành.

Nghiên cứu, đề xuất các chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp hàng hải

Về hoàn thiện cơ chế tài chính, tín dụng, bảo lãnh, bảo hiểm và huy động nguồn lực phát triển công nghiệp hàng hải quốc gia, theo Kế hoạch, sẽ nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế tài chính, tín dụng, bảo lãnh và bảo hiểm phù hợp với đặc thù của ngành công nghiệp đóng tàu, nhất là đối với các hợp đồng đóng mới, sửa chữa, hoán cải phương tiện có quy mô lớn, thời gian thực hiện dài, yêu cầu vốn đầu tư lớn và tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Nghiên cứu, đề xuất các chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp hàng hải theo nguyên tắc công khai, minh bạch, đúng đối tượng, đúng mục tiêu, phù hợp với quy định của pháp luật và các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên; gắn việc hỗ trợ với năng lực của doanh nghiệp, hiệu quả dự án, khả năng hoàn trả vốn, kết quả sản xuất, kinh doanh và mức độ đóng góp vào nâng cao năng lực công nghiệp quốc gia.

Hoàn thiện cơ chế huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực từ ngân sách nhà nước, nguồn vốn của doanh nghiệp, nguồn vốn tín dụng, thị trường vốn, hợp tác công tư và các nguồn lực hợp pháp khác để đầu tư phát triển công nghiệp hàng hải; ưu tiên bố trí nguồn lực cho các lĩnh vực then chốt, các dự án có tính lan tỏa, có khả năng làm chủ công nghệ, nâng cao tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước và phát triển công nghiệp hỗ trợ.

Khuyến khích các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính, doanh nghiệp bảo hiểm phát triển các sản phẩm tín dụng, bảo lãnh và bảo hiểm phù hợp với đặc thù của ngành công nghiệp đóng tàu và các lĩnh vực có liên quan, trên cơ sở tuân thủ quy định của pháp luật và bảo đảm an toàn hoạt động.

Hình thành một số trung tâm và cụm liên kết công nghiệp hàng hải

Hình thành một số trung tâm và cụm liên kết công nghiệp hàng hải, cơ khí biển trọng điểm trên cơ sở lợi thế về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực và năng lực của doanh nghiệp; bảo đảm chuyên môn hóa, phân công hợp lý, liên kết chặt chẽ với hệ thống cảng biển, cảng thủy nội địa, logistics, công nghiệp hỗ trợ và các ngành công nghiệp có liên quan; tránh đầu tư dàn trải, phân tán nguồn lực và trùng lặp trong đầu tư; khuyến khích phát triển các trung tâm sửa chữa, hoán cải, tháo dỡ, tái chế phương tiện thủy theo mô hình kinh tế tuần hoàn; thúc đẩy áp dụng công nghệ tiên tiến, sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải, bảo đảm tuân thủ các quy định của pháp luật và các tiêu chuẩn quốc tế về lao động, an toàn, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Tăng cường phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong quy hoạch, đầu tư, quản lý và phát triển các trung tâm, cụm liên kết công nghiệp hàng hải và đường thủy; phát huy hiệu quả liên kết vùng, huy động các nguồn lực của Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội để phát triển đồng bộ hệ sinh thái công nghiệp hàng hải quốc gia.

Quy định hồ sơ, trình tự, thủ tục xác định dự án đầu tư sử dụng công nghệ lạc hậu, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, thâm dụng tài nguyên 

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 49/2026/QĐ-TTg quy định hồ sơ, trình tự, thủ tục xác định dự án đầu tư sử dụng công nghệ lạc hậu, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, thâm dụng tài nguyên.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 03/11/2026 - Ảnh 6.

Quyết định số 49/2026/QĐ-TTg quy định trình tự, thủ tục xác định dự án sử dụng công nghệ lạc hậu, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường

Quyết định này quy định hồ sơ, trình tự, thủ tục xác định dự án đầu tư sử dụng công nghệ lạc hậu, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, thâm dụng tài nguyên và hoạt động giám định máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ trong dự án đầu tư.

Trình tự, thủ tục xác định công nghệ của dự án đầu tư

Quyết định nêu rõ, trình tự, thủ tục xác định công nghệ của dự án đầu tư. Cụ thể, nhà đầu tư nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị xác định công nghệ trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, trực tiếp hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính đến cơ quan chủ trì tổ chức việc xác định công nghệ theo phân cấp thẩm quyền quy định tại điểm a và điểm b khoản 16 Điều 28 Nghị định số 96/2026/NĐ-CP (cơ quan chủ trì). 

Trường hợp hồ sơ đã được tiếp nhận trực tuyến thì không yêu cầu nhà đầu tư nộp lại bản giấy đối với thành phần hồ sơ đã được xác thực, ký số hoặc có thể khai thác từ hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trường hợp các thành phần hồ sơ không được xác thực, ký số hoặc không khai thác được thông tin hoặc thông tin khai thác được không đầy đủ, không chính xác thì cơ quan, người có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính yêu cầu cá nhân, tổ chức bổ sung thành phần hồ sơ để giải quyết thủ tục hành chính.

Đối với hồ sơ chưa đầy đủ, chưa hợp lệ theo quy định:

- Trường hợp nhà đầu tư nộp hồ sơ trực tiếp, người có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính hướng dẫn nhà đầu tư hoàn thiện hoặc từ chối tiếp nhận hồ sơ theo quy định của pháp luật về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông.

- Trường hợp nhà đầu tư nộp hồ sơ qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan chủ trì có văn bản thông báo đến nhà đầu tư để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. Văn bản thông báo nêu rõ tên hồ sơ và ngày tiếp nhận; các thành phần hồ sơ, nội dung cần sửa đổi, bổ sung và lý do; thời hạn nhà đầu tư hoàn thiện hồ sơ; thông tin của bộ phận, người trực tiếp giải quyết hồ sơ.

Quyết định nêu rõ, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, cơ quan chủ trì có văn bản gửi cơ quan quản lý nhà nước về môi trường và cơ quan quản lý chuyên ngành theo phân cấp tương ứng với thẩm quyền của cơ quan chủ trì để lấy ý kiến phối hợp. Trường hợp cần thiết, cơ quan chủ trì lấy ý kiến tổ chức, chuyên gia độc lập để tham vấn về chuyên môn, xác định công nghệ của dự án đầu tư.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, cơ quan được lấy ý kiến phối hợp, tổ chức, chuyên gia độc lập có ý kiến bằng văn bản gửi cơ quan chủ trì.

Đối với dự án đầu tư có quy mô lớn, công nghệ phức tạp, trong trường hợp cần thiết, trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, cơ quan chủ trì căn cứ hồ sơ cụ thể và năng lực chuyên môn của mình quyết định thành lập Hội đồng tư vấn khoa học và công nghệ theo quy định Quyết định, tổ chức khảo sát thực tế tại dự án đầu tư và tổ chức họp Hội đồng để cho ý kiến xác định công nghệ của dự án đầu tư.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến của cơ quan phối hợp, Hội đồng tư vấn khoa học và công nghệ, tổ chức, chuyên gia độc lập, cơ quan chủ trì có ý kiến bằng văn bản xác định công nghệ của dự án đầu tư theo Mẫu số 04 quy định tại Phụ lục của Quyết định này.

Trường hợp máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ của dự án đầu tư đã có kết quả kiểm định, giám định hợp pháp còn hiệu lực về an toàn, hiệu suất năng lượng, bảo vệ môi trường do cơ quan quản lý nhà nước hoặc tổ chức giám định được chỉ định bởi cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp, cơ quan chủ trì xem xét sử dụng, tham chiếu các kết quả này khi xác định công nghệ của dự án đầu tư, không yêu cầu đánh giá lại đối với nội dung đã có kết quả, trừ trường hợp có căn cứ cho thấy kết quả không còn chính xác, phù hợp.

Theo Quyết định, Hội đồng tư vấn khoa học và công nghệ gồm: Chủ tịch, Phó Chủ tịch và thư ký Hội đồng; đại diện cơ quan chủ trì, cơ quan quản lý nhà nước có liên quan; cơ quan chuyên môn về khoa học và công nghệ của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi thực hiện dự án, trong trường hợp cơ quan chủ trì là Bộ Khoa học và Công nghệ theo phân cấp thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 16 Điều 28 Nghị định số 96/2026/NĐ-CP; chuyên gia có chuyên môn phù hợp với lĩnh vực công nghệ cần xác định, đánh giá. số lượng chuyên gia không nhỏ hơn 1/3 số lượng thành viên Hội đồng.

Hội đồng tư vấn khoa học và công nghệ làm việc theo nguyên tắc dân chủ, khách quan, trung thực, thảo luận tập thể hoặc lấy ý kiến bằng văn bản và kết luận theo đa số; kết luận của Hội đồng được lập thành biên bản, thể hiện rõ ý kiến của từng thành viên trong trường hợp có ý kiến khác, làm căn cứ để cơ quan chủ trì xem xét, quyết định xác định công nghệ của dự án đầu tư; Hội đồng chịu trách nhiệm trước pháp luật và cơ quan thành lập Hội đồng về nội dung tư vấn, kiến nghị.

Cơ quan có thẩm quyền quyết định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng phù hợp với nguyên tắc quy định.

Chứng thư giám định có hiệu lực 12 tháng

Theo quy định, chứng thư giám định được cấp bởi tổ chức giám định được chỉ định giám định máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ trong dự án đầu tư theo quy định của pháp luật.

Hiệu lực của chứng thư giám định là 12 tháng kể từ ngày cấp chứng thư.

Việc chỉ định tổ chức giám định máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ trong dự án đầu tư theo quy định tại Quyết định này là việc Bộ Khoa học và Công nghệ chỉ định tổ chức giám định đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa để thực hiện giám định máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ của dự án đầu tư theo tiêu chí được quy định tại pháp luật về đầu tư và theo hồ sơ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Quyết định này.

Tổ chức giám định đã được chỉ định thực hiện giám định máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng nhập khẩu theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại thương được đăng ký với cơ quan có thẩm quyền để được chỉ định bổ sung phạm vi hoạt động giám định máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ trong dự án đầu tư.

Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 09 luật về quân sự, quốc phòng 

Phó Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Giang ký Quyết định số 2084/QĐ-TTg ngày 02/11/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 09 luật về quân sự, quốc phòng (Kế hoạch).

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 03/11/2026 - Ảnh 7.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 09 luật về quân sự, quốc phòng được Quốc hội khóa XVI, Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất thông qua ngày 23/8/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2026.

Mục đích của Kế hoạch nhằm bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên, có hiệu quả giữa các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan, tổ chức liên quan trong triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 09 luật về quân sự, quốc phòng (gọi tắt là Luật).

Đồng thời, xác định trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong việc tiến hành các hoạt động triển khai thi hành Luật trên phạm vi cả nước.

Bên cạnh đó, nâng cao nhận thức về Luật và trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương và Nhân dân trong việc thi hành Luật.

Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ về nội dung Luật

Kế hoạch đưa ra các nội dung nhiệm vụ cụ thể để các bộ, ngành, địa phương, cơ quan liên quan thực hiện như sau:

Bộ Quốc phòng biên soạn tài liệu phục vụ công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật; tài liệu tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ.

Đồng thời, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam và các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình khác theo chức năng quản lý của mình, tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ về nội dung Luật và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật.

2 nhiệm vụ trên sẽ được thực hiện trong năm 2026 và các năm tiếp theo.

Từ nay đến hết năm 2026, Bộ Quốc phòng tiến hành rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của mình, thực hiện theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật đảm bảo phù hợp với quy định của Luật.

Các bộ, ngành, địa phương rà soát văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật thuộc phạm vi, lĩnh vực, địa bàn quản lý nhà nước được phân công và gửi kết quả về Bộ Quốc phòng (theo chức năng quản lý của từng bộ, ngành) để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Xây dựng các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật

Trong tháng 10/2026, Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan có liên quan xây dựng, trình Chính phủ ban hành 02 nghị định (sửa đổi, bổ sung 11 nghị định) theo trình tự thủ tục rút gọn.

Đồng thời, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành 04 thông tư (sửa đổi, bổ sung 25 thông tư).

Bên cạnh đó, Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan có liên quan tổ chức kiểm tra việc thi hành Luật và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật từ nay đến hết năm 2026 và các năm tiếp theo.

Bà Nguyễn Thị Loan giữ chức Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường 

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng ký Quyết định số 2075/QĐ-TTg ngày 30/10/2026 điều động, bổ nhiệm bà Nguyễn Thị Loan, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên giữ chức Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường./.