Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 15/10/2026
(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 15/10/2026.

Tăng cường các biện pháp quản lý, điều hành giá trong những tháng cuối năm 2026
Công điện của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các biện pháp quản lý, điều hành giá trong những tháng cuối năm 2026
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng vừa ký Công điện số 70/CĐ-TTg ngày 15/10/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp quản lý, điều hành giá trong những tháng cuối năm 2026, góp phần kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra.
Trong 9 tháng đầu năm 2026, kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhất là từ biến động địa chính trị và đứt gãy các nguồn cung. Xung đột kéo dài tại Trung Đông tác động đến giá năng lượng, các chi phí đầu vào và hoạt động vận tải, logistic quốc tế, qua đó gây áp lực lên giá cả hàng hóa, dịch vụ trong nước. Mặc dù giá một số mặt hàng có thời điểm hạ nhiệt, nhưng do tác động tích lũy từ các đợt tăng giá trước đó và diễn biến tăng trở lại của giá xăng dầu tiếp tục ảnh hưởng đến mặt bằng giá cả trong nước 09 tháng năm 2026.
Theo số liệu thống kê 9 tháng năm 2026, Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân cả nước tăng 4,52% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, có 14 tỉnh, thành phố có CPI bình quân 9 tháng tăng cao hơn mức tăng bình quân chung của cả nước. Diễn biến này cho thấy áp lực tăng giá tại một số địa phương còn lớn, đòi hỏi phải có giải pháp quản lý, điều hành giá chủ động, kịp thời, sát với tình hình thực tế, phù hợp với đặc điểm thị trường và cơ cấu tiêu dùng của từng địa phương.
Trong những tháng cuối năm 2026, nhu cầu tiêu dùng, mua sắm phục vụ các dịp lễ, Tết và hoạt động sản xuất, kinh doanh dự kiến tăng theo quy luật; trong khi những yếu tố bất lợi từ tình hình kinh tế, chính trị thế giới, giá năng lượng, chi phí vận tải và nguy cơ gián đoạn nguồn cung vẫn có thể tiếp tục gây sức ép lên mặt bằng giá. Vì vậy, để chủ động ứng phó với những thách thức trong công tác quản lý, điều hành giá trong các tháng cuối năm 2026 góp phần kiểm soát CPI bình quân năm 2026 theo mục tiêu khoảng 4,5%, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm đời sống Nhân dân và hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tiếp tục thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về quản lý, điều hành giá, bình ổn thị trường trong đó có Công điện số 28/CĐ-TTg ngày 01 tháng 4 năm 2026 về việc tăng cường công tác quản lý, điều hành và bình ổn giá; tập trung chỉ đạo triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp sau:
1. Chủ động theo dõi, phân tích, dự báo diễn biến giá cả thị trường và xây dựng phương án điều hành phù hợp với tình hình thực tế
a) Các Bộ, cơ quan ngang Bộ và địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao thường xuyên theo dõi sát diễn biến kinh tế thế giới và trong nước, tình hình cung cầu, giá cả thị trường; kịp thời phân tích, đánh giá tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến mặt bằng giá, nhất là giá xăng dầu, năng lượng, lương thực, thực phẩm, nguyên nhiên vật liệu, vật liệu xây dựng và các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu có tác động lớn đến đời sống nhân dân và chi phí sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Kịp thời nhận diện các yếu tố gây áp lực tăng giá để chủ động có phương án ứng phó, không để bị động, bất ngờ trong công tác quản lý, điều hành giá.
b) Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan theo dõi sát diễn biến CPI và các yếu tố tác động đến mặt bằng giá; tổng hợp, phân tích, dự báo tình hình; kịp thời tham mưu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Ban Chỉ đạo điều hành giá các giải pháp quản lý, điều hành giá phù hợp.
c) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt phối hợp với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác; điều hành lãi suất, tín dụng hợp lý; theo dõi sát tỷ giá, thị trường ngoại hối, bảo đảm nhu cầu ngoại tệ hợp pháp, hạn chế tác động của lạm phát nhập khẩu; kiểm tra, xử lý các hành vi găm giữ, thao túng thị trường ngoại tệ theo quy định.
2. Bảo đảm cân đối cung cầu và ổn định giá hàng hóa, dịch vụ thiết yếu
a) Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương theo dõi sát diễn biến cung cầu, giá cả các mặt hàng năng lượng, xăng dầu, điện và hàng hóa thiết yếu thuộc lĩnh vực quản lý; chủ động phương án bảo đảm nguồn cung, điều tiết lưu thông, phân phối hàng hóa giữa các vùng, địa phương; triển khai các giải pháp bình ổn thị trường theo thẩm quyền, không để xảy ra thiếu hàng, gián đoạn nguồn cung hoặc tăng giá bất hợp lý. Tăng cường kiểm tra hoạt động kinh doanh, phân phối hàng hóa, kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giá, cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
b) Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với các bộ, ngành, địa phương theo dõi tình hình sản xuất, nguồn cung và giá cả các mặt hàng nông, lâm, thủy sản, lương thực, thực phẩm; chủ động phương án bảo đảm nguồn cung, thúc đẩy sản xuất, thu hoạch, lưu thông và phân phối hàng hóa, nhất là các mặt hàng phục vụ nhu cầu tiêu dùng dịp cuối năm và Tết Nguyên đán. Kịp thời đề xuất giải pháp khắc phục tình trạng thiếu hụt nguồn cung cục bộ do thiên tai, dịch bệnh hoặc các yếu tố bất lợi khác.
c) Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương theo dõi sát tình hình sản xuất, nguồn cung, nhu cầu và biến động giá vật liệu xây dựng; nâng cao chất lượng, tính kịp thời của công tác công bố giá vật liệu xây dựng theo quy định. Chủ động đánh giá nguyên nhân biến động giá, đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn về nguồn cung, vận chuyển và lưu thông vật liệu xây dựng; kịp thời phát hiện, xử lý hoặc kiến nghị xử lý theo thẩm quyền các hành vi vi phạm, góp phần bảo đảm tiến độ công trình, dự án và kiểm soát chi phí đầu tư xây dựng.
d) Bộ Y tế theo dõi sát diễn biến giá thuốc, vật tư y tế, dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh và các hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực quản lý; phối hợp với các cơ quan liên quan bảo đảm nguồn cung, tăng cường kiểm tra việc chấp hành quy định về giá, không để xảy ra tình trạng thiếu thuốc, vật tư y tế hoặc lợi dụng tình hình thị trường để tăng giá bất hợp lý.
đ) Bộ Giáo dục và Đào tạo theo chức năng, nhiệm vụ được giao phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi tình hình cung cầu, giá sách giáo khoa và các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu thuộc lĩnh vực quản lý; chủ động phương án bảo đảm nguồn cung, kiểm soát các yếu tố tác động đến giá, góp phần hạn chế áp lực tăng giá đối với người dân.
e) Các bộ, ngành, địa phương căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao chủ động phương án bảo đảm nguồn cung hàng hóa, dịch vụ thiết yếu; triển khai hiệu quả các chương trình bình ổn thị trường, kết nối cung cầu, xúc tiến thương mại và các giải pháp hỗ trợ lưu thông hàng hóa. Đặc biệt chú trọng bảo đảm nguồn cung trong mùa mưa bão, thiên tai, các tình huống khẩn cấp và thời điểm nhu cầu tiêu dùng tăng cao cuối năm; không để xảy ra tình trạng khan hiếm hàng hóa cục bộ kéo dài, đầu cơ, găm hàng hoặc tăng giá bất hợp lý.
3. Điều hành thận trọng giá hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ và địa phương rà soát các phương án điều chỉnh giá thuộc thẩm quyền, phạm vi quản lý; đánh giá đầy đủ sự cần thiết, mức độ và thời điểm điều chỉnh, tác động đến CPI, mặt bằng giá, đời sống người dân, hoạt động sản xuất, kinh doanh và mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2026. Trường hợp cần thiết phải điều chỉnh tăng giá, phải cân nhắc kỹ lưỡng thời điểm, mức độ điều chỉnh trên cơ sở đánh giá đầy đủ các yếu tố chi phí, khả năng chi trả của người dân, tình hình kinh tế - xã hội và yêu cầu kiểm soát lạm phát; thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Hạn chế việc điều chỉnh giá vào cùng một thời điểm hoặc tập trung trong những tháng cuối năm khi có thể chủ động bố trí thời điểm phù hợp hơn, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu thực hiện cơ chế giá thị trường và mục tiêu ổn định mặt bằng giá.
4. Tăng cường trách nhiệm quản lý, điều hành giá tại địa phương
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo các sở, ngành, cơ quan chức năng triển khai các biện pháp quản lý, điều hành giá phù hợp với đặc điểm thị trường, cơ cấu tiêu dùng và điều kiện kinh tế - xã hội trên địa bàn; tập trung vào các nhiệm vụ sau:
a) Đối với 14 địa phương (Sơn La, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Gia Lai, Huế, Tây Ninh, Khánh Hòa, Cà Mau, Đà Nẵng, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Đắk Lắk) có CPI bình quân 9 tháng năm 2026 tăng cao hơn mức tăng CPI bình quân chung của cả nước, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với cơ quan thống kê và các cơ quan chức năng khẩn trương rà soát, đánh giá cụ thể diễn biến CPI trên địa bàn; phân tích chuyên sâu nguyên nhân tăng giá theo từng nhóm hàng hóa, dịch vụ, làm rõ các yếu tố tác động từ nguồn cung, nhu cầu tiêu dùng, chi phí đầu vào, lưu thông, phân phối, việc điều chỉnh giá hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá và các yếu tố đặc thù của địa phương.
Trên cơ sở kết quả phân tích, xác định rõ các nhóm hàng hóa, dịch vụ đóng góp chủ yếu vào mức tăng CPI; xây dựng và triển khai ngay phương án, giải pháp quản lý, điều hành giá phù hợp với thẩm quyền, tập trung vào các nhóm hàng có mức tăng cao, có tác động lớn đến CPI và đời sống người dân. Phân công cụ thể trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị; tăng cường kiểm tra, đôn đốc và thường xuyên đánh giá kết quả thực hiện để kiểm soát CPI của địa phương không tăng trong những tháng còn lại của năm 2026, đóng góp vào mục tiêu kiểm soát lạm phát chung của cả nước.
b) Đối với các địa phương có CPI bình quân 9 tháng năm 2026 tăng thấp hơn mức tăng CPI bình quân chung của cả nước, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố không được chủ quan, cần tiếp tục theo dõi sát diễn biến giá cả, cung cầu hàng hóa, dịch vụ trên địa bàn, chủ động xây dựng phương án điều hành giá trong những tháng cuối năm, nhất là đối với các mặt hàng thiết yếu và các nhóm hàng có nguy cơ tăng giá theo mùa vụ. Kịp thời triển khai các biện pháp phù hợp để hạn chế áp lực tăng giá, duy trì ổn định mặt bằng giá, đóng góp vào mục tiêu kiểm soát CPI chung của cả nước.
c) Rà soát, đánh giá tình hình sản xuất, dự trữ, lưu thông, phân phối và nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn; chủ động xây dựng phương án bảo đảm nguồn cung hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phục vụ nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trong những tháng cuối năm và dịp Tết Nguyên đán năm 2027. Đặc biệt chú trọng các mặt hàng xăng dầu, lương thực, thực phẩm, thịt gia súc, gia cầm, rau củ quả, vật liệu xây dựng, phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc, vật tư y tế và các hàng hóa thiết yếu khác.
d) Chủ động triển khai các chương trình bình ổn thị trường phù hợp với điều kiện thực tế và khả năng cân đối nguồn lực của địa phương; khuyến khích doanh nghiệp tham gia dự trữ, cung ứng hàng hóa thiết yếu, thực hiện các chương trình khuyến mại, giảm giá phù hợp, góp phần ổn định thị trường và hỗ trợ người tiêu dùng. Tăng cường phối hợp giữa các địa phương trong kết nối cung cầu, điều tiết nguồn hàng, bảo đảm lưu thông hàng hóa thông suốt, nhất là tại các khu vực bị ảnh hưởng bởi thiên tai, mưa bão và các thời điểm nhu cầu tiêu dùng tăng cao; không để xảy ra tình trạng thiếu hàng, đứt gãy nguồn cung, đầu cơ, găm hàng gây tăng giá bất hợp lý.
đ) Tăng cường theo dõi, giám sát hoạt động lưu thông, phân phối hàng hóa; rà soát các khâu trung gian, chi phí vận chuyển, lưu kho, bảo quản và phân phối. Khuyến khích các doanh nghiệp chủ động tiết giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, đa dạng hóa nguồn cung và phương thức phân phối, góp phần giảm giá thành sản phẩm, dịch vụ và hạn chế áp lực tăng giá trên thị trường. Kịp thời phối hợp với các cơ quan chức năng xử lý khó khăn, vướng mắc trong lưu thông, vận chuyển hàng hóa, không để các yếu tố khách quan trở thành nguyên nhân gây thiếu hụt nguồn cung và tăng giá bất hợp lý.
e) Theo dõi sát tình hình sản xuất, nguồn cung, nhu cầu và biến động giá vật liệu xây dựng tại địa phương; kịp thời công bố giá vật liệu xây dựng theo quy định. Triển khai các giải pháp quyết liệt để ổn định mặt bằng giá các mặt hàng vật liệu xây dựng chủ yếu (như cát, đá, sỏi, đất san lấp...); chú trọng công tác quy hoạch, thay đổi phương án khai thác, quản lý chặt chẽ các mỏ khoáng sản, vật liệu xây dựng, không để tăng giá bất hợp lý và thiếu hụt nguồn cung nhằm đảm bảo phục vụ các dự án trọng điểm quốc gia, các dự án quan trọng tại địa phương và nhu cầu thị trường.
5. Tăng cường kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giá, kịp thời phát hiện và xử lý vi phạm
a) Các Bộ, cơ quan ngang Bộ và địa phương theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền tăng cường kiểm tra giám sát việc chấp hành pháp luật về kê khai giá, niêm yết giá, công khai thông tin về giá và bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ theo giá niêm yết: tập trung vào các mặt hàng thiết yếu và các lĩnh vực có nguy cơ phát sinh biến động giá bất thường như các lĩnh vực vận tải, lưu trú, du lịch, vật liệu xây dựng, lương thực, thực phẩm, thuốc và vật tư y tế. Chủ động kiểm tra yếu tố hình thành giá theo quy định và thẩm quyền khi cần thiết; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về giá, lợi dụng biến động thị trường để tăng giá bất hợp lý, đầu cơ, găm hàng, thao túng giá hoặc gây gián đoạn nguồn cung.
b) Theo dõi, rà soát diễn biến giá bán đối với các hàng hóa, dịch vụ có chi phí đầu vào giảm, khuyến khích doanh nghiệp chủ động tiết giảm chi phí, điều chỉnh giá bán phù hợp với biến động giảm của các yếu tố hình thành giá; kịp thời kiểm tra, xử lý khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật.
6. Đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông, ổn định tâm lý thị trường
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ và địa phương phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các cơ quan báo chí, truyền thông cung cấp kịp thời, chính xác, khách quan, minh bạch thông tin về cung cầu, giá cả hàng hóa thiết yếu và các biện pháp quản lý, điều hành giá giúp người dân, doanh nghiệp chủ động trong sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng, góp phần ổn định tâm lý thị trường, kiểm soát kỳ vọng lạm phát. Xử lý theo pháp luật các trường hợp tung tin thất thiệt gây hoang mang, bất ổn thị trường.
7. Tổ chức thực hiện
a) Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm chỉ đạo thực hiện Công điện này; phân công rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, nhiệm vụ và trách nhiệm của người đứng đầu; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc và đánh giá kết quả thực hiện bảo đảm các giải pháp quản lý, điều hành giá được triển khai đồng bộ, thực chất, hiệu quả, phù hợp với tình hình thực tế. Chủ động xử lý vấn đề thuộc thẩm quyền, kịp thời báo cáo, đề xuất cấp có thẩm quyền đối với vấn đề vượt thẩm quyền.
b) Các Bộ, cơ quan ngang Bộ và địa phương thực hiện nghiêm chế độ báo cáo giá thị trường và công tác quản lý, điều hành giá; định kỳ hằng tháng tổng hợp tình hình, kết quả thực hiện, gửi Bộ Tài chính để theo dõi, tổng hợp. Kịp thời báo cáo khi phát sinh biến động bất thường, nguy cơ thiếu hụt nguồn cung hoặc áp lực tăng giá lớn; đề xuất giải pháp xử lý phù hợp.
c) Bộ Tài chính, với vai trò cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo điều hành giá, theo dõi, đôn đốc và tổng hợp báo cáo của các Bộ, cơ quan và địa phương; phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương đánh giá diễn biến giá hàng hóa, dịch vụ và tác động đến CPI để tham mưu Trưởng Ban Chỉ đạo điều hành giá các biện pháp quản lý, điều hành giá phù hợp.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao, tập trung chỉ đạo triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp nêu tại Công điện này và các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo điều hành giá về công tác quản lý, điều hành giá từ đầu năm 2026; chủ động theo dõi sát diễn biến thị trường, nâng cao năng lực phân tích, dự báo, kịp thời ứng phó với các yếu tố gây áp lực tăng giá, tuyệt đối không chủ quan, lơ là trong công tác quản lý, điều hành giá. Phấn đấu kiểm soát CPI tại từng địa phương, góp phần thực hiện mục tiêu CPI bình quân năm 2026 tăng khoảng 4,5%, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, đời sống nhân dân và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 112/2017/NĐ-CP ngày 06/10/2017 của Chính phủ quy định về chế độ, chính sách đối với thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam tham gia kháng chiến giai đoạn 1965 - 1975
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Nghị định số 388/2026/NĐ-CP ngày 13/10/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 112/2017/NĐ-CP ngày 06/10/2017 của Chính phủ quy định về chế độ, chính sách đối với thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam tham gia kháng chiến giai đoạn 1965 - 1975.
Nghị định 388/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 112/2017/NĐ-CP với nhiều điểm mới đáng chú ý như: Điều chỉnh mức trợ cấp hằng tháng, đơn giản hóa hồ sơ, thủ tục hành chính, bổ sung hình thức nộp trực tuyến, bảo đảm tốt hơn quyền lợi của thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam tham gia kháng chiến giai đoạn 1965 - 1975.
Về chế độ trợ cấp hằng tháng, Điều 5 Nghị định 112/2017/NĐ-CP quy định thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam không còn khả năng lao động và sống cô đơn, không nơi nương tựa thì được xét trợ cấp hằng tháng mức 540.000 đồng. Mức trợ cấp này sẽ được điều chỉnh tương ứng khi Chính phủ điều chỉnh mức trợ cấp hằng tháng đối với thanh niên xung phong hoàn thànhnhiệm vụ trong kháng chiến quy định tại Quyết định số 40/2011/QĐ-TTgngày 27 tháng 7 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ.
Mức trợ cấp trên được điều chỉnh tại Nghị định 388/2026/NĐ-CP như sau: Thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam không còn khả năng lao động và sống cô đơn, không nơi nương tựa thì được hưởng trợ cấp hằng tháng bằng 02 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội theo quy định hiện hành.
Đơn giản hóa thủ tục, được nộp hồ sơ trợ cấp trực tuyến
Bên cạnh đó, Nghị định sửa đổi, bổ sung Điều 9 về quy trình và thời hạn giải quyết chế độ trợ cấp một lần, chế độ trợ cấp hằng tháng.
Theo đó, đối tượng đề nghị hưởng chính sách hoặc thân nhân của đối tượng (trường hợp đối tượng đã chết) nộp 01 bộ hồ sơ theo quy định bằng hình thức trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đăng ký thường trú.
Trường hợp các thành phần hồ sơ, giấy tờ của người dân kèm theo bản khai đã có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia hoặc Cơ sở dữ liệu chuyên ngành và đã được kết nối, chia sẻ với Cổng Dịch vụ công quốc gia, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính thì cơ quan có thẩm quyền giải quyết không yêu cầu người nộp hồ sơ cung cấp hoặc nộp lại các giấy tờ này khi thực hiện thủ tục hành chính.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp xã rà soát, phân loại, kiểm tra hồ sơ, tổ chức hội nghị để xác định những đối tượng đủ điều kiện và lập biên bản xác nhận hồ sơ xét hưởng chế độ trợ cấp theo Mẫu số 5 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.
Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc hội nghị xét duyệt hồ sơ, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm công khai kết quả theo Mẫu số 6A tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã; đăng tải trên Cổng thông tin điện tử và thông báo trên Đài truyền thanh cấp xã trong 05 ngày làm việc.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định, cơ quan chuyên môn về lĩnh vực Nội vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Hội Cựu thanh niên xung phong, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cùng cấp và các cơ quan, đơn vị liên quan hoàn thành việc thẩm định, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định.
Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của cơ quan chuyên môn về lĩnh vực Nội vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định hưởng chế độ trợ cấp theo Mẫu số 8, 9, 10 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.
Rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ
Nghị định 388/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung Điều 10 về hồ sơ, quy trình, thời hạn giải quyết chế độ trợ cấp mai táng.
Theo đó, hồ sơ của đại diện thân nhân hoặc người lo mai táng, gồm:
Bản trích sao quyết định hưởng chế độ trợ cấp một lần hoặc hằng tháng của thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam đã chết. Trường hợp chưa được hưởng chế độ trợ cấp theo quy định thì nộp bản niêm yết kết quả xét duyệt của Ủy ban nhân dân cấp xã theo Mẫu số 6A quy định tại khoản 3 Điều 9 Nghị định này.
Bản chính hoặc bản sao chứng thực giấy chứng tử hoặc trích lục khai tử. Trường hợp cơ quan tiếp nhận hồ sơ khai thác được dữ liệu chứng tử từ Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử hoặc Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc Cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin có liên quan thì thân nhân hoặc người lo mai táng không phải nộp giấy tờ này.
Trình tự thực hiện trợ cấp mai táng
Đại diện thân nhân hoặc người lo mai táng cho thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam nộp 01 bộ hồ sơ bằng hình thức trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đăng ký thường trú.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc (trước đây là 5 ngày) kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp xã kiểm tra, làm văn bản đề nghị theo Mẫu số 11 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này và gửi hồ sơ đến cơ quan chuyên môn về lĩnh vực Nội vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc (trước đây là 10 ngày) kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định do Ủy ban nhân dân cấp xã chuyển đến, cơ quan chuyên môn về lĩnh vực Nội vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh kiểm tra, tổng hợp, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Trong thời hạn 02 ngày làm việc (trước đây là 10 ngày) kể từ ngày nhận được báo cáo của cơ quan chuyên môn về lĩnh vực Nội vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định hưởng chế độ trợ cấp mai táng.
Như vậy, Nghị định 388/2026/NĐ-CP quy định rõ hơn về trình tự, thời hạn giải quyết ở từng khâu, từng cấp, từ cấp xã đến cấp tỉnh và khâu chi trả, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ, góp phần nâng cao tính minh bạch, bảo đảm quyền lợi cho đối tượng chính sách.
Nghị định 388/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/12/2026.
Các đối tượng đã nộp hồ sơ và được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục được giải quyết theo quy định tại Nghị định số 112/2017/NĐ-CP, Nghị định số 344/2025/NĐ-CP và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
Thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam chết từ ngày 20/11/2017 đến trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành mà chưa được giải quyết chế độ trợ cấp một lần và không còn lưu giữ giấy tờ để giải quyết chế độ trợ cấp mai táng quy định tại Nghị định số 112/2017/NĐ-CP thì thân nhân được lập hồ sơ đề nghị xem xét hưởng chế độ trợ cấp một lần bằng 3.600.000 đồng quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định số 112/2017/NĐ-CP nếu đáp ứng đủ điều kiện theo quy định.
Các văn bản dẫn chiếu tại Nghị định này được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng văn bản khác thì nội dung dẫn chiếu được thực hiện theo các văn bản mới.
Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh xổ số
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký ban hành Nghị định số 389/2026/NĐ-CP ngày 14/10/2026 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh xổ số.
Nghị định này quy định hành vi vi phạm hành chính, hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc, hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện; hình thức xử phạt; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả; thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh xổ số.
Nghị định quy định mức phạt tiền đối với cá nhân bằng 1/2 lần mức phạt tiền đối với tổ chức cho cùng hành vi vi phạm. Cụ thể, mức phạt tiền đối với cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh xổ số tối đa là 100.000.000 đồng, đối với tổ chức tối đa là 200.000.000 đồng.
Ngoài hình thức phạt tiền, Nghị định còn quy định các hình thức xử phạt bổ sung gồm: Đình chỉ hoạt động kinh doanh xổ số có thời hạn; tịch thu tang vật vi phạm hành chính và phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm...
Kinh doanh xổ số không có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh bị phạt tới 200 triệu đồng
Đối với hành vi vi phạm về cấp, quản lý, sử dụng Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xổ số, Nghị định quy định:
Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 120.000.000 đồng đối với tổ chức có hành vi tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xổ số nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Phạt tiền từ 120.000.000 đồng đến 160.000.000 đồng đối với tổ chức có hành vi cho mượn, cho thuê hoặc chuyển nhượng Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xổ số.
Phạt tiền từ 160.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với tổ chức hành vi kinh doanh xổ số không có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xổ số do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Kinh doanh xổ số không đúng địa bàn bị phạt tới 40 triệu đồng
Đối với hành vi vi phạm quy định về phân phối vé xổ số và địa bàn kinh doanh xổ số, Nghị định quy định phạt cảnh cáo đối với tổ chức có hành vi bán vé xổ số không đúng mệnh giá quy định ghi trên tờ vé xổ số; phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với tổ chức có hành vi thực hiện phân phối vé xổ số không đúng phương thức được phép phân phối.
Đặc biệt, Nghị định quy định các tổ chức nếu thực hiện kinh doanh xổ số không đúng địa bàn bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
Làm giả vé xổ để tham gia lĩnh thưởng bị phạt tới 100 triệu đồng
Đối với hành vi vi phạm quy định về in vé xổ số, phát hành vé, Nghị định quy định phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với cá nhân có hành vi cạo sửa, tẩy xóa vé xổ số dưới mọi hình thức để tham gia dự thưởng và lĩnh thưởng.
Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với cá nhân có hành vi làm giả vé xổ số dưới mọi hình thức để tham gia dự thưởng và lĩnh thưởng.
Ngoài ra, Nghị định cũng quy định phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đối với cá nhân không đủ điều kiện tham gia dự thưởng xổ số mua vé xổ số để dự thưởng.
Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với các nhân có hành vi sử dụng vốn và tài sản của nhà nước để tham gia mua vé xổ số.
Vi phạm bí mật thông tin của khách hàng trúng thưởng bị phạt tới 60 triệu đồng
Đối với hành vi vi phạm quy định về trả thưởng, Nghị định quy định phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với tổ chức có hành vi trả thưởng cho những vé xổ số không đáp ứng đủ điều kiện trả thưởng theo quy định của pháp luật.
Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau của tổ chức:
- Cố tình kéo dài thời gian trả thưởng cho khách hàng trúng thưởng;
- Tổ chức tiêu hủy vé xổ số trúng thưởng đã trả thưởng nhưng lưu trữ chưa đủ thời gian quy định.
Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với tổ chức có hành vi vi phạm bí mật thông tin trả thưởng của khách hàng trúng thưởng.
Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với tổ chức có hành vi ủy quyền trả thưởng cho đại lý vượt quá giá trị giải thưởng được phép ủy quyền.
Vi phạm về phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực kinh doanh xổ số bị phạt tới 200 triệu đồng
Nghị định quy định doanh nghiệp kinh doanh xổ số thực hiện hành vi bị cấm trong phòng, chống rửa tiền, phòng, chống tài trợ khủng bố thì bị xử phạt như sau:
Phạt tiền từ 130.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với hành vi thiết lập hoặc duy trì tài khoản vô danh hoặc tài khoản sử dụng tên giả; cung cấp trái phép dịch vụ nhận tiền mặt, séc, công cụ tiền tệ khác và thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng;
Phạt tiền từ 160.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức, tham gia hoặc tạo điều kiện thực hiện hành vi rửa tiền; cản trở việc cung cấp thông tin phục vụ công tác phòng, chống rửa tiền, phòng, chống tài trợ khủng bố nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự; không tố giác hành vi tài trợ khủng bố mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự; trực tiếp hoặc gián tiếp cung cấp tiền, tài sản, nguồn tài chính, nguồn lực kinh tế, dịch vụ tài chính hoặc dịch vụ khác cho tổ chức, cá nhân liên quan đến khủng bố, tài trợ khủng bố mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự;
Phạt tiền từ 160.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với hành vi không áp dụng biện pháp trì hoãn giao dịch, không báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền, phòng, chống tài trợ khủng bố, phòng, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; không thực hiện phong tỏa tiền, tài khoản, niêm phong hoặc tạm giữ tài sản theo quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền, phòng, chống tài trợ khủng bố, phòng, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Nghị định trên có hiệu lực từ ngày 30/11/2026.
Sửa đổi, bổ sung Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược nợ công đến năm 2030
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định số 1989/QĐ-TTg ngày 15/10/2026 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 460/QĐ-TTg ngày 14/4/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược nợ công đến năm 2030.
Cụ thể, Quyết định số 1989/QĐ-TTg sửa đổi điểm a khoản 1 Điều 1 Quyết định số 460/QĐ-TTg ngày 14/4/2022 về quan điểm xây dựng và thực hiện Chiến lược như sau:
"a) Bám sát, cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm đề ra tại Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18 tháng 11 năm 2016 của Bộ Chính trị về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững; Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; Kết luận số 18-KL/TW ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Trung ương và các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công giai đoạn 2026 - 2030. Công tác quản lý nợ công luôn bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, chỉ chi trong khả năng của nền kinh tế và chỉ vay trong khả năng trả nợ, vay nợ phải bảo đảm an ninh tài chính quốc gia. Nợ công tiếp tục là đòn bẩy cho phát triển kinh tế - xã hội, tạo động lực tăng trưởng bền vững. Trong huy động vốn, tiếp tục thực hiện nguyên tắc nguồn vay trong nước là cơ bản, quyết định, kết hợp chặt chẽ, hiệu quả với nguồn vay nước ngoài là quan trọng."
Mục tiêu của Chiến lược trong giai đoạn 2026 - 2030
Đồng thời, Quyết định số 1989/QĐ-TTg sửa đổi điểm b khoản 3 Điều 1 quy định về mục tiêu của Chiến lược trong giai đoạn 2026 - 2030 như sau:
"b) Giai đoạn 2026 - 2030
Kiểm soát bội chi ngân sách nhà nước theo mức được Quốc hội phê duyệt trong dự toán ngân sách nhà nước và kế hoạch tài chính quốc gia và vay, trả nợ công 5 năm giai đoạn 2026 - 2030; bảo đảm các chỉ tiêu an toàn nợ công trong giới hạn được Quốc hội phê duyệt, trong đó:
- Nợ công hằng năm không quá 60% GDP, nợ Chính phủ hằng năm không quá 50% GDP.
- Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ không quá 25% tổng thu ngân sách nhà nước.
- Nợ nước ngoài hằng năm của quốc gia không quá 50% GDP."
Quản lý chặt chẽ việc vay, trả nợ của chính quyền địa phương
Quyết định số 1989/QĐ-TTg cũng sửa đổi điểm c, điểm d và điểm đ khoản 4 Điều 1 về định hướng huy động và sử dụng vốn vay như sau:
"c) Thực hiện việc vay vốn ODA, vay ưu đãi nước ngoài gắn với khả năng trả nợ trong dài hạn; ưu tiên cho các dự án hạ tầng then chốt và các lĩnh vực có khả năng lan tỏa cao; lựa chọn nguồn vốn và điều kiện vay phù hợp, bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn vay.
d) Quản lý chặt chẽ việc vay, trả nợ của chính quyền địa phương, bảo đảm trong hạn mức dư nợ theo quy định của pháp luật; bố trí trả nợ đầy đủ, đúng hạn và tăng cường chủ động quản lý rủi ro từ hoạt động vay của địa phương.
đ) Kiểm soát chặt chẽ nghĩa vụ nợ dự phòng, việc đảm bảo nguồn trả nợ được Chính phủ bảo lãnh; quản lý các khoản bảo lãnh, đảm bảo đúng quy định, hiệu quả trong phạm vi hạn mức bảo lãnh, tập trung ưu tiên nguồn vốn để bảo lãnh cho các chương trình, dự án trọng điểm quốc gia, được Quốc hội, Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đầu tư. Kiểm soát hạn mức bảo lãnh Chính phủ hằng năm trong phạm vi hạn mức bảo lãnh Chính phủ 5 năm đã được Quốc hội quyết định; tốc độ tăng dư nợ bảo lãnh Chính phủ và việc quyết định hạn mức trong trường hợp vượt tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc nội của năm trước thực hiện theo khoản 4 Điều 24 Luật Quản lý nợ công. Lựa chọn một số công trình phát triển cơ sở hạ tầng có tính chất lan tỏa, có khả năng tạo nguồn thu trả nợ để Chính phủ cho vay lại từ nguồn vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài."
Cùng đó, Quyết định số 1989/QĐ-TTg bổ sung điểm b vào sau điểm a khoản 4 Điều 1 theo hướng tập trung đầu tư vào các chương trình, dự án trọng điểm nhằm khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, dàn trải, kéo dài như sau:
"b) Tập trung đầu tư cho các Chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án quan trọng quốc gia, các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, các chương trình, dự án theo Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV, các dự án trọng điểm, có sức lan tỏa cao, có ý nghĩa thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, tạo đột phá thu hút vốn đầu tư theo phương thức đối tác công tư. Khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, dàn trải, kéo dài."
Theo đó, Quyết định số 1989/QĐ-TTg đổi ký hiệu các điểm b, c, d, đ và e hiện hành tại khoản 4 Điều 1 Quyết định số 460/QĐ-TTg ngày 14/4/2022 thành các điểm c, d, đ, e và g tương ứng.
Sửa đổi một số nhiệm vụ và giải pháp của Chiến lược
Quyết định số 1989/QĐ-TTg cũng sửa đổi một số điểm thuộc khoản 5 Điều 1 về nhiệm vụ và giải pháp của Chiến lược.
Cụ thể, Quyết định số 1989/QĐ-TTg sửa đổi điểm a khoản 5 Điều 1 về nhiệm vụ hoàn thiện thể chế chính sách và công cụ quản lý nợ giai đoạn 2026 - 2030 như sau:
"- Giai đoạn 2026 - 2030:
+ Tổ chức triển khai đồng bộ, hiệu quả Luật Quản lý nợ công đã được sửa đổi, bổ sung và các văn bản quy định chi tiết; tiếp tục rà soát, hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về quản lý nợ công, bảo đảm đồng bộ với pháp luật về ngân sách nhà nước, đầu tư công và pháp luật có liên quan;
+ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan tiếp tục nâng cao chất lượng thống kê, cơ sở dữ liệu về nợ nước ngoài tự vay, tự trả; tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu xây dựng định hướng đổi mới khung chính sách quản lý nợ nước ngoài của doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh phù hợp với điều kiện kinh tế, bảo đảm an toàn nợ quốc gia, trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định."
Quyết định số 1989/QĐ-TTg sửa đổi ba gạch đầu dòng đầu tiên tại điểm b khoản 5 Điều 1 về thực hiện các công cụ, biện pháp quản lý nợ hiện đại thành hai gạch đầu dòng như sau:
"- Quản lý nợ công thống nhất, chủ động, an toàn, bền vững. Chính phủ điều hành các chỉ tiêu rủi ro danh mục nợ Chính phủ theo thông lệ quốc tế và bối cảnh của Việt Nam. Đa dạng hóa việc huy động phù hợp với thị trường và yêu cầu huy động nguồn lực ngân sách nhà nước. Gắn kết chặt chẽ quản lý ngân sách nhà nước và nợ công với quản lý ngân quỹ nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các nguồn lực tài chính của Nhà nước, bảo đảm thanh khoản của Chính phủ tại mọi thời điểm.
- Chủ động điều hành linh hoạt về công cụ, hình thức, kỳ hạn, thời điểm và khối lượng vay trong năm, gắn với công tác quản lý ngân quỹ, giảm áp lực huy động vốn cho ngân sách nhà nước, đáp ứng nhu cầu huy động và dự phòng cho thời điểm thị trường không thuận lợi, bảo đảm an toàn nợ công và thanh khoản của thị trường trái phiếu Chính phủ."
Phấn đấu đưa Việt Nam sớm trở thành quốc gia có xếp hạng tín nhiệm quốc gia ở mức Đầu tư
Quyết định số 1989/QĐ-TTg cũng sửa đổi gạch đầu dòng đầu tiên tại điểm d khoản 5 Điều 1 về giải pháp tiếp tục tăng cường công khai, minh bạch về huy động, quản lý và sử dụng nợ công, nâng cao định mức tín nhiệm quốc gia như sau:
"- Phấn đấu đưa Việt Nam sớm trở thành quốc gia có xếp hạng tín nhiệm quốc gia ở mức Đầu tư; tiếp tục triển khai hiệu quả Đề án Cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia tới năm 2030.
Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng, Trưởng Ban Chỉ đạo điều hành giá tại cuộc họp Ban Chỉ đạo điều hành giá về kết quả công tác quản lý, điều hành giá Quý III và 9 tháng đầu năm 2026; định hướng công tác điều hành giá 3 tháng còn lại của năm 2026
Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo số 528/TB-VPCP ngày 15/10/2026 kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng, Trưởng Ban Chỉ đạo điều hành giá tại cuộc họp Ban Chỉ đạo điều hành giá về kết quả công tác quản lý, điều hành giá Quý III và 9 tháng đầu năm 2026; định hướng công tác điều hành giá 3 tháng còn lại của năm 2026.
Thông báo kết luận nêu rõ, trong 03 tháng cuối năm 2026, tình hình kinh tế thế giới bất lợi và khó lường, đối mặt với nhiều yếu tố rủi ro, tiếp tục tác động đến thị trường trong nước và tạo áp lực lên công tác kiểm soát lạm phát.
Trước bối cảnh đó, từ nay đến cuối năm, Phó Thủ tướng yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ, chủ động, linh hoạt, đồng bộ và hiệu quả trong công tác điều hành chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, đồng thời tạo dư địa hỗ trợ tăng trưởng và nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc từ bên ngoài; đồng thời, cần tiếp tục chủ động theo dõi sát diễn biến kinh tế trong nước và quốc tế, triển khai kịp thời, quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp.
Xử lý nghiêm các hành vi đầu cơ, găm hàng, thao túng giá
Trong đó, Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, cơ quan, địa phương điều hành giá các hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá theo lộ trình phù hợp, đánh giá kỹ tác động lên chỉ số CPI, bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu thực hiện lộ trình thị trường, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ phục hồi sản xuất kinh doanh.
Tăng cường kiểm tra, giám sát việc kê khai và niêm yết giá đối với ngành, lĩnh vực theo dõi, nhất là đối với các mặt hàng thiết yếu; xử lý nghiêm các hành vi đầu cơ, găm hàng, thao túng giá nhằm mục đích trục lợi bất hợp pháp, lợi dụng thiên tai bão lũ, mùa cao điểm lễ Tết để tự ý nâng giá bán. Yêu cầu doanh nghiệp kịp thời giảm giá bán tương ứng khi chi phí nguyên vật liệu đầu vào giảm để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Chỉ đạo thực hiện nghiêm quy định công khai các khoản thu, chi đầu năm học, không để phát sinh các khoản thu ngoài danh mục quy định.
Đồng thời, đẩy mạnh truyền thông, cung cấp thông tin kịp thời, minh bạch về các chủ trương điều hành giá của Chính phủ và biến động giá mặt hàng thiết yếu. Qua đó định hướng dư luận, ổn định tâm lý người tiêu dùng và doanh nghiệp, kiểm soát lạm phát kỳ vọng. Tăng cường công tác phổ biến, tập huấn các quy định mới về giá; chủ động và khẩn trương triển khai công tác tiếp nhận kê khai giá để kịp thời thu thập dữ liệu phục vụ cho công tác tổng hợp, phân tích, dự báo thị trường.
Ưu tiên tập trung vốn cho sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa; theo dõi sát diễn biến tỷ giá, lãi suất, tín dụng, cung tiền và dòng vốn quốc tế để chủ động các giải pháp hạn chế tác động của lạm phát nhập khẩu; điều tiết tăng trưởng tín dụng hợp lý, ưu tiên tập trung vốn cho sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên.
Bộ Tài chính tiếp tục triển khai hiệu quả các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí còn phù hợp nhằm giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp và hỗ trợ đời sống người dân; tham mưu, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, ban hành Công điện của Thủ tướng Chính phủ về công tác quản lý, điều hành và bình ổn giá những tháng cuối năm; nghiên cứu báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét việc giao chỉ tiêu kiểm soát chỉ số giá tiêu dùng cho các địa phương từ năm 2027.
Bảo đảm cân đối cung cầu các mặt hàng chiến lược trong mọi tình huống
Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Công Thương theo dõi sát diễn biến giá xăng dầu, khí hóa lỏng, than, điện và các loại năng lượng trên thị trường trong nước và thế giới. Điều hành giá xăng dầu trong nước theo quy định, bám sát diễn biến giá thế giới và bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và duy trì nguồn cung. Chỉ đạo các doanh nghiệp đầu mối bảo đảm nguồn cung xăng dầu cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng; không để xảy ra tình trạng đứt gãy nguồn cung hoặc găm hàng chờ tăng giá.
Chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan điều hòa cung cầu hàng hóa thiết yếu trên phạm vi cả nước, bảo đảm cân đối cung cầu các mặt hàng chiến lược trong mọi tình huống. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc kê khai giá, niêm yết giá đối với các mặt hàng thuộc phạm vi quản lý.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo dõi sát diễn biến sản xuất, cung cầu và giá cả các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu. Chủ động các phương án bảo đảm nguồn cung thực phẩm trong mọi tình huống, không để xảy ra thiếu hụt nguồn cung cục bộ gây biến động giá bất thường. Đẩy mạnh công tác phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi; thúc đẩy tái đàn, mở rộng sản xuất đối với các mặt hàng có nguy cơ thiếu hụt nguồn cung. Theo dõi, quản lý giá thức ăn chăn nuôi, phân bón, vật tư nông nghiệp; chủ động tham mưu các giải pháp ổn định nguồn cung và giá cả.
Chủ động phối hợp với Bộ Công Thương và các địa phương điều hòa nguồn cung giữa các vùng, điều tiết hợp lý giữa nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu đối với các mặt hàng nông sản chiến lược.
Xây dựng lộ trình điều chỉnh giá dịch vụ y tế phù hợp với khả năng chi trả của người dân
Bộ Y tế theo dõi chặt chẽ diễn biến giá thuốc, vật tư y tế, hóa chất xét nghiệm, thiết bị y tế và dịch vụ khám chữa bệnh; bảo đảm đầy đủ nguồn cung thuốc, vật tư y tế phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh của người dân với giá hợp lý. Xây dựng lộ trình điều chỉnh giá dịch vụ y tế phù hợp với khả năng chi trả của người dân và góp phần kiểm soát lạm phát. Tăng cường kiểm tra hoạt động kê khai giá, niêm yết giá thuốc, vật tư y tế; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về giá.
Bộ Xây dựng chủ trì theo dõi, đánh giá diễn biến giá vật liệu xây dựng, giá nhà ở, bất động sản và chi phí xây dựng; chủ động đề xuất các giải pháp bình ổn thị trường. Chỉ đạo các địa phương kịp thời cập nhật, công bố giá vật liệu xây dựng, chỉ số giá xây dựng sát với diễn biến thị trường; xử lý kịp thời tình trạng đầu cơ, găm hàng hoặc thao túng giá vật liệu xây dựng.
Phối hợp với các cơ quan liên quan tăng cường kiểm tra việc kê khai, niêm yết giá cước vận tải. Yêu cầu các doanh nghiệp vận tải thực hiện điều chỉnh giảm giá cước tương ứng khi chi phí nhiên liệu giảm; xử lý nghiêm các trường hợp chậm điều chỉnh hoặc lợi dụng biến động giá xăng dầu để tăng giá cước bất hợp lý.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo các cơ quan chức năng theo dõi sát cung cầu, giá cả các mặt hàng thiết yếu; chủ động triển khai chương trình bình ổn thị trường và phương án bảo đảm cung ứng hàng hóa trong mùa mưa bão, thiên tai, các tình huống khẩn cấp và đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu dùng cuối năm.
Đối với các địa phương có chỉ số CPI tăng cao hơn mức tăng CPI bình quân chung của cả nước, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với cơ quan Thống kê và các cơ quan chức năng tập trung phân tích, đánh giá chuyên sâu các yếu tố hình thành giá và nguyên nhân biến động của các nhóm mặt hàng có chỉ số giá tăng cao; trên cơ sở thẩm quyền quản lý nhà nước về giá tại địa phương, kịp thời có biện pháp quản lý, điều hành giá trọng điểm, hiệu quả, phù hợp với diễn biến thị trường và tình hình kinh tế - xã hội tại địa phương nhằm đảm bảo ổn định mặt bằng giá, góp phần kiểm soát lạm phát, hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội./.