• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 12/10/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 12/10/2026.

12/10/2026 19:25

Tăng cường công tác thi hành án dân sự trong tình hình mới 

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu vừa ký Chỉ thị số 36/CT-TTg ngày 12/10/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác thi hành án dân sự trong tình hình mới.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 12/10/2026- Ảnh 1.

Tăng cường công tác thi hành án dân sự trong tình hình mới

Chỉ thị nêu rõ, sau hơn 9 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 06/02/2017 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác thi hành án dân sự, nhận thức, trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương đối với công tác thi hành án dân sự tiếp tục được nâng lên; cơ chế phối hợp trong tổ chức thi hành án ngày càng chặt chẽ, hiệu quả.

Tuy nhiên, công tác thi hành án dân sự vẫn còn một số tồn tại, hạn chế và điểm nghẽn cần tập trung xử lý. Việc xử lý tài sản để thi hành án, nhất là các tài sản kê biên trong các vụ án tham nhũng, kinh tế; tài sản bảo đảm trong các vụ án tín dụng, ngân hàng còn gặp nhiều khó khăn. Nhiều tài sản có vướng mắc về pháp lý, quy hoạch, hiện trạng không phù hợp hồ sơ hoặc có tranh chấp; nhiều dự án được kê biên nhưng chưa hoàn thành thủ tục đầu tư, xây dựng, chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính, thuế...

Tổng hợp các vướng mắc phát sinh từ thực tiễn thi hành án để kịp thời sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật

Để tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thi hành án dân sự; bảo đảm các bản án, quyết định của Tòa án được chấp hành nghiêm minh, đúng pháp luật; nâng cao trách nhiệm phối hợp, trách nhiệm của người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương trong việc phối hợp để tổ chức thi hành án dân sự; đồng thời bảo vệ quyền sở hữu, quyền tài sản, đẩy nhanh xử lý tài sản, khơi thông nguồn lực, góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và phát triển kinh tế - xã hội, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tổ chức triển khai thi hành hiệu quả Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Bộ Tư pháp tiếp tục rà soát, hoàn thiện đồng bộ thể chế; chủ động phối hợp với các bộ, ngành có liên quan để tổng hợp, đánh giá các khó khăn, vướng mắc, bất cập của pháp luật phát sinh trong thực tiễn thi hành án, tập trung vào pháp luật đất đai, đầu tư, doanh nghiệp, pháp luật về hình sự, dân sự liên quan đến việc xử lý tài sản là đất đai, dự án, tài sản bảo đảm, tài sản trong các vụ án lớn, xử lý đối với pháp nhân không chấp hành án. Trên cơ sở đó, tổng hợp các vướng mắc phát sinh từ thực tiễn thi hành án kịp thời đề xuất cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật, bảo đảm thống nhất, khả thi trong tổ chức thi hành án.

Tăng cường quản lý nhà nước về thi hành án dân sự; nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính. Chủ động rà soát toàn bộ Quy trình tổ chức thi hành án từ tiếp nhận bản án, ra quyết định thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế, kê biên, thẩm định giá, đấu giá, giao tài sản... để chuẩn hóa Quy trình nghiệp vụ theo quy định của Luật Thi hành án dân sự (THADS) năm 2025, phù hợp với mô hình cơ quan thi hành án dân sự một cấp tại địa phương, bảo đảm vận hành thông suốt.

Đồng thời, chuyển mạnh từ theo dõi kết quả chung sang quản trị tiến độ đối với từng vụ việc, tài sản và nguồn tiền có giá trị lớn; hoàn thiện bộ chỉ số quản trị phục vụ chỉ đạo, điều hành, trong đó, xây dựng cơ chế cảnh báo đối với hồ sơ chậm xác minh, chậm kê biên, chậm xử lý tài sản hoặc chậm xử lý tiền thi hành án... để có chỉ đạo kịp thời.

Nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế

Bộ Tư pháp chỉ đạo Hệ thống thi hành án dân sự tập trung tổ chức thi hành dứt điểm các vụ việc có điều kiện thi hành; nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế. Xây dựng tiêu chí để phân loại các vụ việc trọng điểm, phức tạp, kéo dài; xác định nguyên nhân, giao rõ đơn vị, cá nhân xử lý và thời hạn hoàn thành. Định kỳ 6 tháng tổng hợp, lập danh sách các vụ việc theo tiêu chí đã xác định để chỉ đạo, giải quyết, đồng thời, gửi danh sách cho Ủy ban nhân dân, Ban Chỉ đạo Thi hành án dân sự cấp tỉnh để chỉ đạo. Đối với những vướng mắc vượt thẩm quyền, những vụ việc đặc biệt lớn, ảnh hưởng đến thu hồi tài sản hoặc quyền lợi của nhiều tổ chức, cá nhân; ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội thì kịp thời tổng hợp, báo cáo hoặc đề xuất cơ chế xử lý đặc biệt, báo cáo Chính phủ để báo cáo cấp có thẩm quyền.

Tăng cường kiểm tra, kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; kịp thời phát hiện, tổng hợp, kiến nghị xử lý trường hợp định giá tài sản không sát giá trị thực tế, thông đồng, dìm giá hoặc có nguy cơ gây thất thoát tài sản, nhằm phòng ngừa vi phạm, thất thoát, lãng phí trong thi hành án dân sự.

Chỉ đạo cơ quan thi hành án dân sự tăng cường rà soát, xử lý đối với đương sự có hành vi hoặc dấu hiệu che giấu, chuyển dịch, tẩu tán tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án; trường hợp có đủ căn cứ thì chuyển, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.

Ngăn chặn việc tẩu tán, che giấu, hủy hoại tài sản tại giai đoạn điều tra

Bộ Công an chỉ đạo Công an đơn vị, địa phương trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao thực hiện các biện pháp xác minh, truy tìm tài sản; áp dụng kịp thời các biện pháp nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, che giấu, hủy hoại tài sản tại giai đoạn điều tra; chỉ đạo Cơ quan điều tra xác định rõ nguồn gốc, phần sở hữu của bị can khi kê biên tài sản, đặc biệt là các vụ án tham nhũng, kinh tế.

Chỉ đạo cơ quan Công an các cấp phối hợp chặt chẽ với cơ quan thi hành án dân sự tổ chức bảo vệ trật tự, an toàn xã hội trong toàn bộ quá trình tổ chức thi hành án đối với trường hợp có sự chống đối, cản trở việc thi hành án; rà soát các vụ việc thi hành án dân sự đã có Kế hoạch cưỡng chế, nhưng chưa bố trí được lực lượng bảo vệ cưỡng chế dẫn đến việc chậm cưỡng chế, bàn giao tài sản để kịp thời có phương án bảo vệ bảo đảm tiến độ tổ chức thi hành án; phối hợp tốt với các cơ quan liên quan xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến việc cản trở, chống đối thi hành án theo quy định của pháp luật; phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong việc tiếp nhận, quản lý, xử lý vật chứng đúng thời hạn.

Bộ Công an chỉ đạo trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong việc thông báo, cung cấp thông tin, chuyển giao giấy tờ, tiền, tài sản, thu, trả tiền, tài sản liên quan đến phạm nhân là người phải thi hành án, người được thi hành án.

Phối hợp với Bộ Tư pháp kết nối, chia sẻ, khai thác thông tin, dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công an theo quy định của pháp luật phục vụ việc khai thác thông tin về đương sự, xác minh điều kiện thi hành án; phối hợp triển khai định danh điện tử, tích hợp, cung cấp các dịch vụ trực tuyến phục vụ công tác thi hành án dân sự, trong đó có dịch vụ "Nộp tiền thi hành án" và 3 dịch vụ công trực tuyến "tạm ứng án phí, lệ phí", "Đơn yêu cầu thi hành án" và "Xác nhận kết quả thi hành án" qua ứng dụng VNelD theo quy định của pháp luật.

Kịp thời cung cấp thông tin về tài khoản, tiền gửi, tài sản khác của người phải thi hành án

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành án. Chỉ đạo, hướng dẫn các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện chặt chẽ khâu thẩm định tài sản bảo đảm trong hoạt động cấp tín dụng; kịp thời cung cấp thông tin về tài khoản, tiền gửi, tài sản khác của người phải thi hành án và hồ sơ, tài liệu liên quan theo yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự; thực hiện nghiêm các quyết định phong tỏa tài khoản, khấu trừ tiền trong tài khoản theo quy định của pháp luật; tăng cường phối hợp trong xử lý tài sản bảo đảm và xử lý các hành vi vi phạm theo thẩm quyền.

Phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc phát động các đợt thi đua cao điểm đối với việc tổ chức thi hành án tín dụng ngân hàng, biểu dương, khen thưởng theo thẩm quyền hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền khen thưởng đối với các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác phối hợp thi hành án dân sự, nhằm nâng cao trách nhiệm và hiệu quả phối hợp trong xử lý các vụ việc liên quan đến hoạt động tín dụng, ngân hàng theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng.

Định kỳ rà soát danh mục vụ việc trọng điểm, phức tạp, kéo dài, xác định rõ nguyên nhân, giải pháp thực hiện

Ủy ban nhân dân, Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp và các bộ, ngành có liên quan, phát huy vai trò của Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự trong chỉ đạo, điều hòa, phối hợp giải quyết kịp thời khó khăn, vướng mắc, nhất là đối với vụ việc lớn, phức tạp, kéo dài hoặc liên quan nhiều cơ quan, tổ chức. Định kỳ hằng quý, Ban Chỉ đạo rà soát danh mục vụ việc, tài sản có giá trị lớn, trọng điểm, phức tạp, kéo dài trên địa bàn; xác định rõ nguyên nhân, giải pháp thực hiện, tham mưu, đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự chỉ đạo, phân công thành viên Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự, cơ quan, cá nhân có liên quan thực hiện, có thời hạn hoàn thành. Khắc phục tình trạng chậm phối hợp, đùn đẩy hoặc né tránh trách nhiệm. Kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền những khó khăn, vướng mắc và đề xuất phương án xử lý.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Tư pháp rà soát khó khăn, vướng mắc trong thực hiện trình tự, thủ tục về đăng ký đất đai đối với tài sản đã được bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật tuyên xử lý, công nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng; tài sản bán đấu giá thi hành án; tài sản được giao, nhận để trừ vào tiền thi hành án theo hướng đơn giản hóa, rút ngắn thời gian thực hiện đối với thủ tục thuộc thẩm quyền; tổng hợp, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, hoàn thiện quy định đối với những nội dung vượt thẩm quyền.

Ban hành Chỉ số bảo đảm an ninh mạng

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc vừa ký Quyết định số 1964/QĐ-TTg ngày 12/10/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Chỉ số bảo đảm an ninh mạng.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 12/10/2026- Ảnh 2.

Chỉ số bảo đảm an ninh mạng gồm 03 nhóm tiêu chí và 29 tiêu chí thành phần

Giai đoạn 2027 - 2028: Triển khai thử nghiệm, đánh giá, cập nhật, điều chỉnh Chỉ số gồm 03 nhóm tiêu chí với 29 tiêu chí thành phần. Nội dung chi tiết, nguyên tắc, cấu trúc chỉ số, quy trình tính toán, thang đánh giá của Chỉ số được thực hiện dựa trên 07 Phụ lục kèm theo Quyết định này.

Cụ thể, về cấu trúc tổng thể Chỉ số, Quyết định nêu rõ: Chỉ số bao gồm 03 nhóm tiêu chí và 29 tiêu chí thành phần, trong đó, Nhóm I - Nhóm tiêu chí đánh giá chung và Nhóm II - Nhóm tiêu chí đánh giá đặc thù được dùng để tính toán Chỉ số, Nhóm III - Nhóm tiêu chí phục vụ chỉ đạo, điều hành không dùng để tính toán Chỉ số.

Nhóm I - Nhóm tiêu chí đánh giá chung (áp dụng đối với mọi hệ thống thông tin, chủ quản hệ thống thông tin) gồm 2 tiêu chí thành phần: 1- Đáp ứng hồ sơ đề xuất cấp độ; 2- Đáp ứng phương án bảo đảm an ninh mạng theo cấp độ.

Nhóm II - Nhóm tiêu chí đánh giá đặc thù (áp dụng đối vói hệ thống thông tin cấp độ 3 trở lên, chủ quản hệ thống thông tin cấp độ 3 trở lên) gồm 18 tiêu chí thành phần: 1- Quản lý rủi ro an ninh mạng; 2- Quản lý tài sản phần cứng; 3- Quản lý tài sản phần mềm; 4- Quản lý tài sản thông tin; 5- Cấu hình an toàn cho phần cứng và phần mềm; 6- Quản lý tài khoản và quyền truy cập tài khoản của người dùng; 7- Quản lý lỗ hổng bảo mật; 8- Quản lý nhật ký an ninh mạng; 9- Bảo vệ cho trình duyệt web, dịch vụ thư điện tử; 10- Phòng chống phần mềm độc hại; 11- Sao lưu và khôi phục dữ liệu; 12- Quản lý hạ tầng mạng; 13- Giám sát phòng thủ an ninh mạng; 14- Nhân sự vận hành, quản trị hệ thống, bảo vệ an ninh mạng; 15- Quản lý nhà cung cấp sản phẩm, dịch vụ; 16- Phát triển ứng dụng an toàn; 17- Quản trị ứng phó sự cố an ninh mạng; 18- Quản lý kiểm tra an ninh mạng.

Nhóm III - Nhóm tiêu chí phục vụ chỉ đạo, điều hành (áp dụng đối với mọi hệ thống thông tin, chủ quản hệ thống thông tin) gồm 9 tiêu chí thành phần: 1- Tỷ lệ biện pháp xử lý rủi ro được thực hiện đúng hạn theo kế hoạch (%); 2- Tỷ lệ sự cố an ninh mạng được kiểm soát và xử lý kịp thời trên tổng số lượng sự cố an ninh mạng (%); 3- Số lượng sự cố an ninh mạng nghiêm trọng xảy ra (số vụ); 4- Số bản ghi dữ liệu cá nhân của công dân bị lộ lọt (số bản ghi); 5- Số Gigabyte dữ liệu bị lộ lọt (GB); 6- Số Gigabyte dữ liệu bị mất, mã hoá (GB); 7- Số vụ lộ bí mật nhà nước trên không gian mạng do sự cố an ninh mạng gây ra (vụ); 8- Số đầu tài liệu bí mật nhà nước bị đăng tải, truyền đưa trên không gian mạng do sự cố an ninh mạng gây ra (tài liệu); 9- Thiệt hại tài chính do các sự cố an ninh mạng gây ra trên tổng ngân sách chi cho công tác bảo đảm an ninh mạng (%).

Trong quá trình triển khai thử nghiệm, các nội dung quy định tại Phụ lục được cập nhật, hiệu chỉnh nhằm bảo đảm tính khả thi và phù hợp với thực tiễn trước khi áp dụng chính thức.

Quyết định cũng nêu rõ: Việc sơ kết giai đoạn triển khai thử nghiệm được thực hiện trong Quý II năm 2028. Kết quả đánh giá trong giai đoạn triển khai thử nghiệm này được cơ quan thường trực sử dụng làm cơ sở thực tiễn để rà soát, hoàn thiện Chỉ số, không tổng hợp làm căn cứ xét thi đua, khen thưởng hoặc đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (các bộ, cơ quan, địa phương).

Trên cơ sở kết quả sơ kết giai đoạn triển khai thử nghiệm, cơ quan thường trực báo cáo, đề xuất Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc áp dụng chính thức Chỉ số cho giai đoạn 2029 - 2030 và định hướng các năm tiếp theo, bảo đảm phù hợp với xu hướng công nghệ mới và yêu cầu quản trị an ninh mạng quốc gia.

Phạm vi triển khai thí điểm

Quyết định nêu rõ, trong giai đoạn 2027 - 2028, các bộ, cơ quan, địa phương tổ chức đánh giá thí điểm Chỉ số trên cơ sở áp dụng cấu trúc, nguyên tắc và phương pháp của Chỉ số nêu tại các Phụ lục kèm theo Quyết định này. Cơ quan, tổ chức khác có nhu cầu có thể nghiên cứu, tham khảo để tự tổ chức đánh giá.

Hồ sơ đề xuất cấp độ hệ thống thông tin đã được phê duyệt trước ngày Quyết định này có hiệu lực thi hành (12/10/2026) tiếp tục được sử dụng làm căn cứ đánh giá Chỉ số cho đến khi được rà soát, điều chỉnh hoặc phê duyệt lại theo quy định.

Việc đánh giá Chỉ số trong giai đoạn thí điểm được thực hiện theo hướng dẫn của cơ quan thường trực, trên cơ sở số liệu, kết quả triển khai thực tế và hồ sơ, tài liệu minh chứng của kỳ đánh giá tương ứng.

Xử lý kết quả đánh giá

Kết quả đánh giá Chỉ số được bảo mật, quản lý, sử dụng theo quy định; bảo đảm tuân thủ quy định pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước đối với các nội dung có chứa bí mật nhà nước. Trường hợp công bố đối với kết quả đánh giá chính thức (từ năm 2029 trở đi), nội dung công bố gồm điểm số và mức xếp loại của cơ quan, tổ chức.

Đối với kết quả đánh giá thử nghiệm (giai đoạn 2027 - 2028): Kết quả giai đoạn này là cơ sở thực tiễn để rà soát, hoàn thiện cấu trúc, tiêu chí và phương pháp tính toán của Chỉ số.

Đối với kết quả đánh giá chính thức (từ năm 2029 trở đi): Kết quả đánh giá được tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ và tổ chức công bố, xếp hạng định kỳ theo quy định trước tháng 5 hằng năm; làm căn cứ quan trọng trong công tác quản lý nhà nước, phục vụ hoạch định chính sách vĩ mô, chiến lược về an ninh mạng quốc gia. Kết quả đánh giá chính thức có thể được sử dụng làm một trong các thông tin tham khảo phục vụ công tác đánh giá cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và quy định khác có liên quan.

Bộ Công an là cơ quan thường trực theo dõi, đánh giá, tổng hợp kết quả đánh giá Chỉ số hằng năm

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công an là cơ quan thường trực theo dõi, đánh giá, tổng hợp kết quả đánh giá Chỉ số hằng năm; chủ trì, phối hợp Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Quốc phòng và các bộ, cơ quan, địa phương đề xuất điều chỉnh Chỉ số; sơ kết, tổng kết việc triển khai thử nghiệm; xem xét, điều chỉnh đối với các nhóm tiêu chí, tiêu chí thành phần để phù hợp với tình hình thực tiễn; hướng dẫn việc áp dụng Chỉ số, phương pháp đánh giá, phạm vi và thời điểm thu thập dữ liệu đánh giá, việc áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và các vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện Chỉ số; nghiên cứu, xây dựng công cụ hỗ trợ đánh giá tự động, xây dựng hệ thống thông tin phục vụ việc chấm điểm, tổng hợp, báo cáo, thống kê kết quả đánh giá hằng năm.

Các bộ, cơ quan, địa phương tổ chức đánh giá đối với các hệ thống thông tin thuộc phạm vi quản lý, bao gồm hệ thống thông tin của các đơn vị trực thuộc; xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp để theo dõi, thống kê, tổng hợp số liệu các chỉ tiêu, đảm bảo cập nhật thường xuyên, liên tục, đầy đủ, chính xác và báo cáo về cơ quan thường trực để tổng hợp, đánh giá theo thời hạn do cơ quan thường trực hướng dẫn; tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ để hình thành hệ thống dữ liệu đầy đủ, hỗ trợ cho việc triển khai đánh giá Chỉ số.

Công an tỉnh, thành phố là đầu mối tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố tổ chức triển khai thực hiện Quyết định này; phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc theo dõi, tổng hợp, báo cáo kết quả đánh giá theo quy định.

Miễn thị thực cho công dân nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa mang hộ chiếu phổ thông có giá trị của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đi du lịch theo đoàn đến Việt Nam trong Năm hợp tác du lịch Việt Nam - Trung Quốc 2026 - 2027

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Phan Văn Giang vừa ký Nghị quyết số 325/NQ-CP ngày 12/10/2026 về việc miễn thị thực cho công dân nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa mang hộ chiếu phổ thông có giá trị của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đi du lịch theo đoàn đến Việt Nam trong Năm hợp tác du lịch Việt Nam - Trung Quốc 2026 - 2027.

Theo đó, thí điểm áp dụng miễn thị thực cho công dân nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa mang hộ chiếu phổ thông có giá trị của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (không bao gồm người mang hộ chiếu Đặc khu hành chính Hồng Kông, Ma Cao) (gọi là "công dân Trung Quốc mang hộ chiếu phổ thông") theo quy định của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, với mục đích du lịch theo đoàn (từ 02 người trở lên) đến Việt Nam theo chương trình du lịch trọn gói do doanh nghiệp lữ hành quốc tế của Việt Nam tổ chức trong Năm hợp tác du lịch Việt Nam - Trung Quốc 2026 - 2027 và:

- Địa điểm và phạm vi du lịch là tỉnh Khánh Hòa;

- Cửa khẩu nhập cảnh, xuất cảnh: Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh. Nhập cảnh và xuất cảnh qua cùng một cửa khẩu;

- Bay thẳng từ Trung Quốc đại lục đến cảng hàng không quốc tế Cam Ranh.

Chính sách miễn thị thực được thực hiện đến hết ngày 31/12/2027

Nghị quyết số 325/NQ-CP nêu rõ: Chính sách miễn thị thực khi nhập cảnh Việt Nam cho công dân Trung Quốc mang hộ chiếu phổ thông được thực hiện kể từ ngày Nghị quyết này được ký ban hành (12/10/2026) đến hết ngày 31/12/2027.

Chính phủ giao Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì xây dựng văn bản hướng dẫn quy trình, cách thức triển khai và thực hiện chương trình miễn thị thực cho công dân Trung Quốc mang hộ chiếu phổ thông đi du lịch theo đoàn đến Việt Nam theo chương trình du lịch trọn gói với thời gian không quá 30 ngày do doanh nghiệp lữ hành quốc tế của Việt Nam tổ chức trong Năm hợp tác du lịch Việt Nam-Trung Quốc 2026 - 2027, bao gồm việc lựa chọn, quản lý doanh nghiệp lữ hành quốc tế của Việt Nam (tiêu chí, nguyên tắc lựa chọn và quản lý doanh nghiệp lữ hành), phối hợp với địa phương thực hiện và quản lý khách du lịch hiệu quả; chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao đẩy mạnh công tác tuyên truyền để chính sách đạt hiệu quả cao nhất.

Bộ Công an chủ trì hướng dẫn thủ tục nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú để thực hiện miễn thị thực cho công dân Trung Quốc mang hộ chiếu phổ thông đi du lịch theo đoàn đến Việt Nam theo chương trình du lịch trọn gói do doanh nghiệp lữ hành quốc tế của Việt Nam tổ chức trong Năm hợp tác du lịch Việt Nam-Trung Quốc 2026 - 2027.

Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu tại cuộc họp về tình hình, tiến độ thực hiện tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 522/TB-VPCP ngày 12/10/2026 kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu tại cuộc họp về tình hình, tiến độ thực hiện tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL).

Tại Thông báo, Phó Thủ tướng cơ bản thống nhất với nội dung báo cáo của Bộ Tư pháp về các kết quả sơ bộ đã đạt được trong thời gian vừa qua, các nhiệm vụ trong thời gian tới cũng như các đề xuất, kiến nghị của Bộ Tư pháp và các Bộ, cơ quan.

Tuy nhiên, theo báo cáo và kết quả các đoàn kiểm tra, thẩm định của Bộ Tư pháp cũng như các ý kiến phát biểu tại cuộc họp, quá trình nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống VBQPPL còn nhiều tồn tại, hạn chế, cần nghiêm túc rút kinh nghiệm và có biện pháp khắc phục.

Phó Thủ tướng nhận định, kết quả rà soát chủ yếu tập trung thực hiện thống kê, kiểm đếm, xác định số lượng văn bản mâu thuẫn, bất cập trong từng văn bản và đối với từng Bộ, ngành, địa phương, chưa làm rõ được những điểm nghẽn pháp lý có tính hệ thống, liên ngành gây cản trở sự phát triển, để khơi thông nguồn lực phục vụ tăng trưởng 02 con số.

Việc phối hợp, xác định trách nhiệm và đề xuất phương án xử lý các khó khăn, vướng mắc phát sinh từ sự giao thoa của nhiều lĩnh vực pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu, chưa bảo đảm đồng bộ, dẫn tới tình trạng các quy định riêng lẻ không mâu thuẫn nhưng khi áp dụng đồng thời lại gây ách tắc cho các hoạt động kinh tế - xã hội.

Kết quả rà soát của một số Bộ, ngành, địa phương: (i) Chưa phân tích sâu nguyên nhân, tác động từ thực tiễn, chưa đề xuất cụ thể phương án, lộ trình xử lý; (ii) Một số chủ trương, định hướng lớn của Đảng chưa được rà soát, đánh giá về mức độ thể chế hóa đầy đủ và kịp thời; (iii) Việc tham vấn ý kiến của người dân, doanh nghiệp, chuyên gia, nhà khoa học và rà soát, đối chiếu với thực tiễn tổ chức thi hành pháp luật chưa đầy đủ, chưa thực chất; (iv) Chưa đánh giá đầy đủ tác động của chính sách, các quy định hiện hành.

Tháo gỡ điểm nghẽn để khơi thông nguồn lực

Phó Thủ tướng lưu ý nghiêm túc rút kinh nghiệm khi một số lãnh đạo Bộ, cơ quan là thành viên Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống VBQPPL không tham dự họp, việc cử cán bộ họp thay chưa đúng thành phần và chưa được sự đồng ý của người chủ trì là chưa đúng Quy chế làm việc của Ban Chỉ đạo, chưa quan tâm đúng mức việc chỉ đạo tổ chức hoạt động tổng rà soát thuộc phạm vi quản lý. Công tác hoàn thiện thể chế, xây dựng pháp luật là nhiệm vụ trọng tâm và trách nhiệm của người đứng đầu các Bộ, ngành, địa phương. Do đó, đề nghị các đồng chí Bộ trưởng, trưởng ngành, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tổng rà soát hệ thống VBQPPL, chịu trách nhiệm trước Bộ Chính trị, Chính phủ và cấp có thẩm quyền nếu sau tổng rà soát vẫn để sót những vướng mắc, điểm nghẽn pháp lý đã tồn tại, có đủ cơ sở nhận diện nhưng không chủ động phát hiện, kiến nghị xử lý; trong quá trình tổng hợp, báo cáo, Bộ Tư pháp phải xác định đây là một nguyên tắc quan trọng cần quán triệt để báo cáo Bộ Chính trị và Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống VBQPPL.

Phó Thủ tướng khẳng định kết quả tổng rà soát hệ thống VBQPPL không chỉ thực hiện kiểm đếm số lượng VBQPPL cần sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ mà mục tiêu quan trọng nhất là xác định rõ ràng, cụ thể những điểm nghẽn của hệ thống pháp luật đang cản trở phát triển và phương án xử lý từng điểm nghẽn, cần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để khơi thông nguồn lực, tạo môi trường pháp lý thông thoáng, đồng bộ, thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững.

Phải rà soát toàn diện, tổng thể các quy định cản trở sự phát triển

Để bảo đảm đạt được mục tiêu đã đề ra của nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống VBQPPL, Phó Thủ tướng yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương bám sát yêu cầu trọng tâm của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, đồng chí Chủ tịch Quốc hội – Trưởng Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống VBQPPL và Thủ tướng Chính phủ đặt ra đối với nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống VBQPPL tại Thông báo số 07-TB/BCĐTW ngày 06 tháng 10 năm 2026 của Thường trực Ban chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thi hành pháp luật.

Trên cơ sở kết quả tổng rà soát hệ thống VBQPPL đã có, các Bộ, ngành và địa phương không chỉ tập trung vào các mâu thuẫn, chồng chéo lớn giữa các luật mà phải nhận diện, phân tích chuyên sâu những vấn đề, điểm nghẽn pháp lý có tính hệ thống, liên ngành, gây tác động lớn đến sự phát triển, trong đó không chỉ rà soát pháp luật thuộc phạm vi quản lý của bộ, ngành, địa phương mình mà rà soát toàn diện, tổng thể các quy định liên quan cản trở sự phát triển của ngành mình; chú trọng rà soát, xác định các chủ trương, quy định của Đảng chưa được thể chế hoá đầy đủ, kịp thời; đánh giá được sự cần thiết của các chính sách, tác động của việc thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ đối với hệ thống pháp luật.

Ưu tiên rà soát, xử lý các điểm nghẽn cản trở hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh, vận hành chính quyền địa phương 2 cấp...

Đồng thời, phân tích rõ nguyên nhân, đề xuất đầy đủ, cụ thể phương án, lộ trình xử lý theo thẩm quyền, bảo đảm bám sát Định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, Chương trình Lập pháp năm 2027 và các dự án Luật đang trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI để bảo đảm tính thống nhất, tháo gỡ các điểm nghẽn ngay tại các dự án Luật này; chủ động xây dựng các VBQPPL hướng dẫn thi hành, trong đó: cập nhật, đề xuất xử lý ngay các khó khăn, vướng mắc tại các dự án luật đã được đưa vào Chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, bổ sung việc sửa đổi các luật chưa có trong Chương trình Lập pháp năm 2027, phấn đấu trong năm 2027 sẽ cơ bản xử lý các vướng mắc trong các quy định của pháp luật.

Ưu tiên rà soát, xử lý các điểm nghẽn cụ thể cản trở hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh, vận hành chính quyền địa phương 2 cấp và việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp; tập trung rà soát các nhóm vấn đề mà Bộ Tư pháp đã bước đầu nhận diện nêu tại phụ lục của các báo cáo và những nhóm vấn đề được Văn phòng Chính phủ đề xuất, đồng thời, chủ động nhận diện các vấn đề khác trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, gửi về Bộ Tư pháp tổng hợp.

Xử lý đồng bộ các vướng mắc có tính liên ngành

Xử lý đồng bộ các vướng mắc có tính liên ngành, bảo đảm không xảy ra tình trạng mỗi cơ quan xử lý một công đoạn nhưng vẫn làm ách tắc công việc, tiến độ; chủ động phối hợp, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền tháo gỡ đến cùng các vướng mắc, điểm nghẽn liên quan đến bộ, ngành, địa phương mình, bảo đảm kiến nghị, sửa đổi các quy định pháp luật và tổ chức thực hiện đúng thẩm quyền.

Xác định rõ những quy định còn bất cập, tác động, nguyên nhân và phương án xử lý tại các đề xuất, kiến nghị; đồng thời, đối chiếu với phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp và tình hình thực tiễn, bảo đảm xử lý thống nhất, phù hợp, trong đó: (i) Khẩn trương đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới theo thẩm quyền những khoảng trống pháp lý, vướng mắc xuất phát từ quy định pháp luật; (ii) Kịp thời có biện pháp chấn chỉnh, khắc phục vướng mắc có nguyên nhân từ quá trình tổ chức thực thi pháp luật.

Tiếp tục chú trọng tổ chức các hoạt động trao đổi, lấy ý kiến chuyên sâu đối với kết quả tổng rà soát hệ thống VBQPPL thuộc phạm vi phụ trách của cơ quan, địa phương mình; tiếp thu đầy đủ các ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp; khắc phục triệt để các tồn tại, hạn chế của kết quả tổng rà soát hệ thống VBQPPL đã được Chính phủ, Ban Chỉ đạo chỉ ra trong giai đoạn vừa qua.

Đối với việc rà soát, đề xuất xử lý những vấn đề có tính chất liên ngành, liên lĩnh vực giữa các cơ quan, Phó Thủ tướng yêu cầu các Bộ, ngành, cơ quan có trách nhiệm: (i) Tổng hợp đầy đủ, đúng thời hạn các nội dung, quy định pháp luật có tính chất hệ thống, liên ngành, gửi Bộ Tư pháp trong ngày 12 tháng 10 năm 2026; (ii) Tích cực, chủ động phối hợp và tham mưu phương án xử lý đối với các nội dung thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước, phụ trách và VBQPPL do mình chủ trì xây dựng hoặc tham mưu xây dựng; (iii) Khẩn trương hoàn thiện kết quả tổng rà soát sau khi thống nhất được nội dung, phương án xử lý, hoàn thành trước ngày 23 tháng 10 năm 2026.

Bộ Tư pháp có trách nhiệm: (i) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, cơ quan tổng hợp đầy đủ các nội dung, quy định pháp luật có tính hệ thống, liên ngành còn có ý kiến khác nhau giữa các cơ quan; (ii) Phân loại, xác định cơ quan chủ trì, tham mưu xử lý trên cơ sở bám sát chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực quản lý nhà nước của các cơ quan và cơ quan có trách nhiệm chủ trì xây dựng VBQPPL được kiến nghị, trong đó đề xuất giao một cơ quan chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan xử lý; (iii) Tổng hợp, xin ý kiến chỉ đạo của Ban Chỉ đạo, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ đối với vấn đề các cơ quan chưa thống nhất phương án xử lý.

Xử lý các khó khăn về ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo phục vụ tổng rà soát hệ thống VBQPPL

Bên cạnh đó, Phó Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp tục theo dõi, kịp thời hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương để kịp thời xử lý các khó khăn về ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo phục vụ tổng rà soát hệ thống VBQPPL.

Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp tục chỉ đạo Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và các tổ chức thành viên chủ trì tổ chức các hoạt động tham vấn rộng rãi, lấy ý kiến phản ánh, kiến nghị của các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng, các hội viên, chuyên gia... về những bất cập cụ thể trong các VBQPPL; tổ chức các hoạt động cho ý kiến, phản biện đối với kết quả tổng rà soát hệ thống VBQPPL, tổng hợp các ý kiến gửi các Bộ, ngành, địa phương có liên quan để nghiên cứu, hoàn thiện kết quả chính thức về tổng rà soát hệ thống VBQPPL.

Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Chính phủ qua thực tiễn công tác kiểm toán, thanh tra bổ sung các đề xuất, kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật trong các kết luận kiểm toán, thanh tra, gửi Bộ Tư pháp và các cơ quan có thẩm quyền trước ngày 15 tháng 10 năm 2026 để cập nhật, hoàn thiện nội dung báo cáo kết quả tổng rà soát hệ thống VBQPPL.

Tăng cường công tác truyền thông về vai trò, ý nghĩa và kết quả thực hiện tổng rà soát hệ thống VBQPPL

Các cơ quan báo chí ở Trung ương và địa phương, các Bộ, ngành, địa phương tăng cường công tác truyền thông về vai trò, ý nghĩa và kết quả thực hiện tổng rà soát hệ thống VBQPPL nhằm tạo khí thế, quyết tâm chính trị cao nhất, góp phần hoàn thành các mục tiêu của đợt tổng rà soát hệ thống VBQPPL, trong đó khẩn trương xây dựng một số tin bài, phóng sự chuyên sâu mời Lãnh đạo Chính phủ, Lãnh đạo một số cơ quan ở Trung ương và địa phương phát biểu về kết quả sơ bộ tình hình thực hiện tổng rà soát hệ thống VBQPPL và định hướng, yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn chỉnh lý, hoàn thiện kết quả chính thức.

Hoàn thiện cơ sở dữ liệu về tổng rà soát

Bộ Tư pháp - Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tiếp tục tích cực phát huy vai trò của Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo, tập trung cao độ, thường xuyên theo dõi, đôn đốc, hướng dẫn và giải đáp cho các Bộ, cơ quan, địa phương; kịp thời xử lý những khó khăn về dữ liệu, phần mềm hỗ trợ rà soát VBQPPL, hoàn thiện cơ sở dữ liệu về tổng rà soát làm cơ sở để tiếp tục theo dõi, kiểm tra, giám sát kịp thời.

Báo cáo Thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống VBQPPL để có hình thức đôn đốc, nhắc nhở, phê bình các trường hợp chậm tiến độ hoặc không bảo đảm chất lượng của báo cáo kết quả tổng rà soát hệ thống VBQPPL.

Đồng thời, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Ủy ban Pháp luật và Tư pháp và các cơ quan liên quan nghiên cứu, tham mưu triển khai kịp thời ý kiến chỉ đạo kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật tại Phiên họp tháng 9 năm 2026 của Thường trực Ban Chỉ đạo, báo cáo Chủ tịch Quốc hội – Trưởng Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống VBQPPL trước ngày 15 tháng 10 năm 2026.

Tập trung nguồn lực cho ý kiến, thẩm định đối với dự thảo Báo cáo kết quả tổng rà soát hệ thống VBQPPL trước ngày 15 tháng 10 năm 2026 và dự thảo các Báo cáo chuyên đề về kết quả tổng rà soát hệ thống VBQPPL trước ngày 25 tháng 10 năm 2026.

Đồng thời, Bộ Tư pháp phải yêu cầu các bộ, ngành, địa phương hoàn thiện các báo cáo, không tổng hợp nội dung các báo cáo trong trường hợp: (i) Không nghiêm túc thực hiện tiếp thu giải trình ý kiến thẩm định, ý kiến góp ý hoặc việc thực hiện mang tính hình thức, đối phó hoặc (ii) Nội dung báo cáo không bảo đảm chất lượng, các đề xuất, kiến nghị còn chung chung, phương án xử lý không rõ ràng.

Tham mưu xây dựng Báo cáo kết quả tổng rà soát và giải pháp xử lý tổng thể hệ thống VBQPPL của Chính phủ gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cụ thể: (i) Trình Chính phủ để xem xét, gửi Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống VBQPPL cho ý kiến đối với dự thảo Báo cáo trước khi trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước ngày 20 tháng 11 năm 2026; (ii) Trình Chính phủ để xem xét, gửi Báo cáo tới Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước ngày 30 tháng 11 năm 2026.

Chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ và các cơ quan liên quan tổ chức hội nghị trực tiếp kết hợp trực tuyến toàn quốc lấy ý kiến hoàn thiện đối với dự thảo Báo cáo của Chính phủ về kết quả tổng rà soát và giải pháp xử lý tổng thể hệ thống VBQPPL, hoàn thành trước ngày 20 tháng 11 năm 2026./.