In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 17/9/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 17/9/2026.

17/09/2026 18:41
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 17/9/2026- Ảnh 1.

Quản lý các khoản thu từ cơ cấu lại doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập

Quản lý, sử dụng nguồn thu từ cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp, chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng thay mặt Chính phủ ký ban hành Nghị định số 357/2026/NĐ-CP về quản lý, sử dụng nguồn thu từ cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp, chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần.

Nghị định này quy định: 1- Việc quản lý các nguồn thu từ cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp, chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần (khoản thu từ cơ cấu lại doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập); 2- Các khoản chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển theo quy định.

Đối tượng áp dụng

Đối tượng áp dụng gồm:

1- Cơ quan đại diện chủ sở hữu:

a) Các bộ, cơ quan ngang bộ (Cơ quan đại diện chủ sở hữu trung ương).

b) Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh).

2- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ (doanh nghiệp cấp 1):

a) Công ty mẹ của Tập đoàn kinh tế, Công ty mẹ của Tổng công ty nhà nước, Công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con (bao gồm cả ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ).

b) Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên độc lập do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

3- Đơn vị sự nghiệp công lập chuyển thành công ty cổ phần theo quy định của Chính phủ (cổ phần hóa đơn vị sự nghiệp công lập).

4- Doanh nghiệp được chuyển đổi sở hữu từ doanh nghiệp cấp 1, đơn vị sự nghiệp công lập, gồm:

a) Doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp của Nhà nước.

b) Doanh nghiệp đã thoái hết vốn nhà nước.

c) Ngân hàng thương mại cổ phần.

d) Doanh nghiệp đã chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước về Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước - sau đây gọi là SCIC (trong đó có cả các doanh nghiệp SCIC đã thoái hết vốn).

5- Người đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại doanh nghiệp cấp 1. Người đại diện phần vốn nhà nước tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (người đại diện phần vốn nhà nước).

6- Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa đơn vị sự nghiệp công lập.

Nguyên tắc quản lý, sử dụng nguồn thu

Nghị định quy định các khoản thu từ cơ cấu lại doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập phải nộp đầy đủ, kịp thời vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về cổ phần hóa đơn vị sự nghiệp công lập, pháp luật về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp và quy định tại Nghị định này.

Khoản thu từ cơ cấu lại doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc trung ương nộp vào ngân sách trung ương (trong đó có khoản thu từ xử lý các khoản nợ và tài sản loại trừ không tính vào giá trị doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập đã giao cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Mua bán nợ Việt Nam theo quy định của pháp luật về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp, pháp luật về cổ phần hóa đơn vị sự nghiệp công lập).

Khoản thu từ cơ cấu lại doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc địa phương nộp vào ngân sách địa phương.

Cơ quan thuế thực hiện quản lý thu theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, pháp luật về quản lý thuế và quy định tại Nghị định này.

Các khoản thu quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định này được tổng hợp đầy đủ vào ngân sách nhà nước để chi đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và chi đầu tư cho các công trình kết cấu hạ tầng trọng điểm, quan trọng của quốc gia, địa phương theo quy định. Trong đó, được phép sử dụng toàn bộ các khoản thu từ cổ phần hoá, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp để chi đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp mạnh, quy mô lớn, đóng vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế.

Các khoản chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển quy định tại Nghị định này do ngân sách trung ương, ngân sách địa phương đảm bảo đối với các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc trung ương và địa phương theo quy định phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành.

Các khoản thu và thủ tục thu, nộp ngân sách nhà nước từ cơ cấu lại doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập gồm những khoản nào?

Khoản 1 Điều 6 Nghị định này quy định các khoản thu nộp ngân sách nhà nước gồm:

a) Thu từ cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định số 57/2026/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2026 của Chính phủ về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

b) Thu từ cổ phần hóa đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật về cổ phần hóa đơn vị sự nghiệp công lập.

Các khoản chi

Theo quy định, các khoản chi gồm: Các khoản chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển.

Chi thường xuyên:

a) Chi phí cổ phần hóa doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập; chuyển đổi doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Căn cứ quyết toán chi phí cổ phần hóa, chi phí chuyển đổi doanh nghiệp; quyết toán kinh phí hỗ trợ cho người lao động dôi dư, tinh giản biên chế; quyết toán số tiền thu từ cổ phần hóa, chuyển đổi doanh nghiệp và quyết định công bố giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại thời điểm doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu của cơ quan có thẩm quyền và thực tế số tiền đã nộp, Cơ quan đại diện chủ sở hữu trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác định số tiền ngân sách nhà nước chi hỗ trợ, bù đắp, hoàn trả theo quy định của pháp luật về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp, pháp luật về cổ phần hóa đơn vị sự nghiệp công lập; tổng hợp vào dự toán chi ngân sách theo phân cấp; gửi Bộ Tài chính để tổng hợp, báo cáo Chính phủ trình Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước.

b) Chi phí chuyển nhượng vốn nhà nước tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (trong đó có chi phí chuyển nhượng phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khi chuyển đổi doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ theo quy định tại Điều 55 Nghị định số 57/2026/NĐ-CP (nếu có)).

b1) Chi để triển khai chuyển nhượng vốn nhà nước: Căn cứ dự toán chi phí chuyển nhượng vốn nhà nước đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, cơ quan đại diện chủ sở hữu trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổng hợp phần dự toán chi để triển khai chuyển nhượng vốn nhà nước (tối đa 70% tổng dự toán chi phí đã được duyệt) vào dự toán chi ngân sách theo phân cấp; gửi Bộ Tài chính để tổng hợp, báo cáo Chính phủ trình Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước.

b2) Chi bổ sung theo kết quả chuyển nhượng vốn nhà nước:

Căn cứ kết quả chuyển nhượng vốn nhà nước; Cơ quan đại diện chủ sở hữu trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổng hợp dự toán chi bổ sung vào dự toán chi ngân sách theo phân cấp, gửi Bộ Tài chính để tổng hợp, báo cáo Chính phủ trình Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước, cụ thể:

Chi bổ sung phần còn thiếu của chi phí chuyển nhượng vốn nhà nước với số tiền thu từ chuyển nhượng vốn nhà nước và khoản chi để triển khai tại điểm b1 nêu trên (hoặc khoản đã tạm ứng từ Quỹ Hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp (sau đây gọi là Quỹ) trước thời điểm Nghị định số 148/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ về quản lý, sử dụng nguồn thu từ chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập, nguồn thu từ chuyển nhượng vốn nhà nước và chênh lệch vốn chủ sở hữu lớn hơn vốn điều lệ tại doanh nghiệp (sau đây gọi là Nghị định số 148/2021/NĐ-CP) có hiệu lực thi hành);

Chi bổ sung phần còn thiếu của chi phí chuyển nhượng vốn nhà nước đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt với khoản chi để triển khai tại điểm b1 nêu trên (hoặc khoản đã tạm ứng từ Quỹ trước thời điểm Nghị định số 148/2021/NĐ-CP có hiệu lực thi hành) trong trường hợp không phát sinh tiền thu từ chuyển nhượng vốn nhà nước (như chuyển nhượng vốn không thành công hoặc đang triển khai chuyển nhượng vốn nhưng phải dừng/tạm dừng chưa tiếp tục chuyển nhượng vốn theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ).

c) Chi chế độ cho người lao động dôi dư, tinh giản biên chế khi thực hiện hợp nhất, sáp nhập, chia, tách doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ

Căn cứ dự toán chi phí để chi trả chế độ cho người lao động dôi dư, tinh giản biên chế đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, Cơ quan đại diện chủ sở hữu trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổng hợp phần dự toán chi vào dự toán chi ngân sách theo phân cấp; gửi Bộ Tài chính để tổng hợp, báo cáo Chính phủ trình Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước.

d) Chi chế độ cho người lao động dôi dư, tinh giản biên chế khi giải thể doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ

Căn cứ dự toán thu từ việc giải thể công ty; dự toán chi phí giải thể công ty và dự toán kinh phí thanh toán các khoản còn nợ người lao động, các quyền lợi khác của người lao động tại công ty bị giải thể theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 77 Nghị định số 57/2026/NĐ-CP; Hội đồng giải thể xác định kinh phí còn thiếu để chi trả chế độ cho người lao động dôi dư, tinh giản biên chế báo cáo Cơ quan đại diện chủ sở hữu trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổng hợp vào dự toán chi ngân sách theo phân cấp; gửi Bộ Tài chính để tổng hợp, báo cáo Chính phủ trình Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước.

đ) Chi hỗ trợ giải thể công ty nông, lâm nghiệp (trường hợp cơ quan đại diện chủ sở hữu chưa bố trí được kinh phí)

Căn cứ dự toán thu từ việc giải thể công ty, dự toán chi giải thể công ty; Hội đồng giải thể xác định số kinh phí còn thiếu đề nghị ngân sách nhà nước hỗ trợ để đảm bảo giải quyết các tồn tại do mất khả năng thanh toán và chi phí giải thể theo quy định tại Điều 77 Nghị định số 57/2026/NĐ-CP và báo cáo Cơ quan đại diện chủ sở hữu trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổng hợp vào dự toán chi ngân sách theo phân cấp; gửi Bộ Tài chính để tổng hợp, báo cáo Chính phủ trình Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước.

e) Quy trình lập dự toán, tổ chức thực hiện, phương thức thực hiện đối với các nội dung chi thường xuyên thực hiện theo Phụ lục II Nghị định này.

Các khoản chi đầu tư phát triển:

a) Đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp theo quy định tại các Điều 12, Điều 13, Điều 14 và Điều 15 Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

b) Các nhiệm vụ chi đầu tư cho các công trình kết cấu hạ tầng trọng điểm, quan trọng của quốc gia, địa phương theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, pháp luật về đầu tư công.

Bộ Tài chính hướng dẫn khai, nộp ngân sách nhà nước các khoản thu quy định ở trên và hướng dẫn chi ngân sách nhà nước đối với các khoản chi theo quy định trên.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/11/2026.

Chính phủ thông qua dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà thay mặt Chính phủ ký ban hành Nghị quyết số 275/NQ-CP ngày 17/9/2026 về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động.

Theo Nghị quyết số 275/NQ-CP, Chính phủ quyết nghị thông qua dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động như đề nghị của Bộ Nội vụ tại Tờ trình số 10248/TTr-BNV ngày 16/9/2026. Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm toàn diện về nội dung báo cáo, đề xuất.

Bộ Nội vụ tiếp thu đầy đủ ý kiến thành viên Chính phủ, khẩn trương hoàn thiện hồ sơ dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động.

Trên cơ sở đó, Bộ trưởng Bộ Nội vụ thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo quy định.

Bộ Nội vụ chủ động phối hợp chặt chẽ với các cơ quan của Quốc hội trong quá trình thẩm tra, tiếp thu, giải trình ý kiến của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội về dự án Luật nêu trên.

Triển khai Chỉ thị số 17/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về khám sức khỏe cho người dân

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký Công văn số 1129/TTg-KGVX ngày 16/9/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai Chỉ thị số 17/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về khám sức khỏe cho người dân.

Công văn nêu: Thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân và Chỉ thị số 17/CT-TTg ngày 06/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí cho người dân, thời gian qua, các bộ, ngành, địa phương đã tích cực tổ chức triển khai thực hiện; Bộ Y tế, Bộ Tài chính đã ban hành các hướng dẫn về chuyên môn, tài chính, quản lý dữ liệu và nhiều địa phương đã chủ động tổ chức khám, bước đầu đạt kết quả tích cực.

Tuy nhiên, tiến độ triển khai giữa các địa phương còn chưa đồng đều. Việc rà soát, xác định đối tượng, phối hợp, lồng ghép giữa khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí, kiểm tra sức khỏe học sinh, sinh viên, khám bệnh nghề nghiệp, khám sức khỏe cho người lao động, khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế và các hình thức khám sức khỏe khác có nơi chưa thống nhất.

Việc sử dụng, kế thừa kết quả cận lâm sàng đã có, thống kê người đã được khám, phân định nguồn kinh phí và thanh toán còn có nguy cơ trùng lặp, gây lãng phí.

Việc kết nối, liên thông, cập nhật dữ liệu trên Sổ sức khỏe điện tử, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (VNeID) và các cơ sở dữ liệu liên quan còn hạn chế.

Năm 2026 là năm đầu triển khai chính sách khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí cho người dân trên phạm vi rộng; thời gian còn lại không nhiều.

UBND tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm toàn diện về kết quả triển khai khám sức khỏe người dân trên địa bàn

Để thực hiện đúng chủ trương của Nghị quyết số 72-NQ/TW và tiếp tục triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả Chỉ thị số 17/CT-TTg, bảo đảm thực chất, đúng đối tượng, theo nhóm đối tượng và lộ trình ưu tiên, không hình thức, không chạy theo thành tích, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và hoàn thành ở mức cao nhất các mục tiêu đã đề ra, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng Bộ Y tế, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan liên quan, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tập trung chỉ đạo triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp theo chức năng, nhiệm vụ được giao.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm toàn diện về kết quả triển khai trên địa bàn. Đồng thời, khẩn trương rà soát, cập nhật kế hoạch thực hiện đến hết năm 2026 theo từng nhóm đối tượng và lộ trình ưu tiên. Xác định chính xác số người đã được khám, số người chưa được khám, đối tượng cần ưu tiên, năng lực của từng cơ sở y tế và tiến độ thực hiện theo từng tháng; giao nhiệm vụ, chỉ tiêu cụ thể cho từng cơ quan, đơn vị.

Ưu tiên người cao tuổi, người khuyết tật, người thuộc hộ nghèo, cận nghèo, người có công, người mắc bệnh mạn tính, người sống tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, xã đảo, đặc khu và các đối tượng ưu tiên khác theo quy định, bảo đảm không tổ chức dàn trải, không chạy theo tỷ lệ, thành tích.

Bên cạnh đó, tổ chức phối hợp, lồng ghép phù hợp giữa khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí, kiểm tra sức khỏe học sinh, sinh viên, khám bệnh nghề nghiệp, khám sức khỏe cho người lao động, khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế và các hình thức khám sức khỏe khác theo quy định, bảo đảm mỗi người dân được lập kế hoạch khám sức khỏe theo một nhóm đối tượng phù hợp; hạn chế tình trạng người dân được xếp vào nhiều nhóm đối tượng và do các cơ quan khác nhau chịu trách nhiệm tổ chức khám sức khỏe định kỳ.

Thực hiện việc phối hợp, lồng ghép; sử dụng và kế thừa kết quả khám còn giá trị lâm sàng; thống kê, xác định người đã được khám theo hướng dẫn của Bộ Y tế tránh trùng lặp, lãng phí và thanh toán trùng.

Gắn tổ chức khám với quản lý sức khỏe liên tục, toàn diện theo vòng đời

Chủ động bố trí ngân sách địa phương và huy động các nguồn lực hợp pháp theo đúng trách nhiệm, phạm vi chi và phân cấp ngân sách; xác định rõ nguồn kinh phí đối với từng nhóm đối tượng, nội dung khám.

Trường hợp chưa đủ khả năng cân đối ngân sách địa phương, tổng hợp nhu cầu trong dự toán ngân sách và đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét hỗ trợ theo quy định. Thực hiện đúng quy định về giao nhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu, mua sắm, thanh toán, quyết toán, bảo đảm công khai, minh bạch, tiết kiệm, hiệu quả.

Gắn tổ chức khám với quản lý sức khỏe liên tục, toàn diện theo vòng đời; đẩy nhanh tạo lập, cập nhật Sổ sức khỏe điện tử và đồng bộ dữ liệu trên VNeID; bảo đảm dữ liệu đúng, đủ, sạch, sống, có thể tra cứu, sử dụng phục vụ chuyên môn và quản lý.

Tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu khám sức khỏe với dữ liệu khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế, kết quả xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo quy định; ưu tiên hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin tại các cơ sở y tế.

Tăng cường chỉ đạo, đôn đốc cơ quan, doanh nghiệp, người sử dụng lao động trên địa bàn đẩy nhanh tiến độ khám sức khỏe định kỳ, khám bệnh nghề nghiệp cho người lao động theo quy định của pháp luật về lao động và an toàn, vệ sinh lao động; phối hợp với tổ chức công đoàn vận động người lao động tham gia đầy đủ, nhất là tại khu công nghiệp, khu chế xuất và nhóm có nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp cao.

Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, tổ chức liên quan trên địa bàn theo chức năng, nhiệm vụ đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, vận động người dân trên địa bàn chủ động, tích cực tham gia thực hiện chính sách khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí, bảo đảm hiệu quả, tránh lãng phí, bỏ sót đối tượng và theo đúng quy định.

Tăng cường kiểm tra, giám sát tiến độ, chất lượng chuyên môn, quản lý và sử dụng kinh phí; kịp thời chấn chỉnh nơi triển khai chậm, hình thức, không bảo đảm chất lượng; chủ động phát hiện, xử lý nghiêm hành vi vi phạm, thất thoát, lãng phí, tiêu cực, trục lợi chính sách.

Thực hiện báo cáo kết quả hằng tháng về Bộ Y tế, trong đó phản ánh rõ số người đã được khám theo từng nhóm đối tượng, nguồn kinh phí, mức độ cập nhật dữ liệu, khó khăn, vướng mắc và kiến nghị xử lý.

Khẩn trương ban hành hướng dẫn chuyên môn về khám sàng lọc miễn phí

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Y tế theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền khẩn trương xây dựng, ban hành hướng dẫn chuyên môn về khám sàng lọc miễn phí theo nhóm tuổi, yếu tố nguy cơ, mô hình bệnh tật và lộ trình ưu tiên; bảo đảm khoa học, thiết thực, hiệu quả, phù hợp năng lực hệ thống y tế, không để trùng lặp, không tạo thêm thủ tục không cần thiết.

Tiếp tục hướng dẫn, hỗ trợ các địa phương và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, y tế cơ sở nâng cao năng lực tổ chức khám, tư vấn, phát hiện sớm, quản lý yếu tố nguy cơ và bệnh mạn tính sau khám.

Hướng dẫn chuyển tuyến, theo dõi, quản lý sức khỏe đối với trường hợp phát hiện bất thường, bảo đảm việc khám gắn với chăm sóc và quản lý sức khỏe lâu dài.

Bên cạnh đó, chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và các địa phương để chuẩn hóa dữ liệu, quy trình cập nhật dữ liệu và liên thông kết quả khám.

Kết nối Sổ sức khỏe điện tử, VNeID, dữ liệu khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế, kết quả xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh và các cơ sở dữ liệu liên quan.

Đẩy mạnh các giải pháp chuyển đổi số để hạn chế chỉ định, thực hiện lại dịch vụ kỹ thuật không cần thiết.

Đồng thời, chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính chỉ đạo, hướng dẫn các tỉnh, thành phố thực hiện các hình thức giao nhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu theo quy định pháp luật; xử lý dứt điểm các vướng mắc về cơ chế tài chính, giao nhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu.

Chủ trì đánh giá tác động tổng thể đối với khả năng cân đối của Quỹ bảo hiểm y tế và hoàn thiện quy định, lộ trình để Quỹ bảo hiểm y tế chi trả khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc cho một số đối tượng phù hợp mức đóng và khả năng cân đối quỹ.

Chủ trì rà soát, tổng hợp những vấn đề khó khăn liên quan đến cân đối, bố trí nguồn lực từ ngân sách nhà nước gửi Bộ Tài chính tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền theo quy định.

Thường xuyên theo dõi, tổng hợp tiến độ thực hiện, các khó khăn, vướng mắc của các địa phương để xử lý, tháo gỡ theo thẩm quyền; kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền đối với những vấn đề vượt thẩm quyền.

Chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan và các địa phương khẩn trương tổ chức kiểm tra, giám sát việc tổ chức triển khai thực hiện khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí cho người dân.

Đồng bộ, liên thông dữ liệu khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế lên VNeID

Bộ Tài chính theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền phối hợp chặt chẽ với Bộ Y tế trong việc hướng dẫn các tỉnh, thành phố thực hiện các hình thức giao nhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu theo quy định pháp luật.

Kịp thời hướng dẫn tháo gỡ các vướng mắc liên quan đến thanh toán, quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước trong tổ chức khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí (nếu có).

Trên cơ sở tổng hợp và đề xuất của Bộ Y tế, Bộ Tài chính chủ trì báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định việc hỗ trợ ngân sách trung ương đối với địa phương không đủ khả năng cân đối nguồn lực theo đúng quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, chỉ đạo Bảo hiểm xã hội Việt Nam tiếp tục thực hiện việc đồng bộ, liên thông, cập nhật kịp thời dữ liệu khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế của người tham gia bảo hiểm y tế lên VNeID và các nền tảng dùng chung theo quy định.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam phối hợp đối soát dữ liệu để cơ sở khám tra cứu, sử dụng kết quả phù hợp, ngăn ngừa thanh toán trùng, trục lợi; phối hợp với Bộ Y tế đánh giá đầy đủ tác động và khả năng cân đối Quỹ bảo hiểm y tế đối với lộ trình mở rộng phạm vi chi cho khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc.

Vận động Nhân dân tham gia khám sức khỏe theo đúng nhóm đối tượng, lộ trình

Bộ Công an phối hợp chặt chẽ với Bộ Y tế, Bộ Tài chính và các địa phương đẩy nhanh kết nối, đồng bộ, chia sẻ dữ liệu khám sức khỏe, dữ liệu khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế và thông tin sức khỏe của người dân trên VNeID.

Hỗ trợ đối soát theo mã định danh cá nhân để xác định chính xác người đã được khám, hạn chế thống kê trùng; bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân và việc khai thác, sử dụng dữ liệu đúng quy định.

Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế và các địa phương chỉ đạo cơ sở giáo dục thực hiện kiểm tra sức khỏe học sinh, sinh viên và các hoạt động y tế trường học theo đúng quy định.

Đồng thời, phối hợp, lồng ghép kết quả với chương trình khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc tại địa phương, tránh tổ chức khám trùng lặp; bảo đảm kết quả được cập nhật, theo dõi trên Sổ sức khỏe điện tử và phục vụ quản lý sức khỏe học sinh, sinh viên.

Thủ tướng Chính phủ đề nghị Ban Tuyên giáo Trung ương, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội phối hợp với Bộ Y tế, các bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh truyền thông về ý nghĩa, lợi ích của khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc và quản lý sức khỏe; vận động Nhân dân chủ động tham gia theo đúng nhóm đối tượng, lộ trình.

Tăng cường vận động đoàn viên, người lao động tại khu công nghiệp, khu chế xuất, doanh nghiệp và nhóm có nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp thực hiện khám sức khỏe theo quy định; tham gia giám sát việc thực hiện chính sách khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí cho người dân tại cơ sở.

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện các nhiệm vụ nêu trên; chủ động xử lý hoặc kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền đối với những vấn đề vượt thẩm quyền.

Bộ Y tế theo dõi, đôn đốc việc triển khai thực hiện, tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo quy định.

Ban hành Chương trình thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em giai đoạn 2026 – 2030

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 1792/QĐ-TTg ngày 16/9/2026 ban hành Chương trình thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em giai đoạn 2026 - 2030.

Mục tiêu tổng quát của Chương trình nhằm tạo môi trường thuận lợi để thúc đẩy thực hiện quyền tham gia của trẻ em thông qua thay đổi tư duy, phương pháp tiếp cận, lấy trẻ em làm trung tâm; phát huy vai trò và nâng cao nhận thức, năng lực của trẻ em, gia đình, đội ngũ công chức, viên chức làm công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, cơ sở giáo dục, cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, cơ sở trợ giúp xã hội, cộng đồng, mạng lưới cộng tác viên, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; thực hiện các mô hình phù hợp với từng độ tuổi của trẻ em, nhóm đối tượng, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm trẻ em tham gia thực chất, hiệu quả, an toàn, bình đẳng, có trách nhiệm và tác động đến quá trình ra quyết định về các vấn đề về trẻ em hoặc liên quan đến trẻ em và góp phần xây dựng thế hệ công dân Việt Nam mới phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tâm lý, tình cảm, đạo đức và xã hội, ý chí, bản lĩnh tự tin trong quá trình hội nhập và phát triển.

Đến 2030, 100% tỉnh, thành phố xây dựng, triển khai mô hình quyền tham gia của trẻ em do trẻ em khởi xướng

Phấn đấu đến năm 2030, 100% chương trình, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội về trẻ em hoặc liên quan đến trẻ em được tham vấn, lấy ý kiến trẻ em hoặc tổ chức đại diện tiếng nói, nguyện vọng của trẻ em; 100% tỉnh, thành phố xây dựng, hướng dẫn và triển khai mô hình quyền tham gia của trẻ em do trẻ em khởi xướng và thực hiện;

90% trẻ em từ 06 tuổi trở lên được trang bị kiến thức, kỹ năng tham gia phù hợp với độ tuổi và 80% trẻ em được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng trong gia đình, cơ sở giáo dục, cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, cơ sở trợ giúp xã hội; 50% trẻ em từ 11 tuổi trở lên được tham gia ít nhất một mô hình quyền tham gia của trẻ em;

100% người làm công tác trẻ em, cán bộ Đoàn, Đội, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, giáo viên; 70% cha mẹ, người chăm sóc trẻ em được truyền thông, nâng cao năng lực về kiến thức, kỹ năng, phương pháp, mô hình quyền tham gia của trẻ em;

100% ý kiến, nguyện vọng của trẻ em tại Diễn đàn trẻ em quốc gia; Phiên họp giả định Quốc hội trẻ em; ít nhất 70% ý kiến, nguyện vọng của trẻ em tại Hội đồng trẻ em, Diễn đàn trẻ em cấp tỉnh, cấp xã, diễn đàn trẻ em khác được lắng nghe, tiếp nhận, xem xét, giải quyết và phản hồi đầy đủ, kịp thời, khách quan, trung thực.

Phát triển, đa dạng hóa các chương trình, sản phẩm truyền thông về quyền tham gia của trẻ em

Để đạt được các mục tiêu trên, một trong những giải pháp Chương trình đặt ra là nâng cao nhận thức, năng lực về quản lý nhà nước, kiến thức, kỹ năng thực hiện quyền tham gia của trẻ em cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị, gia đình, trẻ em và cá nhân có liên quan.

Trong đó, nghiên cứu, xây dựng và ban hành quy trình, tiêu chuẩn về sự tham gia của trẻ em; thực hiện lấy ý kiến của trẻ em trong quá trình xây dựng và triển khai chương trình, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, quyết định, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội về trẻ em hoặc liên quan đến trẻ em.

Xây dựng, phát triển, đa dạng hóa các chương trình, sản phẩm, tài liệu, hình thức truyền thông về quyền tham gia của trẻ em nhằm nâng cao khả năng tiếp cận thông tin của trẻ em, gia đình, nhà trường và cộng đồng.

Tổ chức triển khai công tác truyền thông, phổ biến kiến thức, kỹ năng, vận động xã hội thúc đẩy sự tham gia của trẻ em vào các vấn đề về trẻ em hoặc liên quan đến trẻ em phù hợp với đặc điểm tâm lý xã hội, văn hóa vùng, miền và từng nhóm đối tượng.

Tổ chức bồi dưỡng, đào tạo, tập huấn, nâng cao nhận thức, năng lực về quản lý nhà nước, kiến thức, kỹ năng cho trẻ em, gia đình, đội ngũ công chức, viên chức làm công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, cơ sở giáo dục, cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, cơ sở trợ giúp xã hội, cộng đồng, mạng lưới cộng tác viên, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; thúc đẩy trẻ em tự thực hiện các sáng kiến, sản phẩm truyền thông của trẻ em.

Nâng cao chất lượng các hoạt động, mô hình có sự tham gia của trẻ em

Bên cạnh đó, Chương trình sẽ duy trì, phát triển, bảo đảm thực chất và nâng cao chất lượng các hoạt động, mô hình có sự tham gia của trẻ em.

Các bộ, ngành, tổ chức, đơn vị, địa phương rà soát, đánh giá để duy trì và nhân rộng một số hoạt động, mô hình có sự tham gia của trẻ em bao gồm: Phiên họp giả định Quốc hội trẻ em; Phiên họp giả định Hội đồng nhân dân trẻ em; Diễn đàn trẻ em; Hội đồng trẻ em; Câu lạc bộ quyền trẻ em; Chương trình, hoạt động do trẻ em khởi xướng và thực hiện.

Đối thoại học đường; nhóm gia đình đồng hành cùng trẻ em để thúc đẩy quyền của trẻ em trong gia đình; tham vấn, thăm dò, lấy ý kiến trẻ em; các hoạt động, mô hình khác.

Tăng cường hợp tác quốc tế về thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em

Tăng cường thông tin, tuyên truyền đối ngoại về chủ trương, chính sách, kết quả và mô hình tốt của Việt Nam trong thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em, nhất là các nỗ lực thực hiện cam kết quốc tế về quyền trẻ em, bảo đảm trẻ em được lắng nghe, tham vấn và phản hồi ý kiến trong quá trình xây dựng, thực hiện chính sách.

Chủ động tham gia, nâng cao vị thế của Việt Nam tại diễn đàn trẻ em quốc tế và khu vực, thực thi hiệu quả các cam kết, điều ước quốc tế về quyền trẻ em nói chung, quyền tham gia của trẻ em nói riêng; huy động, sử dụng hiệu quả nguồn lực hỗ trợ kỹ thuật để thực hiện quyền tham gia của trẻ em.

Quy chế quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng Trục liên thông văn bản quốc gia

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 43/2026/QĐ-TTg ngày 16/9/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng Trục liên thông văn bản quốc gia.

Quy chế này quy định nguyên tắc, quyền hạn, trách nhiệm, phương thức quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng Trục liên thông văn bản quốc gia (Trục liên thông) để kết nối, liên thông gửi, nhận văn bản điện tử, thông điệp dữ liệu phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, điều phối, phối hợp xử lý công việc của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Quy chế này không áp dụng đối với việc gửi, nhận văn bản điện tử, tài liệu, hồ sơ và thông điệp dữ liệu có chứa nội dung thuộc danh mục bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước và pháp luật về cơ yếu.

Đối tượng áp dụng

Đối tượng áp dụng Quy chế gồm:

1- Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan, đơn vị trực thuộc (bộ, ngành, địa phương).

2- Cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc sử dụng ngân sách nhà nước không thuộc đối tượng 1 nêu trên, nếu có nhu cầu và đáp ứng điều kiện tham gia kết nối vào Trục liên thông văn bản quốc gia theo quy định tại Quyết định này.

3- Cơ quan, tổ chức khác không thuộc đối tượng 1,2 nêu trên có nhu cầu sử dụng Trục liên thông văn bản quốc gia.

Chức năng của Trục liên thông

Trục liên thông có chức năng:

- Kết nối, liên thông gửi, nhận văn bản điện tử, thông điệp dữ liệu phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành giữa hệ thống thông tin của các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều 2 Quy chế này;

- Kết nối, liên thông gửi, nhận văn bản điện tử với các hệ thống thông tin khác theo yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;

- Xác thực và ký số trong quá trình truyền nhận, bảo đảm tính toàn vẹn, chống chối bỏ đối với các giao dịch được thực hiện qua Trục liên thông;

- Quản lý đăng ký máy chủ bảo mật của các cơ quan, tổ chức tham gia kết nối vào Trục liên thông;

- Giám sát, theo dõi trạng thái hoạt động của các thành phần trong Trục liên thông; ghi nhận nhật ký giao dịch phục vụ kiểm tra, truy vết và báo cáo thống kê;

- Hỗ trợ thiết lập, quản lý phân vùng kết nối đặc thù trên Trục liên thông đối với nhóm cơ quan, tổ chức có yêu cầu riêng về kết nối, bảo mật theo quyết định của cấp có thẩm quyền (nếu có);

- Quản lý danh mục mã định danh điện tử của các cơ quan, tổ chức trên Trục liên thông, bảo đảm phân biệt, xác định duy nhất đối tượng khi tham gia kết nối, liên thông.

Nguyên tắc quản lý, vận hành và khai thác Trục liên thông

Quyết định nêu rõ việc kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu trên Trục liên thông phải tuân thủ các quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, an ninh mạng, an ninh dữ liệu và công tác văn thư, lưu trữ.

Việc thiết lập kết nối liên thông gửi, nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức, doanh nghiệp phải bảo đảm tự nguyện, bình đẳng, an toàn và tuân thủ chuẩn định dạng dữ liệu quốc gia.

Dữ liệu trao đổi trên Trục liên thông phải bảo đảm tính bảo mật, toàn vẹn và giá trị pháp lý trong quá trình truyền nhận; mọi giao dịch phải được xác thực, lưu vết và có giá trị chống chối bỏ theo quy định của pháp luật.

Trục liên thông bảo đảm khả năng mở rộng kết nối, liên thông với các nền tảng số dùng chung khác nhằm tiếp nhận, luân chuyển văn bản điện tử và thông điệp dữ liệu, phục vụ trực tiếp công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Ưu tiên thực hiện quy trình gửi, nhận văn bản điện tử toàn trình; bảo đảm tính duy nhất, tính xác thực của văn bản luân chuyển qua Trục liên thông; thực hiện lộ trình hạn chế tối đa việc sử dụng văn bản được số hóa từ văn bản giấy bằng thiết bị quét.

Trục liên thông sử dụng thống nhất các danh mục dùng chung và chuẩn cấu trúc dữ liệu trao đổi theo quy định của pháp luật; bảo đảm khả năng kết nối, liên thông gửi, nhận văn bản điện tử và trao đổi thông điệp dữ liệu trong toàn hệ thống chính trị theo phạm vi, thẩm quyền và quy định của pháp luật.

Việc truy cập, khai thác Trục liên thông được thực hiện theo cơ chế phân quyền, bảo đảm an toàn, bảo mật tương ứng với cấp độ của hệ thống thông tin và yêu cầu bảo vệ dữ liệu.

Trục liên thông được vận hành liên tục 24 giờ trong ngày và 07 ngày trong tuần; có phương án bảo đảm hoạt động nhằm bảo đảm tính sẵn sàng, ổn định của dịch vụ.

Điều kiện tham gia kết nối vào Trục liên thông

Các cơ quan, tổ chức thuộc đối tượng áp dụng khi tham gia kết nối vào Trục liên thông phải đáp ứng các điều kiện về: 1- Sử dụng mã định danh trên Trục liên thông để phân biệt, xác định duy nhất khi tham gia kết nối, liên thông theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Quy chế này; 2- Hạ tầng kết nối; 3- Cơ chế kết nối, khai thác dịch vụ tin cậy; 4- Hạ tầng kỹ thuật và phần mềm; 5- Hệ thống thông tin, thiết bị, máy chủ tham gia kết nối phải bảo đảm an ninh mạng và được kiểm tra, đánh giá an ninh mạng theo quy định trước khi kết nối chính thức với Trục liên thông; 6- Có chứng thư chữ ký số cấp cho thiết bị, phần mềm và dịch vụ để phục vụ xác thực và ký số gói tin liên thông trên Máy chủ bảo mật.

Đăng ký và thiết lập kết nối

Cơ quan, tổ chức có nhu cầu kết nối với Trục liên thông gửi yêu cầu kết nối tới Văn phòng Chính phủ, nêu rõ mục đích, phạm vi kết nối và xác nhận đáp ứng đầy đủ các điều kiện tham gia kết nối theo quy định. Văn phòng Chính phủ thông báo kết quả xử lý yêu cầu kết nối cho cơ quan, tổ chức trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận văn bản yêu cầu kết nối; trường hợp không chấp thuận yêu cầu kết nối phải nêu rõ lý do.

Hình thức kết nối gồm:

- Hệ thống quản lý văn bản và điều hành dùng chung của cơ quan, tổ chức kết nối trực tiếp tới Trục liên thông thông qua Máy chủ bảo mật dùng riêng triển khai tại đơn vị;

- Nền tảng LGSP kết nối trực tiếp tới Trục liên thông thông qua Máy chủ bảo mật dùng riêng triển khai tại cơ quan, tổ chức.

Sau khi chuẩn bị đầy đủ các điều kiện bảo đảm, cơ quan, tổ chức có nhu cầu kết nối thực hiện kết nối thử nghiệm tối thiểu 10 ngày làm việc trên môi trường thử nghiệm tách biệt với môi trường vận hành chính thức. Sau khi kết nối thử nghiệm thông suốt, đúng quy định, đơn vị thực hiện đánh giá an ninh mạng theo quy định trước khi kết nối chính thức.

Quản lý và duy trì kết nối

Quyết định quy định cơ quan, tổ chức tham gia kết nối có trách nhiệm duy trì và công khai danh sách các cơ quan, tổ chức đã kết nối và danh sách mã định danh điện tử đang hoạt động trên Trục liên thông bảo đảm thông tin chính xác, đầy đủ, được cập nhật kịp thời và phản ánh đúng hiện trạng đang hoạt động của cơ quan, tổ chức. Danh sách này được quản lý thống nhất, dùng chung trên Trục liên thông và các hệ thống thông tin kết nối với Trục liên thông; cơ quan, tổ chức tham gia kết nối với Trục liên thông bảo đảm việc đồng bộ thông tin mã định danh điện tử đang hoạt động trên Trục liên thông với hệ thống thông tin thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức.

Trong thời hạn tối đa 02 giờ kể từ khi phát hiện sự cố mất kết nối, Đơn vị quản trị, vận hành Trục liên thông có trách nhiệm thông báo cho cơ quan, tổ chức, đơn vị tương ứng qua tin nhắn (SMS) và thư điện tử để kịp thời khắc phục, phối hợp xử lý.

Đơn vị quản trị, vận hành Trục liên thông và các cơ quan, tổ chức tham gia kết nối bố trí đầu mối kỹ thuật thường trực để tiếp nhận, phối hợp xử lý, khắc phục sự cố kịp thời.

Đối với các cơ quan, tổ chức, đơn vị không bảo đảm yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật, đường truyền và an ninh mạng, Văn phòng Chính phủ gửi thông báo yêu cầu khắc phục, nâng cấp. Trường hợp phát sinh sự cố an ninh mạng có nguy cơ ảnh hưởng đến Trục liên thông, Đơn vị quản trị, vận hành Trục liên thông thực hiện ngắt kết nối với cơ quan, tổ chức, đơn vị phát sinh sự cố. Việc kết nối lại chỉ được thực hiện sau khi cơ quan, tổ chức, đơn vị đã hoàn thành việc khắc phục sự cố và được đánh giá bảo đảm an toàn theo quy định.

Trường hợp cơ quan, tổ chức, đơn vị có nhu cầu tạm dừng kết nối, cơ quan, tổ chức, đơn vị phải gửi yêu cầu trên Phân hệ quản trị của Trục liên thông, trong đó nêu rõ lý do và thời gian tạm dừng dự kiến.

Văn bản điện tử thực hiện ký số có giá trị pháp lý như bản gốc văn bản giấy

Văn bản điện tử thực hiện ký số theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử có giá trị pháp lý như bản gốc văn bản giấy, được luân chuyển qua Trục liên thông thay thế cho việc gửi, nhận văn bản giấy (trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác).

Trục liên thông tự động kiểm tra và cảnh báo đối với văn bản chưa được ký số hoặc có chữ ký số không hợp lệ khi gửi, nhận. Văn phòng Chính phủ theo dõi, đôn đốc các cơ quan, tổ chức trong việc ký số các văn bản được gửi, nhận qua Trục liên thông.

Cơ quan, tổ chức gửi, nhận văn bản điện tử qua Trục liên thông có trách nhiệm lưu trữ văn bản điện tử và bảo đảm giá trị pháp lý của văn bản trong suốt quá trình lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ.

Kế hoạch triển khai thi hành Luật Phát triển đô thị

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1796/QĐ-TTg ngày 17/9/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Phát triển đô thị.

Luật Phát triển đô thị đã được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10/2026 (một số cơ chế, chính sách có hiệu lực tại thời điểm khác). Đây là đạo luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của thành phố là đô thị loại đặc biệt nói chung, của Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, của các thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; đồng thời, Luật Phát triển đô thị có các quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh cũng như các tỉnh, thành phố khác.

Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch nhằm xác định cụ thể nội dung công việc, thời hạn, tiến độ hoàn thành và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc tổ chức thi hành Luật Phát triển đô thị.

Xác định trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ, chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương, các cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá trình triển khai thi hành Luật Phát triển đô thị.

Đồng thời, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành và Nhân dân trong việc triển khai thi hành Luật Phát triển đô thị và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, biện pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Phát triển đô thị, văn bản quy phạm pháp luật được ban hành để thực hiện thẩm quyền được giao trong Luật Phát triển đô thị (văn bản thi hành Luật Phát triển đô thị)...

6 Nội dung của Kế hoạch triển khai Luật Phát triển đô thị

Nội dung của Kế hoạch gồm: 1- Tổ chức tuyên truyền, phổ biến Luật Phát triển đô thị và các văn bản thi hành Luật Phát triển đô thị; 2- Tổ chức tập huấn, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về Luật Phát triển đô thị và các văn bản thi hành Luật Phát triển đô thị; 3- Rà soát, lập Danh mục văn bản thi hành Luật Phát triển đô thị; 4- Xây dựng các văn bản thi hành và văn bản quy định nội dung được giao tại Luật Phát triển đô thị; 5- Tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Phát triển đô thị; 6- Chế độ báo cáo và kiểm tra việc tổ chức thi hành Luật Phát triển đô thị.

Tổ chức tuyên truyền, phổ biến Luật Phát triển đô thị

Trong đó, các bộ, ngành, địa phương thực hiện tổ chức tuyên truyền, phổ biến Luật Phát triển đô thị và các văn bản thi hành Luật Phát triển đô thị bằng hình thức đăng tải, cập nhật toàn bộ nội dung văn bản Luật Phát triển đô thị và các văn bản thi hành Luật Phát triển đô thị trên Cổng Pháp luật quốc gia, các Cổng/Trang thông tin điện tử của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Thành phố Hồ Chí Minh, và các tỉnh, thành phố, Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật để cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và Nhân dân dễ dàng tiếp cận, khai thác, sử dụng.

Triển khai các hình thức phổ biến pháp luật phù hợp; biên soạn, đăng tải, phát hành rộng rãi tài liệu phổ biến để cập nhật trên Cổng Pháp luật quốc gia, Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp, Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính, Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phố, Báo Pháp luật Việt Nam và các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình của Thành phố Hồ Chí Minh.

Tổ chức tuyên truyền, phổ biến về mục tiêu xây dựng, các nội dung cơ bản của Luật Phát triển đô thị bằng các hình thức cụ thể; phối hợp với các cơ quan báo chí tổ chức thực hiện các chuyên mục, chương trình, tin, bài phổ biến Luật Phát triển đô thị và các văn bản thi hành Luật Phát triển đô thị.

Các bộ, ngành, địa phương tổ chức tập huấn Luật Phát triển đô thị và các văn bản thi hành Luật Phát triển đô thị; hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, tham vấn, góp ý...

Rà soát, sửa đổi và xây dựng các văn bản thi hành Luật Phát triển đô thị

Thủ tướng Chính phủ phân công một số bộ, ngành, địa phương liên quan xây dựng các văn bản thi hành và văn bản quy định nội dung tại Luật Phát triển đô thị gồm: Văn bản thuộc thẩm quyền của Chính phủ; văn bản thuộc thẩm quyền của chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh; văn bản thuộc thẩm quyền của Bộ, cơ quan ngang Bộ; văn bản thuộc thẩm quyền của tỉnh, thành phố nơi có khu kinh tế đặc biệt; của thành phố khác (nếu có).

Đồng thời, các bộ, ngành, địa phương liên quan tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Phát triển đô thị; thực hiện sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm phù hợp với quy định của Luật Phát triển đô thị.../.